III.
Phẩm Tâm
1.
Trưởng Lão Meghiya
Tâm
hoảng hốt giao động ...
Thế
Tôn dạy giáo lý này khi ngụ trên núi Càlikà liên
quan đến Tôn giả Meghiya.
Trưởng
lão Meghiya bị tam
độc tham sân si quấy nhiễu không thể hành thiền tinh tấn
trong khu rừng xoài, nên trở về chỗ Thế Tôn.
Thế
Tôn dạy ông:
- Meghiya,
ông đã phạm một lỗi lớn. Ta đã bảo rằng Ta chỉ một
mình, ông nên ở lại đợi đến khi có Tỳ-kheo khác đến
hãy đi. Nhưng ông không đếm xỉa đến lời Ta, cứ làm theo
ý mình. Một Tỳ-kheo không bao giờ nên bỏ Ta mà đi khi Ta
yêu cầu ở lại. Một Tỳ-kheo không bao giờ nên để tâm
ý dẫn dắt như thế. Khi tâm ý giao động, ta phải luôn luôn
biết chế ngự.
Và
Thế Tôn nói hai câu Pháp Cú sau:
(33)
Tâm hoảng hốt giao động,
Khó
bộ trì, khó nhiếp,
Người
trí làm tâm thẳng,
Như
thợ tên, làm tên.
(34)
Như cá quăng lên bờ,
Vất
ra ngoài thủy giới,
Tâm
này vùng vẫy mạnh,
Hãy
đoạn thế lực ma.
Ngay
khi Thế Tôn dứt câu, Trưởng lão Meghiya chứng
quả Dự lưu và nhiều người khác chứng Nhị quả và Tam
quả.
2.
Người Ðọc Ðược Tâm
Khó
nắm giữ, khinh động ...
Ðức
Phật dạy câu này khi ở Xá-vệ, liên quan đến một Tỳ-kheo.
Trong
xứ của vua Ba-tư-nặc, dưới chân một ngọn núi, có một
làng an cư lạc nghiệp tên Màtika.
Sau khi nhận đề tài thiền quán từ Phật, một hôm sáu mươi
Tỳ-kheo đến làng khất thực. Mẹ của thôn trưởng Màtika
trông thấy liền mời các Tỳ-kheo ngồi, dâng cúng cháo đặc
nấu thật ngon với gia vị chọn lọc, và hỏi thăm. Biết
các Tỳ-kheo tìm một chỗ thích hợp để an cư trong mùa mưa,
bà gieo mình xuống chân họ thưa thỉnh:
-
Xin chư Tỳ-kheo ở đây an cư trong ba tháng hạ, tôi sẽ tuân
giữ Tam quy và Ngũ giới, và sẽ làm tròn bổn phận ngày chay.
Các
Tỳ-kheo chấp nhận. Với sự giúp đỡ của bà họ sẽ khỏi
lo lắng về ăn uống, và có thể tu chứng giải thoát sanh
tử.
Mẹ
của Màtika xây
cất tinh xá xong, rước các Tỳ-kheo đến ở. Họ nhắc nhở
lẫn nhau:
-
Chư huynh đệ! Chúng ta không nên sống phóng dật, vì trước
mặt chúng ta là tám cửa địa ngục sừng sững luôn rộng
mở như cửa nhà chúng ta. Chúng ta đã nhận đề tài thiền
quán từ Thế Tôn và đã đến đây. Ân huệ của chư Phật
không thể đến với người dối trá, dù hắn có bước theo
dấu chân của các Ngài. Chỉ khi nào hành theo ý chư Phật
dạy mới được ân huệ của các Ngài. Vì vậy chúng ta phải
chú tâm tỉnh giác. Hai Tỳ-kheo không được đứng hay ngồi
chung một chỗ. Chúng ta chỉ phải gặp nhau vào buổi chiều
để hầu hạ Trưởng lão và sáng sớm trước khi đi khất
thực. Những lúc khác, chúng ta không được tụ tập hai người.
Nếu có Tỳ-kheo mắc bệnh, hãy đưa ông ta đến trước sân
tinh xá và đánh chuông, lúc đó chúng ta sẽ tụ đến lo chữa
trị.
Tất
cả đều đồng ý.
Một
buổi chiều, bà mẹ của Màtika
mang bơ, mật mía và những thức ăn khác cùng đám người
hầu đến tinh xá. Không thấy bóng dáng các Tỳ-kheo, bà ngạc
nhiên hỏi thăm và được biết các Tỳ-kheo đã quy định
với nhau như thế, và bà đã được khuyên hãy đánh chuông
nếu muốn gặp họ. Khi tiếng chuông vang lên, tưởng rằng
có người bị bệnh. Các Tỳ-kheo từ chỗ riêng của mình
đến họp trước sân tinh xá, không có hai Tỳ-kheo đến cùng
một đường. Bà cư sĩ thấy vậy lại đoán họ cãi nhau,
nên đảnh lễ Tăng chúng xong bà liền hỏi thăm:
-
Các Ngài đã cãi nhau phải không, chư Tôn giả?
-
Không đâu, cư sĩ.
-
Thế tại sao khi đến nhà chúng tôi, các Ngài đi chung mà bây
giờ mỗi người từ chỗ riêng của mình đến từng người
một?
-
Cư sĩ! Chúng tôi đang hành thiền ở thất riêng.
-
Hành thiền là sao, chư Tôn giả?
-
Chúng tôi tu tập ba mươi hai yếu tố của thân, từ đó nhận
thức rõ ràng sự hoại diệt nằm trong thân.
-
Chư Tôn giả, chỉ có các Ngài mới được phép tu tập, còn
chúng tôi có được phép không?
-
Pháp tu này không cấm cản ai, cư sĩ ạ!
-
Vậy xin chư Tôn giả giảng dạy cho tôi.
-
Tốt lắm !
Học
xong bà bắt đầu ngay tu tập về ba mươi hai yếu tố của
thân. Kết quả là, trước cả các Tỳ-kheo, bà chứng quả
A-na-hàm đạt tứ thông và những thần thông khác cao hơn.
Từ
niềm an lạc của đạo quả, vì muốn biết lúc nào những
đứa con trai của mình (bà quý trọng các Tỳ-kheo và xem họ
như con) chứng đạo, bà dùng Thiên nhãn xem xét và thấy rằng
họ vẫn còn bị trói buộc trong tham sân si, tuy có hành thiền
nhưng vẫn chưa đạt Minh sát tuệ. Bà thắc mắc không biết
họ có đủ khả năng chứng A-la-hán không và thấy rằng họ
có. Chỗ ở có thích hợp hay không? Thính hợp. Bạn đồng
tu có xứng đáng hay không? Có. Thức ăn có đủ hay không?
Không đủ.
Từ
đó bà cung cấp cho những Tỳ-kheo nhiều loại cháo đặc vớt
tất cả thức ăn cứng và mềm, nêm nếm bằng nhiều loại
gia vị chọn lọc. Các Tỳ-kheo thọ nhận thức ăn tốt lành,
tâm trở nên yên tĩnh, và do tĩnh tâm họ khai mở Minh sát
tuệ, chứng A-la-hán cùng những thần thông.
