Phẩm 1: Song Yếu
Phần 3
7.
Ðề Bà Ðạt Ða Ðắp Y Không Tương Xứng
Tâm
chưa rời uế trược...
Lời
dạy này được thuyết khi Phật ngụ tại Kỳ Viên, dành cho
buổi lễ thọ y vàng của Ðề-bà-đạt-đa tại Vương Xá.
Vào
dịp hai đệ tử Phật, mỗi người dẫn đầu năm trăm Tỳ-kheo,
từ biệt Phật đi từ Kỳ Viên đến Vương Xá, dân Vương
Xá - nhóm từ hai, ba người hoặc đông hơn - cúng dường theo
nghi thức dâng cúng cho khách tăng.
Một
hôm, Tôn giả Xá-lợi-phất, trong phần hồi hướng công đức
nói: "Này các cư sĩ, có người chính mình bố thí nhưng không
dạy người khác bố thí, người ấy được phước báo giàu
có nhiều đời liên tiếp nhưng không có phước báo về thân
bằng quyến thuộc. Một người khác dạy láng giềng mình
bố thí nhưng chính mình thì không, người ấy có phước báo
về thân bằng quyến thuộc trong nhiều đời nhưng không có
phước báo về tài sản. Người khác tự mình không cho cũng
không dạy người khác bố thí, trong nhiều đời liên tiếp
người ấy không có cơm cháo no bụng mà còn bị cô quạnh
và thiếu thốn. Lại nữa, một người vừa tự mình bố thí
và dạy người khác bố thí, người đó nhiều đời liên
tiếp, trong trăm đời ngàn đời, trong trăm ngàn đời, vừa
được phước báo về tài sản vừa có nhiều thân bằng quyến
thuộc".
Tôn
giả Xá-lợi-phất đã thuyết pháp như thế.
Một
trí giả nghe xong tự nghĩ: "Thưa Ngài, bài thuyết pháp này
thật kỳ diệu, giải thích ý nghĩa của hạnh phúc. Ta phải
tạo công đức đối với hai giác giả này".
Rồi
ông ta mời Trưởng lão đến thọ thực, ông thưa:
-
Bạch Tôn giả, xin Ngài cho tôi được phụng sự, cúng dường
vào ngày mai.
-
Cư sĩ, ông mời bao nhiêu Tỳ-kheo?
-
Ðoàn tùy tùng của Ngài gồm bao nhiêu Tỳ-kheo, thưa Tôn giả?
-
Một ngàn Tỳ-kheo, cư sĩ ạ!
-
Xin dẫn theo toàn thể Tỳ-kheo của Ngài vào ngày mai và cho
tôi được phụng sự, cúng dường vào ngày mai.
Tôn
giả nhận lời.
Rồi
cư sĩ đi khắp đường phố, khuyên những người khác cúng
dường.
-
Các ông, các bà! Tôi đã thỉnh một ngàn vị Tỳ-kheo. Quý
vị có thể dâng vật thực cho bao nhiêu Tỳ-kheo? Quý vị có
khả năng bao nhiêu?
Dân
cư hứa dâng vật thực, mỗi người tùy phương tiện của
mình, họ nói:
-
Chúng tôi sẽ dâng cho mười vị.
-
Chúng tôi sẽ dâng cho hai mươi vị.
-
Chúng tôi sẽ dâng cho một trăm vị.
Cư
sĩ hướng dẫn họ đem vật thực đến một nơi và bảo:
-
Chúng ta hãy gom vật thực tại một chỗ và nấu nướng chung.
Tất cả các ông bà hãy mang đến mè, gạo, bơ, sữa lỏng,
mật và những loại khác.
Bấy
giờ một gia chủ dâng một bộ y vàng ướp hương đáng giá
một trăm ngàn đồng tiền, nói:
-
Nếu những vật thực cúng dường góp lại mà không đủ,
hãy bán bộ y này lấy tiền bù vào chỗ thiếu. Nếu vật
thực đã đủ, các ông bà có thể cúng bộ y này cho bất
cứ vị Tỳ-kheo nào mà quý vị đồng ý.
Vật
thực góp lại đầy đủ theo ý của gia chủ, không còn thiếu
gì nữa. Do đó, cư sĩ nói với những người đàn ông:
-
Này quý ông! Lá y vàng này do một gia chủ cúng, vì mục đích
như đã kể, nay dư thừa. Vậy chúng ta nên dâng cho ai?
Vài
người nói:
-
Chúng ta nên dâng cho Trưởng lão Xá-lợi-phất.
Người
khác lại bảo:
-
Trưởng lão Xá-lợi-phất chỉ tới lui khi mùa xong lúa chín.
Còn Ðề-bà-đạt-đa đến với chúng ta thường xuyên, ngày
mùa cũng như ngày thường, và lúc nào cũng sẵn sàng như cái
bình đựng nước. Chúng ta hãy dâng cúng cho Ngài.
Sau
một hồi lâu bàn cãi, phe đa số hơn được bốn người đã
quyết định dâng y cho Ðề-bà-đạt-đa. Rồi họ dâng cho
Ðề-bà-đạt-đa. Ðề-bà-đạt-đa cắt y ra làm hai, may, nhuộm,
để một phần làm thượng y và phần kia làm hạ y; rồi mặc
y vào khi đi ra. Dân chúng lại bàn tán khi thấy ông đắp y
mới:
-
Y này không tương xứng với Ðề-bà-đạt-đa, mà tương xứng
với Tôn giả Xá-lợi-phất. Ðề-bà-đạt-đa đã đắp với
bộ thượng y và hạ y không tương xứng với ông ta.
Bấy
giờ, có một Tỳ-kheo ở phương xa đi từ Vương Xá đến
Xá-vệ, ông ta đến đảnh lễ đức Phật và bày tỏ niềm
hoan hỉ được gặp Ngài. Ðức Phật hỏi ông về sự phúc
lợi của hai Ðại đệ tử. Vị Tỳ-kheo liền kể cho Ngài
nghe toàn bộ câu chuyện về bộ y từ đầu đến cuối.
Ðức
Phật nói:
-
Này các Tỳ-kheo! Ðây không phải là lần đầu Ðề-bà-đạt-đa
đã đắp bộ y mà ông không xứng đáng. Ở kiếp trước ông
ta cũng đã đắp y không tương xứng.
Nói
xong, Ngài bèn kể câu chuyện sau:
7A.
Thợ Săn và Voi Chúa
Thuở
xưa một lần, khi vua Phạm-ma-đạt (Brahmadatta)
cai trị Ba-la-nại, có một thợ săn voi sinh sống bằng nghề
giết voi, đem ngà, móng, bộ đồ lòng và thịt chặt ra chợ
bán. Bấy giờ trong một khu rừng có hằng ngàn con voi đang
kiếm cỏ. Một hôm, vào rừng chúng gặp một vài vị Phật
Ðộc giác. Kể từ hôm đó, cả lượt đi và về, chúng đều
quỳ gối trước Phật Ðộc giác rồi mới tiến bước tiếp.
Người
thợ săn thấy hành động của bầy voi, ông ta không khỏi
thắc mắc: "Giết bầy thú này thật là khó khăn, lần nào
đến và đi chúng đều đảnh lễ những vị Phật Ðộc giác.
Chúng thấy cái gì mà đảnh lễ vậy kìa?". Ði đến kết
luận rằng đó là vì chiếc y vàng, hắn bèn quyết định:
"Ta cũng phải đắp một y vàng lập tức". Rồi hắn đi đến
cái ao nơi vị Phật Ðộc giác thường đến. Trong khi Ngài
đang tắm, lá y để trên bờ, hắn trộm y của Ngài. Rồi
hắn đi săn, ngồi chờ trên con đường có đàn voi thường
qua lại, với cái giáo trong tay và lá y phủ trên đầu. Ðàn
voi thấy hắn, tưởng là Phật Ðộc giác, dừng lại đảnh
lễ hắn và bước đi. Con voi đến đảnh lễ cuối cùng tức
voi đầu đàn bị giết với một nhát giáo. Lấy xong cặp
ngà với những phần có giá trị khác, chôn xác còn lại xuống
đất, hắn bỏ đi.
