IV.
Phẩm Hoa
1.
Ðất Của Tâm
Ai
chinh phục đất này...
Thế
Tôn nói như trên khi ngài ở Xá-vệ để dạy năm trăm Tỳ-kheo
đang phí thì giờ bàn luận về đất.
Một
buổi chiều, các Tỳ-kheo trở về Kỳ-viên sau cuộc hành trình
khắp xứ với đức Thế Tôn và tụ tập tại giảng đường.
Họ bắt đầu bàn về dạng đất khác nhau từ làng này đến
làng nọ, tức là bằng phẳng và không bằng phẳng, nhiều
bùn, nhiều sỏi, đất sét đen, đất sét đỏ.
Ðức
Phật đến, hỏi chuyện và dạy rằng:
-
Các Tỳ-kheo! đó là đất ở bên ngoài. Các ông có bổn phận
làm sạch mảnh đất tâm bên trong.
Rồi
ngài nói Pháp Cú:
(44)
Ai chinh phục đất này,
Dạ-ma,
thiên giới này,
Ai
khéo giảng Pháp cú,
Như
người khéo hái hoa?
(45)
Hữu học chinh phục đất,
Dạ-ma,
Thiên giới này,
Hữu
học giảng Pháp Cú,
Như
người khéo hái hoa.
2.
Một Tỳ Kheo Chứng A-La-Hán
Biết
thân như bọt nước...
Ðức
Phật dạy câu trên cho một Tỳ-Kheo đang quán chiếu về ảo
ảnh khi Ngài ngụ tại Xá-vệ.
Một
Tỳ-kheo nhận đề tài thiền quán từ Phật, vào rừng để
hành thiền. Dù đã dốc hết sức lực phấn đấu vẫn chưa
chứng quả A-la-hán, ông bèn đến Thế Tôn xin để tài thiền
quán khác thích hợp hơn.
Trên
đường đi ông thấy ảo ảnh, và biết rằng vào mùa nắng
ở xa ta thường thấy những hình ảnh trông như thật, nhưng
đến gần thì biến mất, cuộc đời này cũng vậy, không
thật vì có sanh có diệt. Và chú tâm vào ảo ảnh ông Thiền
quán. Trên đường về mệt mỏi, ông tắm trong dòng Aciravatì,
rồi ngồi dưới bóng cây trên bờ sông gần một thác nước.
Ông nhìn những bọt nước to, nổi lên rồi vỡ toang do sức
nước đập mạnh vào đá. Ông nhận ra rằng cuộc đời cũng
vậy, sinh rồi diệt, và ông lấy đó làm đề tài thiền quán.
Ðức
Thế Tôn ngồi trong hương thất, thấy biết vị Tỳ-kheo như
vậy liền bảo:
-
Này Tỳ-kheo, đúng vậy. Cuộc đời này cũng giống như bọt
nước hoặc ảo ảnh, có sinh và có diệt.
Và
ngài nói Pháp cú:
(46)
Biết thân như bọt nước,
Ngộ
thân là như huyễn,
Bẻ
tên hoa của ma,
Thoát
tầm mắt thần chết.
3.
Vua Vidùdabha Trả Thù Họ Thích Ca
Người
nhặt các loại hoa ...
Thế
Tôn dạy câu này ở Xá-vệ do câu chuyện vua Lưu Ly (Vidùdabha)
cùng binh lính bị lũ lụt cuốn chết.
Tại
Xá-vệ có hoàng tử Ba-tư-nặc con vua Kosala,
tại Tỳ-xá-ly có hoàng tử Mahàli
thuộc dòng Lệ-xá, tại Câu-thi-na có hoàng tử Bandhuala
con vua nước Mallas.
Cả ba đều đến một vị thầy lỗi lạc ở thành Hoa Thị
để học tập. Tình cờ gặp nhau trong một quán trọ ngoại
thành, họ hỏi thăm nhau lý do đến đây, tên tuổi, dòng họ,
và sau đó họ kết bạn với nhau. Họ cùng học chung một
thấy, chẳng bao lâu sở đắc nhiều học thuật, họ rời
thầy cùng lên đường về nhà.