Hết
thời gian an cư, hành lễ Tự Tứ xong, các Tỳ-kheo từ giã
bà Màtika về thăm
Thế Tôn. Bà đưa tiễn một đoạn đường và thỉnh cầu
họ mùa an cư năm sau trở lại.
Ðến
Xá-vệ, các Tỳ-kheo đảnh lễ thế Tôn và kính cẩn ngồi
một bên. Phật hỏi thăm:
-
Các Tỳ-kheo Trông các ông có vẽ khỏe mạnh, được bồi
dưỡng đầy đủ, không lo lắng về ăn uống.
Các
Tỳ-kheo thưa:
-
Chúng con được khỏe mạnh, bạch Thế Tôn, được bồi dưỡng
đầy đủ và khỏi bận tâm về ăn uống là nhờ mẹ của Màtika
biết được tâm ý của chúng con. Bà ta nấu đúng món ăn
chúng con nghĩ đến.
Một
Tỳ-kheo nghe huynh đệ mình ca ngợi những đặc tính của bà
cư sĩ thí chủ, muốn đến nơi đó. Ông nhận đề tài thiền
quán từ Thế Tôn và xin đi. Rời Kỳ-viên, ông đến làng Màtika.
Bước vào tinh xá, ông khởi nghĩ bà cư sĩ này biết được
tâm người khác chắc sẽ hiểu rằng ta đi đường mệt mõi
không thể quét dọn được, và chắc chắn bà sẽ cho người
tạp dịch. Quả nhiên bà cho người đến. Và cứ thế Tỳ-kheo
này nghĩa đến nước uống thì có nước uống, nghĩ đến
cháo đặc với nhiều bơ cùng thức ăn ngon liền có ngay, muốn
có thức ăn cứng cũng có, thậm chí muốn gặp bà cư sĩ cùng
thức ăn mềm nêm nếm với gia vị chọn lọc thì bà đích
thân mang tới ngay. Khi ăn xong, Tỳ-kheo hỏi bà:
-
Cư sĩ, bà là mẹ Màtika?
-
Phải con ạ.
-
Bà biết được tâm ý người khác phải không?
-
Tại sao con hỏi ta như thế?
-
Vì bà đã mang đến cho tôi mọi thứ tôi mong muốn.
-
Có nhiều Tỳ-kheo biết được tâm ý người khác con ạ.
-
Tôi không hỏi người khác, tôi hỏi bà.
Bà Màtika
tránh không xác nhận là mình đọc được tư tưởng người
khác, thay vào đó bà bảo:
-
Những ai không biết tư tưởng người khác mới làm vậy,
con ạ.
Vị
Tỳ-kheo cảm thấy bối rối. Ông nghĩ: "Người chưa chứng
quả đều có những ý tưởng thầm kín có thể cao qúy hoặc
ti tiện. Nếu ta khởi nghĩ một tư tưởng tội lỗi nào, chắc
chắn bà ta như đi guốc trong bụng ta, sẽ nắm chóp ta ngay,
tóm gọn cả bao lẫn bị như chộp bắt một tên trộm, ôi
thôi tai hại! Ba mươi sáu kế chỉ có chuồn đi là tốt nhất."
Ông
liền từ giã bà cư sĩ trở về Thế Tôn, và kể lại tự
sự. Thế Tôn khuyên:
-
Tỳ-kheo, chỉ nơi ấy là nơi ông cần phải ở lại.
-
Con không thể, bạch Thế Tôn! Con không muốn ở lại đó nữa.
-
Vậy Tỳ-kheo! Ông có canh chừng được một việc duy nhất
hay không?
-
Nghĩa là gì, bạch Thế Tôn?
-
Chỉ canh chừng tâm của ông. Tâm ý rất khó kiểm soát. Ðứng
nghĩ thêm việc gì khác, hãy chế ngự tâm mình vì tâm thường
chao động.
Và
Ngài nói Pháp Cú:
(35)
Khó nắm giữ, khinh động,
Theo
các dục quay cuồng,
Lành
thay, điều phục tâm,
Tâm
điều, an lạc đến.
Rồi
Thế Tôn dạy Tỳ-kheo hãy tiếp tục trở lại chỗ cũ, và
không nên lo nghĩ gì khác ngoài việc canh chừng tâm ý của
mình. Bà cư sĩ biết trước Tỳ-kheo sắp trở lại, nên chuẩn
bị sẵn thức ăn ngon dâng cúng, và chỉ trong vài ngày ông
chứng quả A-la-hán. Nếm được pháp lạc của đạo quả
và một lòng biết ơn bà cư sĩ, ông muốn biết xem trong quá
khứ bà có từng giúp đỡ mình hay không. Ông nhớ lại được
chín mươi chín kiếp trước và thấy bà đã từng là vợ
ông, nhưng lại dành tình cảm cho người đàn ông khác, và
bà đã khiến ông mất mạng. Thật độc ác làm sao!
Bà
cư sĩ ngồi tại nhà quan sát thấy Tỳ-kheo đã đạt đến
cứu cánh đạo quả, và cũng biết là ông đã nhớ lại chín
mươi chín kiếp trước và đã biết tâm độc ác của bà
trong quá khứ. Bà bèn nhớ lại tới kiếp thứ một trăm bà
cũng là vợ ông, và trong hoàn cảnh phải giết chồng, bà
đã tha mạng ông. Bà liền bảo vị Tỳ-kheo hãy nhớ đến
tiền kiếp xa hơn và quan sát sự việc. Nhờ thiên nhĩ thông,
vị Tỳ-kheo nghe được lời bà và làm theo. Ông nhận ra quả
bà cư sĩ đã giúp đở ông nhiều. Ông giải đáp cho bà cư
sĩ những vấn đề liên quan đế A-la-hán quả. Sau đó, ông
nhập Vô dư y Niết-bàn.
3.
Một Tỳ Kheo Bất Mãn
Tâm
khó thấy, tế nhị ...
Phật
dạy câu này khi ngụ tại Kỳ-Viên vì một Tỳ-kheo bất mãn.
Tại
Xá-vệ, con của một chưởng khố đến vị Trưởng lão thường
khất thực tại nhà mình, xin dạy con đường giải thoát phiền
não. Trưởng lão khuyên anh ta hãy bố thí những thứ như thức
ăn chia theo phiếu, thức ăn ngày rằm và ba mươi, phòng xá
trong mùa mưa đến an cư, y bát và những nhu cầu khác. Ngài
còn dạy thêm nên chia tài sản ra làm ba, một phần để làm
ăn sinh sống, một phần dành cấp dưỡng cho vợ con và phần
thứ ba cúng dường Tam Bảo.
Anh
ta thi hành đúng lời dạy, rồi đến gặp lại Trưởng lão,
hỏi xem còn phải làm điều gì nữa. Ngài dạy anh tuân giữ
Tam quy Ngũ giới. Và anh hỏi tiếp thì được khuyên giữ mười
giới, cứ thế anh hoàn tất từ từ việc công đức này đến
công đức khác nên được gọi là Anupubla.