Ít
lâu sau, Bồ-tát tái sanh làm voi, sau đó trở thành voi đầu
đàn của đàn voi ấy. Lúc đó, người săn vẫn tiếp tục
mưu chước cũ. Voi chúa nhìn thấy số voi trong bầy sút giảm
liền hỏi:
-
Chúng voi đi đâu mất vậy kìa, bầy chúng ta còn quá ít?
-
Chúng con không biết, thưa Ngài.
Voi
chúa tự nghĩ: "Chúng không thể đi đâu khi không được phép
của ta". Rồi mối nghi hiện ra trong đầu voi: "Cái gã ngồi
ở chỗ nọ với tấm y trùm đầu, hẳn là nguyên nhân gây
ra lộn xộn, ta phải theo dõi hắn".
Rồi
voi đầu đàn để những con voi khác đi trước và chính nó
đi cuối cùng, bước thật chậm. Khi những con voi cuối đảnh
lễ xong và đi qua, gã thợ săn thấy voi chúa đến, lập tức
hắn cuộn y lại và phóng ngọn giáo. Voi chúa đã đề phòng
khi đến gần, nên bước lui tránh mũi giáo. Biết ngay là người
đã giết voi của mình, voi chúa lập tức phóng tới để tóm
hắn. Nhưng gã thợ săn đã nhanh nhẹn nhảy qua và núp sau
một cội cây. Voi chúa dự định sẽ lấy vòi quấn cả gã
thợ săn với cội cây, tóm lấy gã và quật gã xuống đất.
Ngay lúc đó, gã thợ săn nhanh trí chìa tấm y vàng ra cho voi
trông thấy. Thấy lá y, voi khựng lại có vẻ đắn đo: "Nếu
ta tấn công người này, lòng quý trọng mà hàng ngàn chư Phật,
Phật Ðộc giác và A-la-hán đã dành cho ta tất nhiên sẽ mất
hết", voi đành dằn lòng, hỏi thợ săn:
-
Có phải anh đã giết hết những thân quyến kia của ta không?
Thợ
săn trả lời:
-
Vâng, thưa Ngài.
-
Tại sao anh hành động xấu xa thế? Anh đã khoác tấm y dành
cho những vị đã thoát khỏi tham dục, nhưng không xứng hợp
với anh. Khi làm như thế, anh đã phạm tội nặng.
Nói
xong, voi lại khiển trách hắn lần cuối:
Ai
mặc áo ca-sa,
Tâm
chưa rời uế trược,
Không
tự chế, không thực,
Không
xứng áo ca-sa.
Ai
rời bỏ uế trược,
Giới
luật khéo nghiêm trì,
Tự
chế, sống chân thật,
Thật
xứng áo ca-sa
-
Anh đã hành động không xứng đáng.
Con
voi nói như thế.
Khi
đấng đạo sư chấm dứt bài học này, Ngài đồng nhất những
nhân vật trong truyện Bổn Sanh như sau:
-
Người thợ săn lúc ấy là Ðề-bà-đạt-đa, voi chúa đã
quở trách hắn chính là Ta. Này các Tỳ-kheo! Ðây không phải
là lần đầu Ðề-bà-đạt-đa đã khoác tấm y mà hắn không
xứng đáng, hắn đã làm như thế trong kiếp trước rồi.
Nói
xong, Ngài đọc những Pháp Cú sau:
(9)
Ai mặc áo ca-sa,
Tâm
chưa rời uế trược,
Không
tự chế, không thực,
Không
xứng áo ca-sa.
(10)
Ai rời bỏ uế trược,
Giới
luật khéo nghiêm trì,
Tự
chế, sống chân thật,
Thật
xứng áo ca-sa.
8.
Những Ðại Ðệ Tử
Không
chân, tưởng chân thật...
Giáo
lý này được đức Phật thuyết khi Ngài ngụ tại tinh xá
Trúc Lâm, và liên quan đến việc những đại đệ tử Phật
tường trình rằng ngoại đạo Sanjaya
chối từ không đến quy y Phật. Ðầu đuôi câu chuyện như
sau:
8A.
Ðời Sống Của Phật
Bốn
A-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp quá khứ, đấng Ðạo sư
của chúng ta sanh làm một hoàng tử Bà-la-môn trong thành Amaravatì
là Sumedha (Siêu
thuật). Sau khi đã thông đạt mọi xảo thuật, Ngài từ bỏ
di sản lên đến vô số triệu của cha mẹ để lại, xuất
gia, sống đời ẩn sĩ, ngụ trong vùng Himalaya,
và ở đó tự mình thiền định đắc được thần thông.
Một hôm Phật Nhiên Ðăng, đấng Thập lực, rời tinh xá Sadassana đến
thành Ramma, dân
chúng đi trước dọn đường. Sumedha hôm
đó bay trên không, thấy con đường đã được dọn sạch, Sumadha chọn
một đoạn đường chưa sạch, đợi đức Phật đến, lấy
thân mình làm cầu, trải áo bằng da hươu trên bùn, nằm lên
trên và nói: "Xin đừng để đức Phật và Tăng chúng bước
trên bùn, xin Ngài hãy bước trên thân con, để tiếp tục
cuộc hành trình".
Khi
Phật thấy Sumedha,
Ngài nói: "Ông hoàng kia là một vị Phật tương lai. Bốn a-tăng-kỳ
và một trăm ngàn kiếp sau này ông ta sẽ thành Phật tên Cồ-đàm".
Ðó là lời của Phật Nhiên Ðăng thọ ký cho ông hoàng Bà-la-môn Sumedha.
Sau khi Phật Nhiên Ðăng đến những vị Phật sau: Kodanna,
Màngala, Sumana, Revata, Sobhita, Anomadassì, Paduma, Naràda, Padumuttara,
Sumedha, Sujàta, Piyadassì Atthadassì, Dhammadassì Siddhattha, Tissa,
Phussa, Vipassì(Tỳ-bà-thi), Sikhì(Thi-khí), Vessabhù
(Tỳ-xá-phù), Kakusandha (Câu-lưu-tôn), Konàgamana
(Câu-na-hàm-mâu-ni) và Kassapa (Ca
diếp). Lần lượt hai mươi bốn vị Phật ra đời và soi sáng
thế gian. Và từ mỗi vị Phật, ông hoàng Bà-la-môn Sumedha đều
nhận được lời thọ ký sẽ thành Phật. Bấy giờ sau khi Sumedha
đã viên mãn 10 ba-la-mật, 10 ba-la-mật bậc hạ và 10 ba-la-mật
bậc thượng, tất cả là 30 ba-la-mật, Ngài được tái sanh
là thái tử Vessantara và
trong kiếp làm thái tử Vessantara,
Ngài hành các pháp đại thí, hy sinh cả vợ và con làm chấn
động quả đất. Mạng chung, Ngài tái sanh vào cõi trời Ðâu
suất, cũng trong kiếp sống đó, các vị trời của mười
ngàn thế giới tụ họp lại xưng tán Ngài:
Thời
đã đến, hỡi bậc Ðại Lực,
Hãy
giáng sanh thai mẹ đi thôi,
Cứu
nhơn thiên chìm đắm nổi trôi,
Và
khám phá con đường bất tử.
Ngay
sau đó Ngài tư duy năm điều đại quán. Và qua kiếp đó Ngài
sanh vào dòng vua Thích ca, được nuôi dưỡng trong nhung lụa
hoàng gia. Suốt thời gian này, Ngài tận hưởng tuổi xuân
tốt lành, ở ba lâu đài tùy theo mùa trong năm, hưởng thụ
nếp sống huy hoàng đế vương có thể sánh ngang cõi trời.
Thời gian trôi qua, một hôm liên tiếp trong 8 ngày, Ngài đến
khu vườn để giải trí thì gặp ba thiên sứ, đó là một
người già, một người bệnh và một người chết. Trong ba
ngày đó, Ngài trở về hoàng cung lòng chấn động khôn tả.
Vào
ngày thứ tư Ngài gặp một người xuất gia, sống đời tu
sĩ. Một ý tưởng bừng nở trong tâm trí: "Tốt hơn hết,
ta nên từ bỏ thế gian, sống đời tu sĩ".