Ông
hoàng Ba-tư-nặc đã làm vua cha mãn nguyện với tài nghệ của
mình nên được truyền ngôi. Ông hoàng Mahàli
thì tận tụy giáo hóa các ông hoàng Lệ-xá đến nỗi mù
mắt. Các ông hoàng đồng lòng cấp dưỡng cho ông, và ông
tiếp tục dạy năm trăm ông hoàng Lệ-xá nhiều môn học thuật
khác nhau. Riêng ông hoàng Bandhuala thì
bị các ông hoàng dòng Mallas thách
thức bảo chặt những bó tre gồm sáu mươi cây tre, mỗi bó
có chèn thêm một thanh sắc vào giữa và được treo lơ lửng
trên không. Bandhula
nhảy cao tám mươi cubits (khuỷu tay) dùng kiếm chém. Khi chặt
đến bó cuối, nghe tiếng sắt lách cách ông không biết tại
sao, và khi hiểu tự sự ông quăng kiếm bặt khóc, trách bà
con và bạn bè chẳng ai báo cho ông biết, vì nếu biết, ông
sẽ có cách chặt mà không làm cho miếng sắt kêu. Xong ông
thưa với cha mẹ ông xin giết hết các ông hoàng Mallas,
và sẽ thay họ cai trị dân. Cha mẹ ông ngăn cản với lý
do là vương quốc phải được cha truyền con nối và dùng
mọi cách thuyết phục ông bỏ ý định này. Ông bèn bỏ đi
đến Xá-vệ sống với bạn mình.
Vua
Ba-tư-nặc nghe tin đón ông vào thành với vinh dự đặc biệt,
và tấn phong chức thống lãnh quân đội. Bandhula cho
mời cha mẹ đến và ngụ luôn tại Xá-vệ.
Một
hôm, vua Ba-tư-nặc đứng trên sân thượng nhìn xuống đường,
thấy hàng ngàn Tỳ-kheo đi thọ thực về hướng nhà ông Cấp
Cô Ðộc, tiểu Cấp Cô Ðộc, Tỳ-xá-khư và Suppavàsà.
Vua ngạc nhiên hỏi và khi biết rằng mỗi ngày có hai ngàn
Tỳ-kheo đến nhà ông Cấp Cô Ðộc, năm trăm đến nhà ông
Tiểu Cấp Cô Ðộc và cũng khoảng số đó đến nhà của
Tỳ-xá-khư và Suppavàsà
để nhận cúng đường thức ăn, thuốc men và nhiều thứ
khác, vua cũng muốn cúng đường nên đến tinh-xá thỉnh Phật
và một ngàn Tỳ-kheo đến hoàng cung thọ thực. Vua dâng cúng
bảy ngày và đến ngày cuối đảnh lễ và thỉnh Phật với
năm trăm Tỳ-kheo tiếp tục thường xuyên đến thọ thực.
Vì chư Phật không bao giờ đến thọ thực thường xuyên một
chỗ, nên Thế Tôn cử trưởng lão A-nan dẫn Tăng Chúng.
Trong
bảy ngày, nhà vua đích thân sớt bát cho chúng Tăng, không
cho phép ai làm thế. Ðến ngày thứ tám vua xao lãng bổn phận.
Các Tỳ-kheo đến cung vua thọ trai nghĩ rằng vua không hạ
lệnh cho ai làm thế nên không có ai lo chỗ ngồi và phục
vụ chúng Tăng. Nhiều vị bỏ đi. Ngày kế tiếp cũng vậy
và thêm một số nữa ra đi. Ðến hôm sau nữa, các Tỳ-kheo
đi hết trừ Trưởng lão A-nan.
Những
người thực sự hằng sống với chánh kiến thì làm chủ
được mọi tình huống để giữ vững niềm tin cho thí chủ.