Anh lại tiếp tục hỏi Trưởng lão và được dạy là nên
xuất gia. Lập tức anh từ bỏ thế gian đi tu, và dưới quyền
dạy dỗ của một Giáo thọ sư thông thuộc tạng Luận và
một Giám luật thông thuộc tạng Luật. Sau khi làm tròn bổn
phận anh đến vị Giáo thọ thưa thỉnh và được dạy bảo
theo tạng Luận:
-
Trong giáo lý Phật đà điều này đúng pháp, điều kia không
đúng pháp.
Nếu
thưa thỉnh với vị Giám luật thì cũng được dạy bảo theo
tạng Luật:
-
Trong giáo lý Phật đà điều này chính đáng, điều kia không
chính đáng.
Thời
gian trôi qua, anh chán nản vì cảm thấy khó nhọc với nhiệm
vụ tu sĩ. Anh muốn giải thoát mà giờ đây ngay cả chỗ để
duỗi thẳng tay cũng không có. Sống đời cư sĩ có khi cũng
được giải thoát phiền não. Vì thế anh có ý định hoàn
tục.
Từ
đó anh bất mãn và khó chịu trong lòng, thôi không tu tập
ba mươi hai yếu tố thân nữa, và cũng không nghe lời dạy
bảo nữa. Mặt anh trở nên hốc hác,da dẻ nhăn nheo, nổi
gân xanh, mệt nhọc đè nặng, ghẻ chóc đầy người. Những
người tu tập và Sa-di hỏi thăm, anh cũng kể thật là đang
bất mãn. Họ cho vị Giáo thọ và Giám luật của anh hay, và
hai vị này đưa anh đến Thế Tôn. Anh thuật lại tâm tư mình
cùng ý định hoàn tục, Phật bảo:
-
Tỳ-kheo! Nếu ông chỉ canh chừng được một việc mà thôi,
thì khỏi phải cần để ý đến những việc khác.
-
Việc đó là gì, thưa Thế Tôn?
-
Ông có thể canh chừng tâm ý của ông chăng?
-
Dạ được, bạch Thế Tôn.
-
Vây thì ông chỉ canh chừng tâm của ông.
Rồi
Thế Tôn nói Pháp Cú:
(36)
Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo
các dục cuồng quay,
Người
trí phòng hộ tâm,
Tâm
hộ an lạc đến.
4.
Tăng Hộ Cháu
Chạy
xa sống một mình ...
Thế
Tôn dạy lời này khi ở Xá-vệ liên quan đến ngài Tăng Hộ
(Sangharakkhita).
Thành
Xá-vệ có một chàng trai thuộc gia đình khá giả, sau khi nghe
Thế Tôn thuyết pháp, đã từ bỏ thế gian, được nhận vào
Tăng đoàn, làm tròn bổn phận, và chỉ trong mấy ngày đắc
quả A-la-hán. Ðó là Trưởng lão Tăng Hộ.
Người
em gái út của Trưởng lão sanh bé trai cũng đặt tên là Tăng
Hộ, tức Tăng Hộ cháu. Ðến tuổi trưởng thành Tăng Hộ
cháu gia nhập Tăng đoàn theo Trưởng lão, và khi làm tròn bổn
phận, ông an cư suốt mùa hạ trong tinh xá một làng nọ. Nhận
được hai bộ y dành cho Tỳ-kheo mặc trong mùa mưa, một cái
dài bảy cubits, một cái dài tám cubits, ông chọn chiếc dài
định dâng cúng cho vị thân giáo sư của mình và giữa lại
chiếc ngắn, Mãn hạ, ông rời tinh xá về thăm thầy, vừa
đi, vừa khất thực. Ðến nơi ông quét dọn, lấy nước rữa
chân, sửa soạn chỗ ngồi cho Trưởng lão rồi ngồi ngắm
con đường Trưởng lão sẽ đi qua. Ông Trưởng lão đến,
ông xá chào, đở y bát và mời ngồi. Rồi ông lấy cây quạt
lá cọ quạt cho trưởng lão, dâng nước uống, nước rữa
chân, cuối cùng dâng y, đặt dưới chân Trưởng lão thưa:
-
Tôn giả! Xin đắp y này!
-
Tăng Hộ! Ta đủ y rồi, ông cứ mặc y này đi!
-
Bạch Tôn giả, tự lúc nhận y con đã định dâng cho Ngài.
Xin Ngài nhận cho.
-
Ðừng bận tâm, Tăng Hộ, ta đã đủ y.
-
Tôn giả, xin đừng từ chối. Ngài nhận y con sẽ được phước
baó lớn.
Dù
Tăng Hộ cháu lặp đi lặp lại lời thỉnh cầu nhiều lần,
Trưởng lão vẫn từ chối chiếc y tặng. Ông vừa quạt cho
Trưởng lão lòng ngỗn ngang trăm mối: "Lúc còn cư sĩ ta là
cháu, xuất gia thì cùng ở chung, nhưng Trưởng lão vẫn không
muốn với cương vị thầy nhận cho ta cúng dường. Như vậy
ta còn ở lại đây tu nữa làm gì, ta nên hoàn tục." Nhưng
ông lại lo là không biết trở lại làm gia chủ sẽ sống
ra sao. À, ta sẽ bán chiếc y dài tám cubits này để mua một
con dê cái. Có dê cái nhiều rồi ta bán dê con, cứ thế túi
tiền sẽ to dần, chẳng mấy chốc giàu sang đến nơi. Rồi
ta sẽ tìm một cô vợ, vợ ta sẽ sinh cho ta một đứa con.
Thế rồi những hình ảnh kế tiếp lần lượt xuất hiện
trong đầu ông. Ông và vợ đẩy đứa bé trong xe đi thăm người
chú, vừa đi vừa trò chuyện:
-
Này, đưa con cho tôi bế một tí nào!
-
Lắm chuyện, bế nó làm chi. Ðến đây mà đẩy cái xe này!
Miệng
nói tay bế, khốn khổ cô vộ lính quính thế nào làm rớt
tọt đứa bé xuống đường ngay dưới bánh xe. Ông ta giận
dữ giáng một cây gậy vào lưng cô ta, đồng thời chiến
quạt lá cọ cũng bay xuống đầu Trưởng lão. Trưởng lão
quán sát và hiểu hết chuyện, bảo:
-
Tăng Hộ ! Ông không đánh trúng người đàn bà, nhưng một
Trưởng lão già đã làm gì để đáng ăn một gậy?
Vị
tăng trẻ hoảng hốt:
-
Ôi! Chết ta rồi! Thầy ta đã hiểu biết hết mọi ý nghĩa
của ta. Làm sao dám ở lại tu nữa?
Ông
ném quạt đi và bỏ chạy. Những người tập tu và Sa-di đuổi
theo, bắt ông dẫn đến Phật kể hết mọi chuyện, Phật
dạy:
-
Tỳ-kheo! Tại sao ông lại phạm lỗi nặng như thế? Ông không
phải là đệ tử của một vị Phật có thần lực vô hạn
hay sao? Ðã từ bỏ thế gian sống trong Giáo đoàn của Phật,
mà ông lại quên không tự điều phục mình hướng đến Sơ
quả, Nhị quả, Tam quả hay A-la-hán. Tại sao ông lại phạm
lỗi trầm trọng như thế?