Ôm
ấp trong đầu ước mơ về đời sống tu hành, Ngài tiếp
tục đến khu vườn, suốt ngày ngồi trên bờ hồ trong hoàng
cung. Khi Ngài ngồi đó, trời Vissakamma đến,
dưới dạng người thợ cạo và mặc vào Ngài y phục quý
giá, trang điểm Ngài với mọi thứ trang sức. Ở đó Ngài
nhận được tin hoàng tử La-hầu-la vừa ra đời. Cảm thấy
lòng thương con mạnh mẽ trỗi dậy, Ngài sáng suốt nhận
định: "Ta phải cắt đứt ngay sự ràng buộc này, nếu không
sẽ lớn mạnh thêm nữa". Chiều đó Ngài trở về hoàng cung, Kisà
Gotamì con gái của bà bác Ngài, đọc câu kệ
sau đây:
Hạnh
phúc thay người mẹ,
Hạnh
phúc thay người cha,
Hạnh
phúc thay người vợ,
Có
người chồng như Ngài.
Kisà
Gotamì
đọc câu kệ trên khiến Ngài phải buột miệng: "Gotamì
đã nói cho ta biết đâu là chân hạnh phúc để tìm"
Rồi
Ngài lấy một chuỗi ngọc gửi tặng cô.
Trở
về cung, khi nằm xuống long sàng. Ngài thấy rõ diện mạo
dơ xấu của những cung nữ đang ngủ. Ghê tởm, Ngài đánh
thức người coi ngựa Xa-nặc, bảo đem ngựa Kiền-trắc đến,
và Ngài cưỡi Kiền-trắc mang theo Xa-nặc làm bạn đồng hành,
có chư thiên mười ngàn cõi giới vây quanh. Ngài ra đi, thực
hiện một cuộc xả ly vĩ đại.
Phi
ngựa đến bờ sông Anomà,
Ngài rời bỏ thế gian và sống đời tu sĩ.
Sống
đời tu sĩ, Ngài tiếp tục đến Vương Xá và đi vào thành
khất thực. Rồi Ngài rút lui vào núi Pandava,
ngồi tu trong hang. Vua nước Ma-kiệt-đà đến nơi dâng vương
quốc cho Ngài nhưng Ngài liền từ chối. Ngài hứa với vua
là sẽ đến thăm vương quốc ngay khi Ngài chứng đạo. Rồi
Ngài đến với Alàrà
và Uddaka. Nhưng
sau khi tu theo giới pháp của hai vị này. Ngài không chứng
được đạo quả (A-la-hán). Sau đó Ngài dấn thân vào cuộc
đại chiến trong sáu năm.
Một
sáng sớm ngày rằm của tháng Visìkhà,
Ngài dùng bát cháo do Sujàtà
dâng cúng, thả cho bát vàng trôi ngược trên sông Ni-liên,
rồi suốt ngày trong rừng Mahàana
(Ðại Lâm) Ngài nhập định vào các tầng thiền. Buổi chiều
Ngài lằng nghe long vương Kàla
tán thán đức hạnh cao quý của Ngài. Ngài bước lên tòa
Bồ-đề, nhận bó cỏ của Sotthiya
dâng, rải ra trước mặt mình và phát lời thệ nguyện: "Ta
sẽ không rời khỏi tòa ngồi này cho đến khi Ta hoàn toàn
dứt tham đắm ngũ dục thế gian và tâm Ta hoàn toàn giải
thoát hết lậu hoặc".
Sau
đó Ngài ngồi quay mặt về hướng đông và chiến thắng Ma
vương trước khi mặt trời lặn. Trong canh một Ngài chứng
Túc mạng minh, canh hai Ngài chứng Thiên nhãn minh, cuối canh
năm Ngài chứng Lậu tận minh, đạt đến Toàn Giác và đắc
Thập lực, Tứ vô ngại biện và tất cả đức hạnh cao thượng,
Ngài ngồi trên tòa Bồ-đề suốt bảy tuần. Vào tuần thứ
tám, Ngài ngồi dưới cội đa của người chăn dê (cây-bồ-đề)
và quán tưởng về sự thậm thâm vi diệu của pháp, cuối
cùng Ngài đâm ra e ngại không có khả năng thuyết pháp độ
sanh.
Ngay
lập tức, Phạm thiên Sahampati
cùng với chư thiên mười ngàn cõi giới trong đó Ðại Phạm
thiên thường đi theo, đến gặp Ngài và thỉnh cầu Ngài thuyết
pháp. Quan sát thế gian với Phật nhãn, Ngài nhận lời thỉnh
cầu của Phạm thiên. Ngài nghĩ tiếp:
-
Ta sẽ thuyết pháp cho ai trước tiên?
Nhìn
quanh thế giới, Ngài thấy Alàra
và Uddaka đã
qua đời, nhưng nhớ lại năm Tỳ-kheo đã từng tận tình phục
vụ mình, Ngài đứng lên và đi đến Kàsipura,
và gặp Upaka trên
đường và nói chuyện với ông ta.
Vào
ngày rằm tháng Aasalha,
Ngài đến Isipatana trong
vườn Lộc Uyển, nơi năm Tỳ-kheo cư ngụ. Năm Tỳ-kheo xưng
hô với Ngài không đúng cách, Ngài dạy họ cách xưng hô đúng.
Rồi Ngài bắt đầu chuyển Pháp luân, ban nước bất tử đến
một trăm tám mươi triệu chư thiên, nhưng trên hết cho Tỳ-kheo Annà-Kondanna (A-nhã
Kiều-trần-như). Sau khi đã chuyển bánh xe pháp, vào ngày thứ
năm của nửa tháng, Ngài độ năm Tỳ-kheo trên, tất cả đều
chứng A-la-hán. Cũng vào ngày ấy, Ngài thấy rằng chàng vọng
tộc trẻ tuổi Yasa đã
đủ nhân duyên xuất gia, và khi Yasa rời
khỏi căn nhà, lòng nhờm tởm những gì đã thấy trong đêm,
Ngài nhìn thấy anh gọi lại:
-
Ðến đây, Yasa!
Và
cho anh xuất gia. Cũng trong đêm đó Ngài độ cho Yasa chứng
quả Dự lưu, và ngày tiếp theo chứng A-la-hán. Sau đó Ngài
độ cho năm mươi bốn bạn hữu của Yasa xuất
gia.
Ngài
gọi họ:
-
Hãy đến đây, Tỳ-kheo!
Họ
liền trở thành Tỳ-kheo, rồi Ngài độ họ chứng A-la-hán.
Vậy
là có sáu mươi mốt A-la-hán trên thế gian. An cư trong mùa
mưa và làm lễ tự tứ xong. Ngài phái sáu mươi Tỳ-kheo đi
khắp nơi:
-
Hãy đi, các Tỳ-kheo! Hãy thuyết giảng!
Còn
chính Ngài đến Uruvelà.
Trên đường đi tại khu rừng Kappàsika,
Ngài thuyết giáo cho ba mươi chàng trai thuộc nhóm Bhaddavaggiyas.
Những người kém nhất trong nhóm chứng Sơ quả (Dự lưu)
và những người ưu việt nhất chứng Tam quả (A-na-hàm). Tất
cả những chàng trai này được nhận vào Tăng đoàn chỉ với
lời gọi "Ðến đây, Tỳ-kheo!" Xong, Ngài phái họ đi khắp
nơi. Ðến Uruvelà,
Ngài thi triển ba ngàn năm trăm phép thần thông và xuất gia
cho Uruvelà-Kassapa, Nadì Kassapa
và Gayà-Kassapa. Ðó là ba anh em Ca-diếp, những vị
khổ hạnh bện tóc, có một ngàn đệ tử. Ngài dạy pháp
cho những vị khổ hạnh này xong, nhận họ vào Tăng đoàn
chỉ với lời nói: "Ðến đây, Tỳ-kheo!" Tại Gayàsìa,
Ngài độ họ chứng quả A-la-hán đi theo, Ngài đến vườn Latthivana
gần thành Vương Xá, định thực hiện lời hứa với vua Bình-sa-vương
(Bimbisàra) nước Ma-kiệt-đà.