-
Bạch Thế Tôn, con bất mãn.
-
Tại sao ông bất mãn?
Tăng
Hộ cháu thuật lại toàn bộ câu chuyện, từ ngày nhận y
nơi an cư đến lúc đập quạt lên đầu Trưởng lão, và ông
thưa tiếp:
-
Bạch Thế Tôn, đó là lý do tại sao con muốn bỏ đi không
tu nữa.
Phật
dạy:
-
Này, Tỳ-kheo! Ðừng bối rối. Tâm thường chạy theo những
chuyện dẫn đi rất xa. Ta phải cố gắng thoát khỏi sự trói
buộc của tham sân, si.
Và
Ngài nói Pháp Cú:
(37)
Chạy xa, sống một mình,
Không
thân, ẩn hang sâu,
Ai
điều phục được tâm,
Thoát
khỏi ma trói buộc.
5. Trưởng
Lão Tâm Ðược Ðiều Phục
Ai
không tâm an trú ...
Lúc
ngụ tại Xá-vệ, Phật đã dạy Trưởng lão Cittahattha,
người-bị- tâm-sai-sử câu kệ trên.
Một
chàng trai thuộc gia đình khả kính sống ở Xá-vệ vào rừng
kiếm con bò bị lạc. Giữa trưa anh tìm thấy và đưa nó về
bầy. Nhưng đói khát quá, anh vào tinh xá gặp các Tỳ-kheo
cúi chào và đứng cung kính một bên. Thấy anh quá kiệt sức,
các Tỳ-kheo chỉ thức ăn thừa trong bình, bảo anh lấy ăn
(khi Phật còn hiện đời luôn luôn có cháo được cùng dường
dồi dào cùng với nhiều thứ nước sốt và cà ri). Chàng
trai ăn uống no nê xong rửa tay, chào các Tỳ-kheo và hỏi:
-
Chư Tôn giả! Chắc hôm nay nhà nào mới thỉnh các Ngài?
-
Không cư sĩ ạ! Các Tỳ-kheo thường xuyên nhận được thức
ăn như thế.
Chàng
trai thấy rằng dù làm lụng tích cực vất vả liên tục ngày
và đêm cũng không bao giờ được chaó ngon như vậy. Trong
khi các Tỳ-kheo, theo lời họ, vẫn được ăn liên miên. Thế
tại sao ta cứ sống đời cư sĩ ? Ta sẽ xuất gia. Anh đến
các Tỳ-kheo xin và được nhận vào Tăng đoàn. Sau khi làm
tròn bổn phận chính và phụ chỉ trong vài ngày được chia
phần trong số phẩm vật cúng dừơng, anh tròn trịa và phương
phi hẵn ra, nhưng rồi anh hết thích đời sống khất thực
nên hoàn tục. Trở về nhà làm việc chỉ vài ngày thân hình
anh lại tiều tụy. Anh lại xuất gia, rồi bất mãn, rồi lại
về nhà. Thời gian ở chung, anh hay giúp đở các Tỳ-kheo nên
về nhà rồi xin tu trở lại, họ nghĩ tình chấp nhận. Cứ
như thế anh ra vào đến sáu lần liên tiếp. Các Tỳ-kheo đặt
tên anh là Cittahattha,
tức người bị tâm sai sử.
Ra
vào lui tới như thế, vợ anh mang thai. Lần thứ bảy anh từ
rừng trở về mang theo nông cụ. Cất nông cụ xong anh bước
vào phòng, lòng phân vân ray rứt muốn khoác y trở lại. Bấy
giờ vợ anh đang ngủ, quần áo trong tuột ra, nước miếng
nhễ nhại, miệng mở toang hoác, ngáy vang trời, trông chẳng
khác nào một tử thi trương phình lên. Anh thấy rõ trong thế
gian này tất cả đều vô thường và khổ não. Liền đó anh
nhận ra suốt thời gian đi tu chỉ vì nghĩ đến cô ta mà anh
thối tâm nản chí. Tay nắm viền chiếc y vàng vừa anh quấn
vào bụng vừa chạy ra khỏi nhà.
Mẹ
vợ anh chợt thấy anh phóng vụt qua, kêu lên thất thanh, nhưng
anh chẳng thèm nghe, một mực chạy thẳng. Bà chỉ còn biết
lầm bầm:
-
Cái gã phản bội này, vừa mới từ rừng về, lại bỏ nhà,
mình quấn y mà chạy vào tinh xá. Thế là sao?
Bước
vào nhà thấy con gái nằm ngủ, bà hiểu ngay lý do. Bà lay
con gái dậy mắng:
-
Dậy đi, đồ phù thủy! Chồng mày thấy mày nằm ngủ, nó
gớm ghiếc quá nên bỏ đi rồi. Mày không còn chồng nữa
kể tù đây!
Cô
gái dịu mắt, giọng lè nhè:
-
Ði đi, mẹ! Anh ta đi hay ở có gì quan trọng đâu! Vài bữa
nữa anh ta lại về.
Trên
đường, Cittahattha ôn
đi ôn lại câu "Các pháp trong thế gian đều vô thường, trói
buộc trong đau khổ", và anh chứng quả Dự lưu. Ðến gặp
các Tỳ-kheo anh cúi chào và xin vào Tăng đoàn. Lần này anh
bị từ chối quyết liệt:
-
Không! Chúng tôi không thể nhận anh. Tại sao anh đi tu nữa?
Ðầu anh cứng như cục đá mài.
Anh
khẩn khoản:
-
Chư Tôn giả! Hãy nhận con vào Tăng đoàn một lần nữa thôi!
Và
chỉ sau vài ngày ông chứng quả A-la-hán cùng các thần thông.
Các Tỳ-kheo không hiểu tại sao lần này ông ở lâu, được
các ông giải thích là trước đây ông còn quyến luyến thế
gian nên rời bỏ Tăng đoàn, nay đã cắt hết mọi trói buộc
nên không bỏ đi nữa. Các Tỳ-kheo không tin, thưa lại với
Thế Tôn câu chuyện. Phật bảo:
-
Ðúng vậy, các Tỳ-kheo! Ðệ tử của Ta khi tâm không kiên
định, khi không biết pháp lành thì đi tu cứ hay về nhà.
Nhưng bây giờ ông ta đã buông bỏ cả thiện và ác.
Và
Ngài nói Pháp Cú:
(38)
Ai tâm không an trú,
Không
biết chân diệu pháp,
Tịnh
tín bị rúng động,
Trí
tuệ không viên thành.
(39)
Tâm không đầy tràn dục
Tâm
không (bận) công phá,
Ðoạn
tuyệt mọi thiện ác,
Kẻ
tỉnh không sợ hãi.