"Ðấng
Ðạo sư đã đến!" Người ta kêu vang rân. Nghe tin báo, vua
Bình-sa-vương đã đến cùng rất đông gia trưởng Bà-la-môn
theo hầu, và đức Phật đã hoan hỉ thuyết pháp cho vua, độ
vua và gần hết số Bà-la-môn đó chứng quả dự lưu, và
quy y cho các Bà-la-môn còn lại. Ngày sau Phật lắng nghe vua
trời Ðế thích, dưới dạng một Bà-la-môn trẻ, đến thành
Vương Xá tán thán công đức cao quý của Ngài, sau đó Ngài
vào thành Vương Xá. Thọ thực trong hoàng cung xong, Ngài nhận
lời vua cúng tinh xáVeluvana
(Trúc Lâm) và ngụ ở đấy. Và tại đây, Xá-lợi-phất (Sàriputta),
Mục-kiền-liên (Moggallàna)
đã đến với Ngài
8B.
Cuộc Ðời của Upatissa (Sarìputta ) và Kolita(Moggallaana)
Trước
khi Phật xuất thế, có hai làng Bà-la-môn không xa Vương xá
tên Upatissa và Kolita.
Một
hôm, vợ một người Bà-la-môn tên Rùpasàri
sống ở làng Upatissa biết
mình thọ thai, cũng cùng ngày đó vợ của Bà-la-môn tên Moggalì sống
ở làng Kolita cũng
biết mình thọ thai. Nghe kể rằng trong bảy thế hệ, hai gia
đình ấy đã kết tình thân hữu chặt chẽ và gắn bó mật
thiết với nhau. Họ tổ chức lễ Bảo-thai cho hai bà mẹ có
mang trong ngày đó.
Sau
mười tháng âm lịch, cả hai bà đều hạ sanh. Vào ngày đặt
tên cho hai trẻ, họ đặt tên Upatissa cho
đứa con bà vợ Bà-la-môn Sàri,
vì cậu bé là con của trưởng tộc trong làng Upatissa;
và đứa bé kia, vì là con của trưởng tộc trong làng Kolita nên
được tên là Kolita.
Lớn lên, cả hai trẻ đều tài giỏi hơn ai hết trong mọi
xảo thuật và học thuật. Mỗi khi chàng Upatissa đi
ra sông hay vườn để du ngọan, có năm trăm kiệu vàng hộ
tống, còn Kolita
có năm trăm xe ngựa thuần chủng hộ tống. Hai chàng trai trẻ
mỗi người có năm trăm gia nhân theo hầu.
Bấy
giờ có một cuộc lễ hàng năm tại Vương Xá tên là hội
Ðỉnh Núi. Một cái giường dành cho hai chàng kê ở một nơi,
và hai chàng ngồi chung chứng kiến lễ hội. Ðến dịp cười,
họ cười vang, có dịp khóc, họ khóc thảm thiết, tới lúc
bố thí họ bố thí. Như thế, họ dự hội nhiều ngày. Nhưng
một hôm, tuổi khôn lớn, họ không cười vào những dịp
ngày xưa họ cười, không có giọt nước mắt nào khi gặp
cảnh ngày xưa họ khóc và họ không bố thí khi được yêu
cầu.
Người
ta kể rằng, hai chàng khởi tưởng như sau: "Tại sao chúng
ta lại xem những thứ này? Trước khi một trăm năm trôi qua,
tất cả mọi người này sẽ mất đi và không còn ai trong
thấy họ nữa. Tốt hơn chúng ta nên đi tìm con đường giải
thoát". Họ ôm ấp ý tưởng đó, rồi Kolita bảo Upatissa:
-
Bạn Upatissa! Bạn
có vẻ không hài lòng và không thích thú như ngày trước.
Hơn thế nữa, bạn ưu sầu phiền muộn. Bạn nghĩ gì thế?
-
Bạn Kolita, tôi
cảm thấy chẳng có gì toái ý lâu bền khi ngắm nhìn đám
dân này, những cái này thật hết sức vô ích; tốt hơn tôi
nên đi tìm con đường giải thoát cho chính mình. Nhưng tại
sao bạn cũng phiền muộn?
Kolita
cũng nói thế. Khi Upatissa
khám phá ra Kolita
đồng tâm trạng với mình, anh đi đến quyết định:
-
Cả hai chúng ta đều có một hoài bão cao đẹp. Cả hai chúng
ta cần phải đi tìm con đường giải thoát và cùng nhau rời
bỏ thế gian. Chúng ta sẽ xuất gia với Ðạo sư nào đây?
Lúc
bấy giờ, có một du sĩ khổ hạnh tên Saniaya đến
thành Vương Xá với đông đảo du sĩ khổ hạnh tùy tùng. Upsatissa
và Kolita cùng
nhất trí:
-
Ta sẽ xuất gia và đi tu dưới sự lãnh đạo của Sanjaya.
Rồi
cả hai người bạn đồng giải tán năm trăm người hầu và
ra lệnh cho họ:
-
Hãy lấy kiệu và xe ngựa rồi đi đi!
Với
năm trăm người còn lại, họ cùng nhau xuất gia và đi tu theo Sanjaya.
Từ ngày hai chàng trai trẻ xuất gia và đi tu, Sanjaya đã
tiến tới tuyệt đỉnh của danh lợi. Nhưng trong vài ngày,
sự thông hiểu của họ vượt qua khả năng giảng dạy của Sanjaya.
Do đó, họ thưa với ông:
-
Thưa thầy, đây có phải là toàn thể chân lý mà thầy biết,
hay ngoài ra còn có những gì cao hơn nữa?
-
Ðây là tất cả, các con đã biết hết rồi.
Upatissa
và Kolita
đều băn khoăn: "Nếu như thế, thật vô ích cho chúng ta khi
ở lại làm học trò vị thầy này thêm nữa. Con đường giải
thoát mà chúng ta tìm kiếm khi từ bỏ thế gian, chắc chắn
không thể đạt được từ vị thầy này. Nhưng vùng Diêm-phù-đề
là một xứ to rộng, chúng ta hãy du hành qua thôn xóm, thành
thị, hoàng thành. Chắc chắn chúng ta sẽ tìm được bậc
thầy chỉ dạy chúng ta con đường giải thoát".
Kể
từ hôm đó, bất cứ nơi nào nghe có tu sĩ hay Bà-la-môn uyên
bác, họ đều tìm đến và đàm luận. Những vấn đề Upatissa
và Kolita nêu ra các vị ấy đều không thể trả
lời; nhưng mọi vấn đề các vị ấy hỏi đến, Upatissa
và Kolita đều trả lời trôi chảy.
Cứ
như thế, họ du hành khắp vùng Diêm-phù-đề, rồi họ quay
bước trở về nhà riêng của mình. Trước khi từ giã, Upatissa giao
ước với Kolita:
-
Bạn Kolita, ai
trong chúng ta đạt đến sự bất tử trước xin báo cho người
kia.
Rồi
họ chia tay.
Trong
thời gian hai người bạn sống giao ước như thế, đấng Ðạo
sư sau khi du hành từ nơi này đến nơi khác, như đã kể ở
trên, đến Vương Xá. Ðức Phật đã nhận cúng tinh xá Veluvana
và ở lại đó.
Sau
đó đức Phật đã phái sáu mươi mốt A-la-hán đi rao giảng
công đức của Tam Bảo.
-
Hãy đi, này các Tỳ-kheo! Hãy giảng và dạy!
Một
trong nhóm năm Tỳ-kheo, Ðại Trưởng lão Ác-bệ, quay lại
về Vương Xá, và vào sáng sớm hôm sau, đắp y ôm bát vào
thành khất thực. Cũng trong ngày đó sáng sớm, du sĩ khổ
hạnh Upatissa ăn
sáng xong đi đến khu ẩn dật của những du sĩ khổ hạnh.
Hình dáng Trưởng lão lọt vào mắt Upatissa.