Một
hôm các Tỳ-kheo lại bàn tán về Tỳ-kheo đi tu bảy lần và
hoàn tục bẩy lần, cũng vì tham dục xấu xa tại hại ghê
gớm. Phật vào Pháp đường ngồi xuống Phật tòa, nghe thế
liền dạy:
-
Quả vậy các Tỳ-kheo! Tham dục xấu xa rất là tai hại. Giả
sử mấy thứ tham dục ấy có hình dạng cụ thể để ta đem
bỏ đâu, thì một thế giới cũng còn quá nhỏ, cõi trời
Ðại Phạm cũng còn quá thấp, không chứa nổi chúng. Ta không
thể đắt chúng vào đâu cả. Ngay một người trí tuệ và
dòng dõi cao qúy như Ta cũng bị chúng áp đảo nữa. Thử hỏi
ai có thể tả được ảnh hưởng của nó? Trong một tiền
kiếp, chỉ vì một xị đậu giống và cái cuốc cùn mà Ta
đã đi tu và ra đời sáu lần liên tiếp.
Các
Tỳ-kheo hỏi:
-
Chuyện đó xảy ra hồi nào, Bạch Thế Tôn?
-
Các ông muốn nghe sao? Ðó là:
Chuyện
quá khứ
Kuddàla
Và Cái Cuốc
Ngày
xưa, thời Phạm-ma-đạt cai trị Ba-la-nại, có một người
thiện trí tên Kuddàla,
có nghĩa là "vị Thánh Cuốc"
Ông
là một tu sĩ ngoại đạo đã sống tám tháng trong Hy-mã-lạp-sơn.
Một đêm vào mùa mưa, thấy mặt đất ẩm ướt ông nhớ
đến ở nhà còn một chai đậu giống. Sợ giống hư ông trở
lại thế gian lấy cuốc dọn một miếng đất nhỏ, tỉa đậu
và rào chung quanh. Ðậu già, ông hái xuống, để một số
trong chai làm trái giống, phần còn lại thì ăn. Nhưng chẳng
bao lâu ông lại chán cuộc sống thế gian, vào núi tu suốt
tám tháng. Cứ như thế, chỉ vì chai đậu giống và cái cuốc
cùn, ông đi tu đến bảy lần.
Lần
thứ bảy, ông chợt nghiệm ra rằng chỉ vì cây cuốc cùn
này mà phải đi tu rồi lại hoàn tục mãi nên quyết định
ném bỏ nó, luôn cả chai đậu giống. Ông đến bờ sông Hằng
buộc cái chai đậu giống trong một miếng vải buộc vào cán
cuốc, tay nắm chạt đầu cuốc, nhắm mắt lại, quay cuốc
ba vòng trên đầu rồi ném xuống sông. Ông cố tình làn như
thế để đừng thấy chỗ cuốc rơi, sợ sau này động tâm
lại xuống sông vớt lên. Và ông la lớn ba lần lớn:
-
Ta đã chiến thắng! Ta đã chiến thắng!
Lúc
bấy giờ vua Ba-la-nại vừa trở về sau cuộc dẹp loạn ở
biên giới, cắm trại bên bờ sông Hằng và xuống sông tắm.
Chợt nghe tiếng Kuddàla
vang lên liền hỏi:
-
Chỉ có ta vừa mới hạ được kẻ thù mới gọi là chiến
thắng, còn ngươi cũng xưng chiến thắng, nghĩa là sao?
Kuddàla
đáp:
-
Ngài đã chiến thắng bọn giặc cướp ở bên ngoài. Chiến
thắng của Ngài có thể sẽ bị thua trở lại. Còn tôi đã
chiến thắng một kẻ thù ở bên trong, kẻ cướp tên là Tham
Dục.
Hắn sẽ không bao giờ thắng tôi được nữa. Chiến thắng
được hắn mới thực sự là chiến thắng.
Rồi
ông đọc bài kệ sau:
Chiến
thắng không thực sự.
Khi
bị thua trở lại.
Chiến
thắng là thật sự.
Khi
chẳng còn bị bại.
Cùng
lúc ấy, do nhìn sông Hằng và quán tưởng về yếu tố nước,
ông đạt thần thông. Ông bay lên trời, ngồi kiết già trong
hư không.
Nhà
vua sau khi nghe bài thuyết của Bồ-tát Kuddaala liền đảnh
lễ Ngài, xin được nhận làm tu sĩ. Vua cùng toàn quân đông
dài khoảng một dặm đường đều đi tu. Vua nước láng giềng
nghe tin muốn đánh chiếm vương quốc Ba-la-nại, nhưng khi thấy
thành quách thịnh vượng đó trống không, mới hiểu rằng
một vị vua từ bỏ một kinh thành tráng lệ như thế để
đi tu chắc chắn là không phải muốn bị trói buộc. Vua bèn
đảnh lễ Bồ-tát xin được đi tu với đoàn tùy tùng của
mình. cứ như thế bảy vị vua lần lượt đi tu. Cùng với
hội chúng đông đảo đó, Bố-tát Kuddaala sống đời Phạm
hạnh và sanh lên cõi trời Ðại phạm.
Thế
Tôn kết luận:
-
Các Tỳ-kheo! Lúc đó Ta là Kuddàla.
Hãy học từ chuyện này để biết tham dục nguy hiểm trầm
trọng đến mức nào.
6.
Tỳ Kheo Và Thần Cây
Biết
thân như đồ gốm ...
Thế
Tôn đã dạy như thế khi ngụ tại Xá-vệ, liên quan đến
các Tỳ-kheo khai mở Minh-sát-tuệ.
Tại
Xá-vệ có năm trăm Tỳ-kheo nhận từ Phật để mục thiền
quán hướng đến quả vị A-la-hán. Với ý định hết lòng
hành thiền, họ đi xa một trăm dặm đến một làng rộng
lớn. Dân làng dâng chỗ ngồi, cúng cháo ngon và các loại
thức ăn khác, và khi biết các Tỳ-kheo cần chỗ ở thích
hợp, liền mời thỉnh ở lại suốt ba tháng, nghĩ rằng dưới
sự chỉ dạy của các Ngài họ sẽ có nơi vững vàng để
thọ Tam quy Ngũ giới. Các Tỳ-kheo ưng thuận và được chỉ
đến khu rừng lớn kế cận.
Kể
từ đó những vị thần đức hạnh trong rừng lo lắng không
dám để vợ con trèo lên cây trú ngụ. Họ tuột hết xuống
đất, chưa biết tính sao, cứ đoán già đoán non là nếu các
Tỳ-kheo ngồi dưới cội cây đêm nay thì sáng mai họ sẽ
rời khỏi rừng. Nhưng ngày kế, sau khi khất thực trong làng
các Tỳ-kheo lại trở về khu rừng cũ. Thần cây lại hy vọng
nếu bây giờ các Tỳ-kheo chưa đi thì ngày mai có người thỉnh
cúng chắc sẽ đi. Nhưng ngày qua ngày chẳng có gì thay đổi,
thần cây và vợ con rất khổ sở vì phải ở dưới đất
hết nữa tháng. Vì nghi các tỳ-kheo có thể sẽ ở lại đến
ba tháng, họ tính kế đuổi các Tỳ-kheo đi. Họ biến hóa
cho các Tỳ-kheo thấy những chiếc đầu không thân, những
thân mình không đầu và cho nghe tiếng yêu quái. Ðồng thời
các Tỳ-kheo phiền não vì hắt hơi, ho và những bệnh tật
khác nữa, nên quyết định rời khu rừng trở về chỗ của
Phật. Sau khi đảnh lễ Phật, cung kính ngồi xuống một bên
và được Phật hỏi, các Tỳ-kheo thưa:
-
Bạch Thế Tôn, nhiều việc đáng sợ đã xuất hiện trước
mặt chúng con, Chỗ đó thật khó ở, chúng con phải quyết
định ra di.