Lòng đầy kinh ngạc pha lẫn thán phục, Upatissa chăm
chú nhìn Trưởng lão:
-
Trước đây ta chưa hề thấy một tu sĩ nào như vị này. Ông
phải là một trong những tu sĩ đã đắc A-la-hán trên thế
gian, nếu không cũng là người đã bước vào con đường đưa
đến Thánh quả A-la-hán, ta hãy thử đến gặp tu sĩ và hỏi
Ngài: "Vì ai, thưa hiền hữu, mà hiền hữu tử bỏ thế gian?
Ai là bậc thầy của hiền hữu? và hiền hữu truyền giáo
pháp của ai?"
Nhưng
chàng dằn lại vì dè dặt, sợ mình quá đường đột:
"Thật
không đúng lúc để hỏi tu sĩ những câu như thế, vì ông
đang đi khất thực từng nhà. Ta có nên theo sát bước của
tu sĩ, như người ta vẫn thường làm để thỉnh cầu ân huệ
một vị nào đó?"
Upatissa bước
theo Trưởng lão Ác-bệ. Trưởng lão đã nhận xong một phần
khuất thực. Trên đường đi tiếp đến một nơi nào đó,
thấy rằng Trưởng lão muốn ngồi xuống, chàng liền đặt
tọa cụ của mình trên đất và dâng cho Trưởng lão. Tu sĩ
thọ thực xong, chàng rót nước trong bình của mình mời Ngài.
Làm xong bổn phận của một đệ tử đối với thầy, và
khi trưởng lão thọ thực xong, chàng lễ độ chào hỏi Trưởng
lão, rồi thưa:
-
Thưa hiền hữu, các căn của Ngài thật thanh tịnh, nước
da của Ngài thật sáng bóng và trong trẻo. Vì ai, thưa hiền
hữu, Ngài đã từ bỏ thế gian? Ai là thầy của Ngài? Và
Ngài truyền bá giáo lý của ai?
Trưởng
lão thầm nghĩ: "Những du sĩ khổ hạnh hay chống đối tôn
giáo ta theo, do đó ta sẽ chỉ cho tu sĩ này sự thậm thâm
của đạo ta".
Nhưng
trước hết Ngài giải thích rằng Ngài chỉ là một sơ cơ.
Ngài nói:
-
Này hiền hữu! Tôi chỉ là một sơ cơ, tôi đi tu chưa bao
lâu, tôi mới đến với Pháp và luật này, ngay bây giờ tôi
không có nhiều lời để thuyết pháp.
Chàng
tu sĩ khổ hạnh thầm nhủ: "Tôi là Upatissa,
xin nói nhiều hay ít theo khả năng của Ngài, tôi nhất quyết
sẽ tìm hiểu ý nghĩa bằng trăm ngàn cách".
Do
đó chàng nói:
Hãy
nói ít hoặc nhiều,
Nhưng
nói điều cốt yếu,
Tôi
chỉ cần cốt yếu,
Sao
phải thốt nhiều lời?
Ðể
trả lời, Trưởng lão dùng ngay dòng đầu của Pháp Cú:
Tất
cả pháp từ nhân duyên sanh,
Nhân
duyên ấy, Như Lai đã chỉ.
Ngay
dòng đầu tiên, chàng du sĩ khổ hạnh đắc quả Dự lưu,
hiểu hết ý nghĩa bằng cả một ngàn cách. Chàng vừa đắc
quả Dự lưu xong, trưởng lão đọc nốt dòng thứ hai:
Và
cũng dạy thế nào chấm dứt.
Ðây,
giáo huấn của Ðại Sa-môn.
Chàng
không chứng được quả vị cao hơn, chàng nghĩ là phải có
một lý do nào đó, vì thế chàng trình Trưởng lão:
-
Xin Ngài đừng thuyết pháp cao hơn nữa, đã đủ! Ðạo sư
của chúng ta hiện ngụ ở đâu?
-
Tại Trúc lâm, hiền hữu!
-
Vậy thì, thưa Tôn giả! Xin ngài đi trước đi. Tôi có một
người bạn, anh ta và tôi đã giao ước với nhau: "Ai trong
chúng ta đạt đến sự bất tử trước tiên phải báo cho
người kia". Tôi phải giữ lời hứa này trước đã. Tôi sẽ
rủ bạn tôi cùng đến đấng Ðạo sư, đi theo con đường
của Ngài.
Nói
xong, Upatissa phủ
phục năm vóc dưới chân Trưởng lão, đi nhiễu bên phải
ba vòng và từ giã Ngài, đi đến gặp du sĩ khổ hạnh bạn
chàng.
Nhà
du sĩ khổ hạnh Kolita thấy
chàng từ xa, không khỏi mừng thầm: "Hôm nay, vẻ mặt bạn
ta khác thường, chắc anh đã đến sự bất tử".
Kolita
nôn nóng hỏi ngay bạn mình:
-
Bạn đã đạt được bất tử phải không?
Upatissa
trả lời:
-
Vâng, này huynh! Tôi đã đạt đến bất tử.
Nói
xong, chàng nói Pháp Cú như Tôn giả Ác-bệ đã nói. Ngay khi
kết thúc bài kệ, Kolita
chứng quả Dự lưu. Rồi Kolita hỏi
tiếp:
-
Này bạn, đấng Ðạo sư ở đâu?
-
Tại Trúc Lâm, bạn ạ. Trưởng Lão Ác-bệ, thầy chúng ta
đã cho tôi biết.
_
Tốt lắm, này bạn! Chúng ta hãy đi, hãy đến gặp đức Phật.
Trưởng
lão Xá-lợi-phất có một nét đặc biệt là luôn kính trọng
sâu đậm vị thầy của mình. Do đó, Ngài bảo bạn:
-
Này bạn, chúng ta hãy báo cho thầy mình, du sĩ khổ hạnh Sanjaya rằng
chúng ta đã đạt được đến bất tử, như thế tâm ông
sẽ thức tỉnh và trí ông sẽ hiểu biết. Dù ông có thiếu
sự hiểu biết đi chăng nữa chắc chắn ông vẫn tin chúng
ta không nói dối, và ngay khi được nghe Phật thuyết pháp,
ông sẽ đạt đạo quả.
Hai
du sĩ khổ hạnh liền đi đến Sanjaya.
Gặp
lại họ Sanjaya
hỏi ngay:
-
Các đạo hữu! Các ông có thành công trong việc tìm người
chỉ cho con đường bất tử không?
-
Vâng, thưa Thầy, chúng tôi đã tìm được người như thế.
Ðức Phật đã hiện trên thế gian, Pháp đã xuất hiện, Tăng
đã xuất hiện. Còn Ngài, Ngài đi trong hư huyễn phi thực.
Hãy đến đây, thưa Ngài, đi đến đấng Ðạo sư với chúng
tôi.
-
Các ông có thể đi. Ta không đi được!
-
Tại sao?
-
Trước đây, ta đã là một bậc thầy của nhiều người.
Ðối với ta, trở lại thành một người đệ tử cũng vô
lý như một tên nhếch nhác được phép đi đến giếng nước.
Ta không thể sống cuộc đời người đệ tử.
-
Ðừng làm vậy, Thầy ạ!
-
Không sao, các bạn! Các bạn có thể đi, còn ta thì không đi
được.
-
Thưa Thầy! Từ khi Phật xuất hiện trên thế gian, dân chúng
mang hương hoa và các thứ trong tay họ, đi đến và tôn kính
một mình Ngài thôi. Chúng ta hãy đi đến đó. Thầy định
làm gì?
-
Này đạo hữu! Ai chiếm đa số trên thế gian này, người
ngu hay người trí?
-
Thưa Thầy, người ngu thì nhiều, người trí thì ít.
-
Tốt lắm, đạo hữu! Hãy để người trí đến với tu sĩ
trí tuệ Cồ-đàm, và hãy để người ngu đến với ngu phu
là ta. Các anh có thể đi, còn ta không đi.
-
Thầy sẽ trở thành một người nổi tiếng, thầy ạ.