Phật
dạy:
-
Các Tỳ-kheo, các ông nên trở về ở lại chính ngay chỗ đó
mới tốt.
-
Chúng con không dám, bạch Thế Tôn.
-
Các Tỳ-kheo, lần đầu đến đó các ông không đem theo vũ
khí. Bây giờ các ông phải đem theo vũ khí.
-
Vũ khí gì, bạch Thế Tôn?
-
Ta sẽ cho.
Và
Ngài đọc toàn bộ kinh Từ Bi, bắt đầu là người muốn
tìm lợi ích tinh thần cho mình, tức là muốn đạt đến cõi
tịch tĩnh an lạc, cần phải lương thiện, chánh trực, hiền
lành, hoà nhã và không tự cao tự đại. Ngài dạy tiếp:
-
Các Tỳ-kheo, hãy tụng đọc kinh này trong rừng, bên ngoài
ngôi tinh xá ẩn tu, thì các ông sẽ vào được tinh xá.
Các
Tỳ-kheo vâng theo, đảnh lễ Thế tôn rồi ra đi. Ðến bên
ngoài nơi ẩn tu, họ đồng loạt tụng bài kinh và vào chỗ
cư ngụ. Kết quả, những vị thần khắp khu rừng đều có
cảm tình thân thiện với các Tỳ-kheo. Họ đến gặp các
Ngài, xin cho đỡ y bát, dâng nước rửa tay chân, bố trí canh
gác bảo vệ khắp nơi và cùng ngồi chung với các Tỳ-kheo.
Không còn nghe tiếng ma quái, tâm các Tỳ-kheo trở nên yên
tĩnh. Tọa thiền dù đêm dù ngày, các Tỳ-kheo đều cố gắng
đạt Minh sát tuệ. Họ chuyên tâm thiền quán về tính hoại
diệt ngay trong thân mình: "Thân này mỏng manh, không bền, như
chiếc bình gốm." Cuối cùng các Tỳ-kheo khai mở Minh sát tuệ.
Ðức
Thế Tôn ngồi ở hương thất biết như thế liền dạy:
-
Ðúng vậy, các Tỳ-kheo! Thần này mỏng manh không bền, giống
như chiếc bình gốm.
Rồi
vẫn ngồi ở hương thất cách các Tỳ-kheo một trăm dặm,
Ngài phóng quang ảnh, hiện đến trước mặt các Tỳ-kheo,
thân phát hào quang sáu màu rực rỡ và dạy Pháp Cú:
(40)
Biết thân như đồ gốm,
Trú
tâm như thành trì,
Chống
ma với gươm trí,
Giữ
chiến thắng không tham.
7.Vì
Bạo Ác Nổi Mụn Nhọt
Không
bao lâu thân này ...
Ðức
Phật dạy câu trên lúc ở Xá-vệ liên quan đến Trưởng lão Pùtigatta
Tissa.
Một
chàng trai sống ở Xá-vệ, nghe Phật thuyết pháp liền hướng
tâm về đạo, xin được xuất gia vào Tăng đoàn, khi thành
Tỳ-kheo được gọi là Trưởng lão Tissa.
Thời gian sau, mụn nhọt bỗng nổi lên khắp người ông. Trước
tiên là những mụt mủ không lớn hơn hột cải, rồi tăng
dần bằng hột đậu tây, đậu Hà Lan, hạt táo,và bằng trái
"vilva". Cuối cùng mụn
nhọt vỡ ra và toàn thân trưởng lão lở loét, vì thế Ngài
có tên là Pùtigatta tissa.
Về sau xương Ngài bắt đầu hư thối, không ai muốn săn sóc
Ngài. Y trong và ngoài của Ngài bị dính máu khô nhìn như bánh
lưới. Bạn cùng liêu không thể săn sóc nên đuổi Ngài ra
khỏi liêu, để nằm dưới đất chẳng ai giúp đỡ.
Ðức
Phật không bao giờ quên quan sát thế gian mỗi ngày hai lần,
bình minh và chiều đến. Ngài nhìn từ chân trời đến hương
thất không thiếu sót, và thấy Trưởng lão Tissa.
Biết rằng ông sắp chứng A-la-hán và không còn ai nương tựa
ngoài Phật, Thế tôn từ hương thất đi một vòng tinh xá
đến nhà bếp. Ngài rửa nồi nước đặt lên lò than và đợi.
Khi nước đã nóng Ngài đến nắm lấy chân giường tissa.
Lúc
đó các Tỳ-kheo thưa với Phật:
-
Xin Thế Tôn đi trước, chúng con sẽ khiêng ông ta đến nhà
bếp.
Thế
Tôn bảo mang đến một cái chậu và đổ nước nóng vào.
Ngài bảo các Tỳ-kheo cởi ngoại y của Tissa,
giặt bằng nước nóng cho thật sạch rồi phơi khô dưới
ánh nắng. Sau đó, Ngài dùng nước nóng lau mình, kỳ cọ và
tắm nắng. Tắm xong thì ngoại y của ông cũng vừa khô. Thế
Tôn sai mặc ngoại y cho ông và bảo lấy nội y giặt nước
nóng và vừa khô. Khi người ông đã khô ráo thì nội y cũng
vừa khô. Ðược mặc y vàng làm nội y và một cái khác làm
ngoại y Tissa nằm
xuống giường, thân khỏa khắn và tâm an tĩnh. Thế Tôn đứng
nơi đầu giường bảo ông:
-
Tỳ-kheo, thần thức sắp rời ông, chẳng bao lâu thân ông
sẽ thành vô dụng như khúc gỗ nằm lăn trên đất.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(41)
Không bao lâu thân này,
Sẽ
nằm dài trên đất,
Bị
vất bỏ, vô thức,
Như
khúc cây vô dụng.
Cuối
Bài kệ Trưởng lạo Pùtigatta
Tissa chứng A-la-hán và nhập Niết-bàn. Thế Tôn
cho tiến hành lễ Trà-Tỳ, lấy xá-lợi và xây bảo tháp thờ
phụng.
Các
Tỳ-kheo thắc mắc hỏi Thế Tôn:
-
Bạch Thế tôn! Trưởng lão Tissa tái
sanh về đâu?
-
Ông ta nhập Niết-bàn.
-
Bạch thế tôn! một Tỳ-kheo sắp chứng A-la-hán tại sao thân
còn bệnh như thế, xương ung thối? Hành nghiệp kiếp trước
của ông như thế nào mà ông chứng được A-la-hán?
-
Các Tỳ-kheo, mọi việc xảy ra đều do hành nghiệp kiếp trước.
-
Ông ta đã làm gì, thưa Thế Tôn?
-
Các Ông hãy lắng nghe:
Chuyện
quá khứ:
Người
Bẫy Chim Bạo Ác.
Trong
thời Phật Ca-diếp, trưởng lão Tissa là
người bẫy chim. Ông bắt được rất nhiều chim, đa số mang
vào hoàng cung hoặc mang đi bán. Nếu giết chim đi và cất
lại quá lâu không đem bán thì thịt chim sẽ hư thối, và
để giữ chim khỏi bay mất ông thường bẻ xương chân và
xương cánh của chúng, dồn đống chúng lại một chỗ để
đem ra bán ngày hôm sau. Nếu bẫy được quá nhiều, ông cũng
đánh chén vài con.
Một
hôm thức ăn nấu chín thơm phức vừa dọn lên, có một vị
A-la-hán dừng chân trước cửa nhà ông khất thực. Ông bỗng
thấy lòng thanh thản, thầm nghĩ mình đã giết hại và thịt
nhiều sinh mạnh nên muốn cúng dường Ngài. Và ông đỡ bình
bát, bỏ đầy những món ăn thơm, năm vóc gieo xuống đất,
đảnh lễ về thưa:
-
Tôn giả! Xin cho con được vào quả vị cao nhất mà Ngài đã
chứng.
Trưởng
lão hồi hướng công đức cho ông sẽ được như vậy.
Các
Tỳ-kheo, do công đức đã làm này, phước báo đã đến với
ông như thế. Vì ông đã bẻ chân chim nên tứ chi ông bệnh
hoạn và xương ông ung thối. Vì ông cúng dường thức ăn
ngon cho A-la-hán nên ông chứng quả A-la-hán.
8. Nanda
Chăn Bò
Kẻ
thù hại kẻ thù...
Ðức
Phật lúc ngụ tại Kosala đã
dạy cho Nanda người
chăn bò giáo lý này.
Trưởng
giả Cấp-cô-độc ở Xá-vệ có người chăn bò tên Nanda.
Ông giàu có, tài sản dư dả, nhiều thú vui. Người ta nói,
giống như nhà ẩn sĩ bện tóc Kennigan
xuất gia làm đạo sĩ. Nanda chăn
bò và quản lý tài sản cho vua để giữ vững tài sản riêng
của mình. Nhiều lần Nanda
đem năm sản phẩm lấy từ bò đến nhà ông Cấp-cô-độc,
gặp đức Ðạo sư, nghe pháp và thỉnh Ðạo sư đến nhà
riêng. Phật không nhận lời ngay mà chờ đến khi trí huệ
của Nanda chìn
muồi. Khi đó Phật cùng chúng Tỳ-kheo đi khất thực. Ðến
gần nhà Nanda,
Ngài và chư Tăng ngồi xuống dưới một cội cây.
Nanda đến
đảnh lễ Thế tôn, chào hỏi thân tình và thỉnh Thế Tôn
cho phép ông cúng dường cả Tăng chúng trong bảy ngày vời
năm thực phẩm chọn lọc từ bò. Ngày cuối tuần cúng dường,
Thế Tôn hồi hướng công đức cho ông và giảng thêm những
bài pháp về bố thí cúng dường. Cuối thời pháp, Nanda người
chăn bò chứng quả Dự Lựu. Sau đó ông cầm binh bát cho Thế
Tôn, đưa tiễn một dặm đường, đến khi Phật bảo dừng
ông mới trở lui về nhà.
Trên
đường đi, Nanda
bị một thợ săn bắn tên chết. Các Tỳ-kheo trên đường
trở về, thấy vậy bèn đến gặp thế tôn thưa hỏi:
-
Bạch Thế Tôn! Vì Ngài đến đó, Nanda đã
cúng dường nhiều thực phẩm, tiễn Ngài một đoạn đường
và bị giết khi trở về. Nếu Ngài không đến đó thì ông
ta không chết.
Phật
đáp:
-
Các Tỳ-kheo! Dù ta có đến hay không, dù Nanda có
đi bốn phương Tám hướng, ông ta cũng không tránh khỏi cái
chết. Bởi vì một khi giặc cướp hay kẻ thù không làm hại
chúng sanh trong cõi đời này được, thì chính cái tâm hư
hỏng, tà vạy của họ có thể hại họ được vậy.
Và
Phật nói kệ sau:
(42)
Kẻ thù hại kẻ thù,
Oan
gia hại oan gia,
không
bằng tâm hướng tà,
Gây
ác cho tự thân
Vì
các Tỳ-kheo không hỏi Nanda đã
làm gì trong kiếp trước nên Phật không nói đến.
9.
Vừa Là Cha Vừa Là Mẹ
Ðiều
mẹ cha, bà con...
Thế
Tôn dạy câu trên khi ngài ngụ tại Kỳ viên trong Thành Xá-vệ,
cho vị chưởng khố, tức trưởng lão Soreyya.
Chuyện bắt đầu tại thành Soreyya và
kết thúc ở Xá-vệ.
Khi
bậc Chánh Ðẳng Giác ngụ tại Xá-vệ, thì ở thành Soreyya con
của vị chưởng khố tên Soreyya,
ngồi trên xe kiệu với một người bạn thân và đám tùy
tùng đông đảo, ra ngoài thành đi tắm. Họ gặp trưởng lão
Ðại ca-chiên-diên đang đắp đại y trước khi vào thành khất
thực. Thân thể vàng óng của trưởng lão đập vào mắt Soreyya khiến
anh không khỏi buột miệng: "Ồ! phải chi Trưởng lão này
là vợ ta! Hoặc giả vợ ta có nước da được như thế!"
Ý muốn vừa dấy khởi thì anh biến thành đàn bà. Bối rối
và hổ thẹn, anh bước xuống xe và vụt bỏ chạy. Những
người đi theo không biết việc gì xảy ra nhao nhao lên:
-
Thế nghĩa là gì? Thế nghĩa là gì?
Soreyya mang
thân phụ nữ bỏ đi về phía Takkasilà.
Người bạn chung xe kiếm anh khắp nơi không thấy. Tắm xong
mọi người về nhà. Họ lắp bắp trả lời với cha mẹ anh
là anh đã về trước. Ðến phiên cha mẹ anh đi tìm khắp
nơi vẫn không thấy, hai ông bà khóc lóc than van; cuối cùng
cho là anh đã chết, họ làm đám tang.
Soreyya,
bấy giờ là phụ nữ gặp đoàn thương buôn cùng hướng về Takkasilà,
bèn theo sát xe ông trưởng đoàn. Trong đoàn chú ý đến cô,
và thắc mắc không biết cô là con cái nhà ai. Cô bảo họ
cứ đi xe còn cô đi bộ theo. Ði hết một đoạn đường dài,
cô lo lót họ với chiếc nhẫn làm quà để xin một chỗ ngồi
trên xe. Họ nghĩ, đến con trai chưởng khố thành Xá-vệ chưa
có vợ, và muốn làm mai cho cô, mong được quà cáp hậu hỷ.
Thấy cô hợp tuổi mình và quá đẹp, anh ta bằng lòng cưới
cô.