Hai
đệ tử cũ nói thế và lên đường. Khi họ đi rồi, giáo
đoàn của Sanjaya
tan rã, và khu rừng trở nên vắng vẻ. Sanjaya
không chịu nổi trước cánh rừng vắng vẻ, ông buồn tức
hộc máu tươi. Năm trăm du sĩ khổ hạnh tháp tùng Kolita
và Upatissa một đoạn đường. Sau đó, hai trăm
năm mươi người còn trung thành với Sajaya
trở về, còn lại hai trăm năm mươi người, hai vị thu nhận
họ làm đệ tử và cho họ đi theo đến Veluvana.
Ðức
Phật đang ngồi giữa tứ chúng thuyết pháp, thấy hai du sĩ
khổ hạnh từ xa đến, Ngài liền bảo các Tỳ-kheo:
-
Này các Tỳ-kheo, có hai đạo hữu đến đây là Kolita
và Upatissa. Họ sẽ là đôi đệ tử của ta, đôi
đại đệ tử cao quý.
Hai
du sĩ khổ hạnh đảnh lễ Phật, cung kính ngồi xuống một
bên và thưa:
-
Bạch Thế Tôn, chúng con xin được thu nhận vào Tăng đoàn
theo Phật, chúng con xin quy y và xuất gia.
Ðức
Phật bảo:
-
Hãy đến Tỳ-kheo! Pháp sẽ được thuyết, hãy sống đời
phạm hạnh cho đến lúc lâm chung để mọi đau khổ dứt hẳn.
Ngay
tức khắc, nhờ thần thông, họ tự nhiên được y bát, và
trở thành những vị Tỳ-kheo Trưởng lão một trăm hạ lạp.
Bằng
vào sự thuyết pháp của hội chúng đệ tử, đức Phật gia
tăng việc thuyết giảng pháp. Trừ hai vị Ðại đệ tử ra,
mọi người đều đắc quả A-la-hán. Lạ lùng thay, hai vị
Ðại đệ tử vẫn không thành tựu thiền định dẫn đến
ba quả vị cao hơn (Lý do gì như thế? Vì trí tuệ ba-la-mật
của bậc Ðại đệ tử Phật có một tầm quan trọng).
Lúc
bấy giờ Tôn giả Ðại Mục-kiền-liên, ngụ gần làng Kallavàla
trong vương quốc Ma-kiệt-đà, rơi vào trạng thái hôn trầm
dã dượi vào ngày thứ bảy sau ngày được thu nhận vào Tăng
đoàn. Nhưng được đức Phật đánh thức, Ngài trừ khỏi
hôn trầm dã dượi và áp dụng đề mục thiền quán về các
đại mà đức Phật đã trao cho Ngài. Ngài thành tựu thiền
định dẫn đến ba quả vị cao hơn và đạt được cứu cánh
của trí tuệ ba-la-mật của bậc Ðại đệ tử.
Còn
Trưởng lão Xá-lợi-phất, hai tuần lễ ở với đức Phật,
từ ngày được thu nhận vào Tăng đoàn, ngụ tại hang Sưukarakhata
cũng gần thành Vương Xá. Khi nghe con của người chị Ngài,
Ðạo sĩ Dìhanakha
đọc lại bài kinh Vedanà
pariggaha, Ngài chú tâm vào bài kinh, và giống như
một người ăn được cơm nấu cho người khác, Ngài đạt
được cứu cánh của trí tuệ ba-la-mật của bậc Ðại đệ
tử.
(Chắc
chắn Tôn giả Xá-lợi-phất là một người đại trí tuệ.
Vậy thì tại sao Ngài cần đến một thời gian lâu hơn Ðại
Mục-kiền-liên để đạt dến cứu cánh của trí tuệ ba-la-mật
của bậc Ðại đệ tử? Bởi vì đối với Ngài những việc
chuẩn bị cần phải tỉ mỉ. Chúng ta nên hiểu rằng đây
là trường hợp tương tự với một vị vua, khi muốn ra ngoài
du hành, cần phải chuẩn bị nhiều thứ, như sắp xếp những
tấm phủ lên lưng những con voi sẽ cõi... Còn đối với một
người nghèo, dù muốn đi đâu, anh ta đi được ngay không
cần thêm gì lắm).
Ngay
hôm Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên được nhận vào Tăng
đoàn, khi trời gần tối, đức Ðạo sư triệu tập những
đệ tử tại Trúc Lâm, đề cử địa vị Ðại đệ tử cho
hai vị mới vào Tăng đoàn, và đọc giới bổn Pàtimokkha.
Các Tỳ-kheo bất bình bàn tán với nhau:
-
Ðức Thế Tôn tỏ ra thiên vị trong việc trọng vọng này.
Ðịa vị Ðại đệ tử, Ngài phải ưu tiên cho những ai từ
bỏ thế gian đầu tiên, tức là nhóm năm vị Kiều-trần-như.
Nếu Ngài không đếm xỉa đến sự thỉnh cầu của họ, Ngài
phải dành ưu tiên cho Trưởng lão Yasa và
năm mươi bốn bạn đồng hành của ông. Nếu Ngài không cho
những vị này làm Ðại đệ tử, Ngài phải dành ưu tiên
cho nhóm ba mươi thanh niên. Nếu Ngài bác bỏ nhóm này thì
phải dành ưu tiên cho ba anh em Uruvela-Kassapa,
Nadì-Kassapa và Gayà-Kassapa. Khi bác bỏ tất cả những
Tỳ-kheo đến trước và dành địa vị Ðại đệ tử cho những
người từ bỏ thế gian sau hết, đức Ðạo sư đã tỏ ra
thiên vị.
Phật
hỏi họ:
-
Này các Tỳ-kheo! Các ông đang tranh luận vấn đề gì?
Nghe
họ kể lại, Phật nói:
-
Này các Tỳ-kheo! ta không tỏ ra thiên vị trong việc trọng
vọng này. Trái lại, ta dành cho các Tỳ-kheo này và cho tất
cả những Tỳ-kheo khác những gì mỗi người mong ước khi
phát lời thệ nguyện. Còn Annà
Kondana có cúng dường những thành quả đầu mùa
chín lần, nhưng không có thệ nguyện làm Ðại đệ tử. Trái
lại, lúc cúng dường, ông thệ nguyện rằng ông phải là
người đầu tiên đạt đến quả vị tối thượng, đó là
A-la-hán quả.
-
Bạch Thế Tôn, khi nào vậy?
-
Hãy lắng nghe, các Tỳ-kheo!
-
Vâng, Thế Tôn!
Sau
đó, Thế Tôn kể:
Chuyện
quá khứ
8C.
Tiểu Kala và Ðại Kala
Này
các Tỳ-kheo! Chín mươi mốt kiếp quá khứ, đức Phật Vipassì xuất
hiện ở đời. Lúc đó có hai anh em Ðại Hắc và Tiểu Hắc,
cả hai gia chủ này cai quản một cánh đồng rộng lớn trồng
lúa. Môt hôm Tiểu Hắc đến ruộng lúa bóc vỏ lúa và ăn,
thấy ngọt khác thường.
Sau
đó không lâu, ông muốn dâng một món quà bằng lúa non lên
Tăng chúng do Phật lãnh đạo. Vì thế ông đến ngỏ ý cùng
anh mình:
-
Nè anh! Chúng ta hãy bóc vỏ lúa non và nấu nướng thích hợp
để cúng dường những vị Phật.
Em
nói gì thế, hở em? Chưa hề có người nào bóc vỏ lúa non
cúng dường, cũng không ai thích làm như thế trong tương lai,
đừng có làm hỏng mùa màng.
Người
em lặp lại ý kiến của mình nhiều lần. Cuối cùng người
anh dứt khoát:
-
Thôi được, hãy chia ruộng làm hai phần. Ðừng có đụng
đến phần của anh, nhưng hãy làm những gì em thích trên phần
ruộng của em.
Tiểu
Hắc nói:
-
Tốt lắm.
Rồi
người em chia ruộng làm hai, thuê một số lớn nông dân lao
động lột vỏ lúa non và nấu với rất nhiều sữa, thêm
bơ lỏng, mật, đường và dâng món cơm chín đến Tăng đoàn
do Phật lãnh đạo.