(Ai
cũng phải trải qua thân phận khi làm đàn ông, khi làm đàn
bà. Như ngài A-nan, người đầy đủ đức tính toán hảo trong
trăm ngàn kiếp, và là một Ðại đệ tử, đã từng là thợ
rèn ở một kiếp trong vòng luân hồi, phạm tội với vợ
người khác bị đọa địa ngục, và sau đó vì quả báo của
hành động xấu chưa hết, Ngài phải trải qua mười bốn
kiếp làm vợ người khác cộng thêm bảy kiếp nữa mới dứt
nghiệp. Mặt khác, không muốn làm đàn bà nữa, và lập nghiệp
được tái sanh làm đàn ông, sẽ được như ý. Ngoài ra, những
đàn bà vợ cư xử tốt với chồng sẽ tái sanh làm đàn ông.
Nhưng Soreyya đã
dại dột mơ tưởng tới Trưởng lão, nên ngay trong kiếp này
đã biến thành đàn bà).
Cô Soreyya
có thai và sau mười tháng sanh một bé trai. Khi đứa bé chập
chững biết đi thì cô sanh đứa thứ hai. Như thế Soreyya trước
là cha hai đứa con sanh ở thành Soreyya,
nay là mẹ hai đứa nữa sanh ở thành Takkasilà,
tất cả là bốn đứa. Một hôm con vị chưởng khố, bạn
đồng hành khi xưa của Soreyya,
rời thành Soreyya với
năm trăm xe đi đến thành Takkasilà.
Lúc đó cô Soreyya đứng
nơi cửa sổ trên lầu cao nhất trong lâu đài nhìn xuống đường
nhận ra anh bạn, liền sai tỳ nữ mời vào căn phòng lớn,
tiếp đãi kính trọng như thường lệ.
Khách
nói với chủ nhà:
-
Thưa bà, tôi chưa hề biết bà nhưng bà đón tiếp tôi quá
tốt. Bà biết tôi sao?
Chủ
nhà từ tốn:
-
Phải ông ạ. Tôi biết ông rất rõ. ông không còn ở trong
thành Soreyya à?
-
Vâng, thưa bà.
Và
bà chủ nhà hỏi thăm sức khỏe cha mẹ vợ con mình lúc trước.
Khách trả lời tất cả đều khỏe và chất vấn tiếp:
-
Bà biết họ à?
-
Vâng ông ạ, tôi biết họ rất rành. Và này ông, họ có một
anh con trai, hiện nay không biết ở đâu?
Khách
buồn bã kể lại chuyện đau lòng năm xưa, chủ thú thật:
-
Này ông, chính tôi là anh ta đấy!
-
Thôi đi bà! Bà nói gì lạ thế? Anh ta là bạn thân của tôi,
anh ta như một thiên thần trẻ trung, là một người đàn ông.
-
Ấy thế đó! Nhưng tôi lại chính là anh ta đấy, hoàn toàn
đúng như thế.
-
Thế là thế nào?
-
Ngày đó, ông có nhớ là đã trong thấy Trưởng Lão Ðại
ca-Chiên-diên không?
-
Vâng, tôi nhớ là có gặp Ngài.
-
Bỗng dưng lúc đó tôi chợt nghĩ phải chi Trưởng lão là
vợ mình hoặc vợ mình có được nước da như Trưởng lão.
Tức khắc tôi biến thành đàn bà. Tôi liền bỏ chạy một
mạch đến xứ này.
-
Ồ thật là tai hại! Tại sao anh không nói với tôi? Mà anh
đã sám hối không?
-
Ngài đang ở gần đây, ngay trong thành này.
-
Ngài đến đây ư? Tôi muốn cúng dường vật thực cho Trưởng
lão.
-
Tốt lắm, hãy chuẩn bị đầy đủ. Tôi sẽ thuyết phục
Trưởng lão tha lỗi cho anh.
Rồi
người bạn ngày xưa của Soreyya đến
chỗ Trưởng lão, đảnh lễ Ngài, cung kính ngồi một bên
xin Trưởng lão nhận lời cúng dường ngày mai. Ngài nhận
lời. Sáng hôm sau Ngài đến đứng trước cửa nhà. Con của
chưởng khố dâng Ngài chỗ ngồi và những thức ăn chọn
lọc. Rồi ông dẫn người đàn bà đến phủ phục dưới
chân Ngài kể lại tự sự và xin được tha thứ.
Trưởng
lão hoan hỷ:
-
Tốt lắm, hãy đứng lên. Ta tha thứ cho bà.
Trưởng
lão vừa dứt câu, Soreyya
lập tức biến trở lại thành đàn ông. Người chồng cũ
của Soreyya trấn
an anh:
-
Bạn thân! Vì anh đã là mẹ trong khi tôi là cha của hai đứa
bé này. Chúng thật sự là con của cả hai chúng ta. Vậy chúng
ta vẫn tiếp tục sống lại đây. Ðừng khó chịu.
Soreyya:
-
Này bạn, tôi trải qua hai lần chuyển hóa trong một đời
người. Trước tiên tôi là đàn ông, biến thành phụ nữ
giờ trở lại làm đàn ông. Ban đầu tôi là cha của hai đứa
bé, mới đây là mẹ của hai đứa nữa. Bạn đừng nghĩ rằng
sau khi đã trải qua hai lần chuyển hóa trong một kiếp sống,
tôi bằng lòng sống đời tại gia nữa. Tôi sẽ đi tu theo
Trưởng lão của tôi. Bổn phận của bạn là nuôi dưỡng
hai đứa bé này. Chớ xao lãng.
Nói
xong Soreyya hôn
hai đứa con, ôm vào lòng và trao lại cho người cha, bước
ra khỏi nhà, và trở thành tu sĩ theo Trưởng Lão. Trưởng
lão thuận cho anh vào Tăng đoàn, nhận cho anh làm tròn bổn
phận, dẫn anh cùng về thành Xá-vệ. Và anh trở thành Trưởng
lão Soreyya.
Dân
cư trong xứ nghe chuyện rất xúc động và xôn xao, đến hỏi
Trưởng lão Soreyya có
thật như thế không, và tình cảm dành cho hai đứa con nào
mạnh hơn. Trưởng lão trả lời thương hai đứa gọi bằng
mẹ hơn. Xong trưởng lão rút lui khỏi đám đông. Khi ngồi
thì ngồi một mình, khi đứng thì đứng một mình. Sống độc
cư như thế, Ngài quán chiếu về sự hoại diệt, và chúng
A-la-hán cùng những thần thông. Kề từ đó có ai hỏi Ngài
thương hai đứa bé nào hơn thì Ngài trả lời rằng không
đặt tình cảm lên đứa nào cả. Các Tỳ-kheo nghe vậy cho
là Ngài nói dối, và thưa chuyện đến Phật. Phật trả lời:
-
Các Tỳ-kheo! Ðệ tử ta không nó dối. Tâm đệ tử Ta hoàn
toàn chất trực từ khi ông ta thấy đạo. Không có cha mẹ
nào có thể mang đến lợi lạc cho mình mà chỉ có tâm hướng
về chánh đạo làm được điều tốt đẹp.
Nói
xong Phật nói Pháp Cú:
(43)
Ðiều mẹ cha, bà con,
Không
có thể làm được,
Tâm
hướng chánh làm được,
Làm
được tốt đẹp hơn.