Bữa
ăn chấm dứt, Tiểu Hắc thưa:
-
Bạch Thế Tôn. do công đức cúng dường thành quả đầu mùa
này, cho con được làm người đầu tiên đạt đến quả vị
tối thượng là A-la-hán quả.
-
Sẽ được vậy.
Rồi
đức Ðạo sư hồi hướng công đức cho thí chủ.
Khi
người em trở về, nhìn lại cánh đồng, ông ta thấy toàn
bộ cánh đồng đầy những nhánh lúa nảy chồi, đan vào nhau
như được buộc thành bó. Cảnh tượng này khiến ông cảm
nhận được năm niềm vui. Ông hân hoan: "Ta thật là may mắn".
Khi lúa trổ bông, ông cúng dường những bông lúa đầu tiên.
Cùng với dân làng thành quả đầu tiên gặt được. Khi lúa
được bó lại, ông dâng những bó lúa đầu tiên. Khi lúa
gom thành đống, ông dâng lúa đầu tiên trong đống. Khi lúa
chất thành ụ, ông dâng lúa đầu tiên trong ụ. Khi đập lúa,
ông dâng những lúa đầu tiên xay xong. Khi đong, ông dâng phần
lúa đong đầu tiên. Khi chất vào kho, ông dâng lúa đầu tiên
vào kho lẫm. Như thế, ông dâng thành quả đầu tiên của
vụ mùa đến chín lần để cúng dường. Bất cứ thứ gì
ông đem dâng được bù đắp lại, và ông có một vụ mùa
bội thu. Phước đức đến với người biết làm phước.
Do
đó, đức Thế Tôn nói:
-
Thật vậy, Ðại đức! Ðạo đức bảo hộ người biết giữ
gìn đạo đức, sống đạo đức đưa đến hạnh phúc. Ðây
là lợi lạc của cuộc sống đạo đức, người nào sống
trong đạo đức sẽ không bao giớ đi đến tình trạng đau
khổ.
Vì
thế, trong thời kỳ của Phật Vipassì,
Kiều-trần-như đã cúng dường thành quả đầu tiên tới
chín lần, thệ nguyện làm người đầu tiên đạt được
quả vị tối thượng. Cũng thế, trong thời kỳ của Phật Padumuttara,
một trăm ngàn kiếp về quá khứ, trong thành Hamsavatì,
ông đã cúng dường dồi dào, và phủ nhục dưới chân đức
Phật, thệ nguyện làm người đầu tiên đạt được quả
vị tối thượng A-la-hán quả. Vì vậy, Ta đã dành cho ông
ta địa vị theo đúng thệ nguyện. Ta không tỏ ra thiên vị
trong sự trọng vọng này.
Chuyện
quá khứ
8D.
Da-Xá (Yasa) và
Năm Mươi Bốn Bạn Hữu
-
Bạch Thế Tôn, năm mươi lăm thanh niên do Da-xá (yasa)
cầm đầu tạo những công đức gì?
-
Họ đã thệ nguyện dưới chân một vị Phật được đạt
quả vị A-la-hán, và đã tạo nhiều công đức. Trước khi
Phật hiện tại xuất hiện ở đời, họ đã kết bạn với
nhau để thành tựu những công đức, và hết lòng lo việc
thiêu xác chết của người nghèo khó. Một hôm, thấy xác
chết của một phụ nữ mang thai, họ đem xác chết nghĩa trang
để thiêu. Da-xá và bốn người bạn được chỉ định việc
thiêu xác, những người còn lại trở về làng.
Khi
Da-xá thiêu xác, chàng dùng cây xiên xuyên suốt thân xác chết,
lật qua lật lại, và thấu rõ sự bất tịnh của thân xác.
Ðể chia xẻ sự hiểu biết này với bốn bạn mình, chàng
bày tỏ: "các bạn, hãy nhìn thân này. Ðây đó da dẻ nứt
nẻ, không khác gì da của con bò đốm, bất tịnh, nhơ nhớp
và gớm ghiếc."
Ngay
đó, bốn bạn chàng cũng thấu triệt sự bất tịnh của thân
xác.
Năm
người bạn quay về làng và truyền đạt lại cho những người
kia. Về phần Da-xá chàng về nhà và cũng truyền đạt cho
cha mẹ và vợ, họ đều thấu triệt sự bất tịnh.
Ðây
là công đức mà họ đã tạo trong kiếp trước. Và do chính
công đức này, Da-xá chứng nghiệm được sự bất tịnh của
thân xác khi ở trong phòng nhìn các mỹ nữ ngủ. Thêm vào
đó, căn cơ họ đã đến lúc thuần thục, cho nên tất cả
các chàng trai đều đạt quả thánh. Như thế, những chàng
trẻ tuổi này đạt được điều mong muốn đúng theo họ
thệ nguyện. Ta không tỏ ra thiên vị trong việc trọng vọng
này.
Chuyện
quá khứ
8
E. Ba Mươi Chàng Vọng Tộc
-
Nhưng, bạch Thế Tôn! Ba mươi vị vọng tộc trẻ tuổi này
đã tạo công đức gì?
Họ
cũng thệ nguyện dưới chân chư Phật quá khứ đạt thành
quả vị A-la-hán và đã tạo lập những công đức. Trước
khi Phật hiện tại xuất hiện ở đời, họ tái sanh làm ba
mươi kẻ ác, nhưng nghe lời khuyên dạy dành cho ông Tudila,
họ giữ năm giới suốt sáu mươi ngàn năm. Rồi những người
này cũng chứng đạt đúng theo họ thệ nguyện. Ta không tỏ
ra thiên vị trong việc trọng vọng này.
Chuyện
quá khứ
8F.
Anh Em Ca Diếp
-
Nhưng, bạch Thế Tôn! Ba anh em Ca-diếp là
Uruvela Kassapa, Nadì-Kassapa, Gayà-Kassapa (Ưu-lâu-tần-loa
Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, Gia-da Ca-diếp) tạo dựng những công
đức nào?
-
Họ cũng tạo dựng những công đức và thệ nguyện đạt
thành quả vị A-la-hán. Chín mươi hai kiếp quá khứ, hai đức
Phật Tissa và Phussa cùng
một lúc xuất hiện trên thế gian. Cha của Ngài Phussa
là vua Mahinda. Khi
Ngài Phussa giác
ngộ thì người con út của vua trở thành Ðại đệ tử của
Ngài và con của vị tư tế trở thành đệ tử thứ hai. Nhà
vua đến chỗ Phật và bạch:
-
Người con cả của tôi là Phật, người con út của tôi là
Ðại đệ tử, và người con của vị tư tế của tôi là
Ðại đệ tử thứ hai của Phật.
Và
nhìn cả ba, vua hoan hỉ:
-
Ðức Phật là của chính tôi, Pháp là của chính tôi, Tăng
là của chính tôi.
Và
ông long trọng xưng tụng ba lần:
-
Xin tán thán Ngài là bậc Thế Tôn, Ứng Cúng, Toàn Giác.
Rồi
ông gieo mình dưới chân đức Ðạo sư thưa:
-
Bạch Thế Tôn, bây giờ vào cuối cuộc đời kéo dài chín
mươi ngàn năm, dường như đã đến lúc để tôi ngồi nhắm
mắt ngủ yên. Lúc nào tôi còn sống, xin đừng đến nhà người
khác, hãy nhận tứ sự cúng dường của mình tôi thôi.
Nhận
được sự ưng thuận của Phật, nhà vua đều đặn cúng dường
cho Ngài.
Bây
giờ nhà vua có ba người con khác. Người lớn nhất có năm
trăm lính tùy tùng, người giữa ba trăm và người trẻ nhất
hai trăm. Một hôm, họ xin phép cha được cúng dường người
anh cả là đức Phật Phussa,
nhưng bị từ chối. Việc này xảy ra nhiều lần, ít lâu sau,
một cuộc nổi loạn bùng nổ ở biên giới và ba anh em được
vua cha phái đi dẹp giặc. Thành công, trong việc khôi phục
ở biên giới, họ trở về hoàng cung, vua cha ôm lấy họ,
hôn lên tóc, ngợi khen và tưởng thưởng:
-
Các con yêu của cha, cha sẽ cho những gì các con muốn.
Họ
vâng lệnh:
-
Tâu phụ vương! Chúng con xin nhận ân huệ của cha.
Sau
vài ngày, khi cha họ nhắc lại:
-
Các con yêu, ta sẽ cho bất cứ điều gì các con muốn.
Họ
liền ngỏ ý:
_
Tâu phụ vương! Chúng con không cần gì khác ngoài việc từ
nay trở đi chúng con xin được cúng dường anh cả của chúng
con, hãy ban cho chúng con ân huệ này!
-
Ta không ban cho các con ân huệ này được, các con yêu!
-
Nếu cha không muốn ban cho chúng con đặc ân này thường xuyên,
thì hãy ban cho chúng con bảy năm.
-
Ta không muốn thế, con yêu!
-
Thế thì hãy ban đặc ân cho chúng con sáu năm hay năm năm,
bốn, ba hay hai năm, hay một năm, hoặc là bảy tháng, hay sáu,
năm, bốn, ba hay hai tháng hoặc một tháng.
-
Ta không muốn thế, các con yêu!
-
Thế thì tâu phụ vương! Hãy cho mỗi đứa con một tháng,
ban ơn cho chúng con tất cả ba tháng!
-
Thôi được, các con yêu! Hãy cúng dường anh các con trong ba
tháng.
Bây
giờ cả ba anh em chỉ có một thủ khố và một quản gia.
Viên quản gia có đến một trăm hai mươi ngàn người phụ
việc.
Ba
anh em cho vời thủ khố và quản gia lại chỉ thị:
-
Trong vòng ba tháng tới, chúng tôi sẽ thọ giữ mười giới,
đắp y vàng và an cư với đấng Ðạo sư. Khi chúng tôi vắng
mặt, bổn phận các anh phải coi sóc lương thực cúng dường,
mỗi ngày các anh phải cung cấp đầy đủ thức ăn, cả cứng
và mềm, cho chín mươi ngàn Tỳ-kheo và một ngàn lính. Từ
nay trở đi chúng ta sẽ không dặn dò gì nữa.
Rồi
ba anh em đem theo một ngàn lính tùy tùng tuân giữ mười giới,
đắp y vàng và bắt đầu an cư trong tinh xá.
Người
thủ khố và quản gia hợp lực thay phiên nhau hoàn tất bổn
phận cúng dường, lấy lương thực từ kho của ba anh em để
cúng dường. Nhưng khi đám con của những người phục vụ
đòi món cháo yến mạch và những thức ăn chúng đòi, trước
cả lúc Tăng đoàn đến. Hậu quả là Tăng đoàn chỉ nhận
được thức ăn thừa và không được cung cấp thức ăn nào
mới nguyên. Cuối cùng, người thủ khố và viên quản gia
cũng thèm ăn đến nỗi họ lấy bớt thức ăn, rồi làm ra
vẻ như đưa cho đám trẻ, nhưng thực họ ăn hết. Thấy thức
ăn ngon không nhịn thèm được, họ và nhóm tám mươi bốn
ngàn người của họ đã ăn thực phẩm mà họ có bổn phận
phải dâng cho Tăng đoàn, nên khi chết và thân bị tan rã,
họ tái sanh vào loài ngạ quỷ.
Khi
mạng chung, ba anh em và một ngàn người tùy tùng được sanh
lên thiên giới và sống chín mươi hai kiếp qua lại từ cõi
trời này đến cõi trời khác. Ðó là những công đức mà
ba anh em đã tạo dựng trong thời gian đó vì lập nguyện thành
tựu quả vị A-la-hán. Những gì họ nhận được chỉ là
do lời thệ nguyện của họ. Ta không tỏ ra thiên vị trong
việc ban cho điều gì cần ban. Viên quản gia bây giờ là Bình-sa-vương,
thủ khố là cư sĩ nữ Visàkha (Tỳ-xá-khư)
và ba hoàng tử là ba nhà khổ hạnh bên tóc.
Nhữnh
gia nhân phục vụ của họ tái sanh trong loài ngạ quỷ. Một
thời gian sau khi trải qua từ kiếp này đến kiếp khác, cả
tốt và xấu, họ được tái sanh trong tiểu kiếp này ở cõi
ngạ quỷ suốt bốn đời đức Phật. Trong tiểu kiếp này,
đầu tiên họ đến gặp vị Phật Kakusandha,
trụ thế bốn mươi ngàn năm, và hỏi Ngài:
-
Xin Phật nói cho chúng con biết khi nào chúng con nhận được
thức ăn?
Ðức
Phật đáp:
-
Các người sẽ không có gì để ăn trong thời kỳ hóa độ
của Ta, nhưng sau Ta đại địa sẽ được nâng cao một dặm,
và đức Phật Konàgamana sẽ
xuất hiện, tốt nhất các ngươi hãy hỏi Ngài.
Họ
chờ đợi suốt thời gian đó, và khi đức Phật Konàgamana xuất
hiện, họ liền hỏi và được Ngài trả lời:
-
Các ngươi sẽ không có gì để ăn trong thời kỳ hóa độ
của Ta, nhưng sau Ta, đại địa sẽ nâng cao một dặm, và
đức Phật Kassapa
sẽ xuất hiện, tốt nhất các người hãy hỏi Ngài.
Họ
chờ đợi suốt thời gian đó, và khi nghe đức Phật Kassapa xuất
hiện, lại đến thưa hỏi và lại được nghe:
-
Các ngươi sẽ không nhận được gì để ăn trong thời kỳ
của Ta, nhưng sau Ta, đại địa sẽ được nâng cao một dặm,
và đức Phật Gotama
sẽ xuất hiện. Vào thời đó, thân quyến của các anh là
Bình-sa-vương sẽ làm vua, ông ta sẽ cúng dường đức Ðạo
sư và sẽ hồi hướng công đức tạo được cho các ngươi,
và lúc đó các ngươi sẽ nhận được thức ăn.
Thời
kỳ giữa hai đức Phật sau này đối với chúng cũng nhanh
giống như hôm nay qua ngày hôm sau. Khi Như Lai xuất hiện ở
thế gian và vua Bình-sa-vương cúng dường ngày thứ nhất,
chúng không nhận được thức ăn. Chúng chờ đến đêm, và
tạo một tiếng ồn đáng sợ và hiện ra trước vua. Nhà vua
đến Veluvana vào
ngày hôm sau, và thuật lại tình tiết cho Như Lai. Ðức Ðạo
sư giải thích:
-
Ðại vương, chín mươi hai kiếp trong quá khứ, dưới thời
Phật Phussa, những
ngạ quỷ ấy là thân quyến của đại vương. Họ lén ăn
thực phẩm mà họ có bổn phận dâng đến Tăng đoàn, họ
đã hỏi Phật Kakusandha,
Konàganama, và Kassapa khi nào họ được ăn và chư
Phật đã nói với họ như thế, như thế. Suốt thời gian
này, họ rất muốn nhận sự bố thí của đại vương. Sở
dĩ họ làm ồn đêm hôm qua vì đại vương có bố thí nhưng
họ không nhận được phước báo bố thí đó.
-
Nhưng bạch Thế Tôn! Trong trường hợp con bố thí bây giờ,
họ có nhận được không?
-
Sẽ nhận được, Ðại vương!
Ngày
hôm sau, vua thỉnh Tăng đoàn do Phật lãnh đạo, dâng thức
ăn dồi dào và thưa:
-
Bạch Thế Tôn, từ nay trở đi vật ẩm thực từ cõi trời
xin cho những ngạ quỷ này có phần.
Và
khi vua hồi hướng đến những ngạ quỷ công đức cúng dường
của ông, chúng nhận được vật ẩm thực từ cõi trời.
Ngày
hôm sau, những ngạ quỷ lại xuất hiện trần truồng. Ðức
vua trình lên Phật:
-
Hôm nay, bạch Thế Tôn, những ngạ quỷ này lại xuất hiện
trần truồng, con không biết phải làm gì?
Ðức
Phật giải thích:
-
Ðại vương, vì ông không cho họ quần áo.