Thế Tôn có hai đệ tử tăng nòng cốt là Trưởng lão Xá-lợi-Phất
và Mục-kiền-liên, hai ni nồng cốt là Khemà
và Liên Hoa Sắc, hai nam cư sĩ nồng cốt trưởng giả Citta và Hatthaka
Alavaka, hai nữ cư sĩ nồng cốt Velukantakì,
mẹ của ngài Nan-đà và Khujjutarà.
Tóm lại, tất cả những môn đệ, bắt đầu với tám vị
này, những vị nào đã lập nguyện, đã viên mãn Thập độ
Ba-la-mật và như thế là những bậc đại công đức. Trưởng
lão A-nan cũng vậy, đã lập nguyện, đã viên mãn Thập độ
suốt một trăm ngàn kiếp, và đã là một bậc đại công
đức. Do đó Ngài không sờn lòng trước bất cứ cảnh nào,
và đã ở lại để giữ tín tâm cho nhà vua. Như vậy, chỉ
một mình ngài A-nan được dâng chỗ ngồi và cúng đường.
Mãn
giờ thọ trai, vua đến và thấy thức ăn còn nguyên chưa đụng
đến, bèn hỏi lý do. Ðược biết các Tỳ-kheo đã về hết,
ngoại trừ ngài A-nan, ông giận dữ thấy sự thiệt hại và
đến ngay Phật thưa:
-
Bạch Thế tôn, con đã chuẩn bị cho năm trăm Tỳ-kheo mà hiện
giờ chỉ có một mình ngài A-nan. Thức ăn còn nguyên không
ai đụng đến, mà không thấy bóng dáng các Tỳ-kheo tại hoàng
cung. Xin Thế tôn cho con biết lý do.
Ðức
Phật không quy lỗi cho các Tỳ-kheo, chỉ trả lời:
-
Ðại vương, đệ tử của Ta không tin cậy nơi Ðại vương.
Ðó là lý do họ không đến.
Rồi
Phật dạy các Tỳ-kheo trong những điều kiện nào các Tỳ-kheo
không bắt buộc phải đến nhà thí chủ, và điều kiện nào
thích đáng để các Tỳ-kheo nên đến, trong bài kinh như sau:
-
Này các Tỳ-kheo, một gia đình thí chủ nếu có chín điểm
không đủ tư cách thì Tỳ-kheo không nên đến viếng. Như
vậy Tỳ-kheo không đến viếng gia đình ấy vì họ không có
bổn phận phải đến. Nếu họ có đến thăm thì cũng không
có bổn phận phải ngồi lại. Chín điểm ấy là gì? Ðó
là:
1)
Người trong gia đình không đứng lên đón các Tỳ-kheo một
cách vui vẻ.
2)
Họ không chào mời các Tỳ-kheo một cách vui vẻ.
3)
Họ không mời ngồi một cách vui vẻ.
4)
Họ giấu giếm những gì họ có.
5)
Có nhiều, cho ít.
6)
Có thức ăn thượng hạng, cho thức ăn tồi tàn.
7)
Thay vì cúng dường một cách tôn kính, họ cúng dường một
cách vô lễ.
8)
Họ không ngồi nghe pháp.
9)
Họ không nói chuyện với giọng hoan hỷ.
Ngược
lại, một gia đình có chín điểm đủ tư cách thì có quyền
nhận sự thăm viếng của các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo chưa đến
gia đình ấy thì nên đến, đã đến rồi thì nên ngồi. Chín
điểm ấy là gì?
1)
Họ đứng lên để gặp các Tỳ-kheo một cách vui vẻ.
2)
Họ chào hỏi một cách vui vẻ.
3)
Họ mời ngồi một cách vui vẻ.
4)
Họ không giấu diếm những gì họ có.
5)
Có nhiều, cho nhiều.
6)
Có thức ăn thượng hạng, cho thức ăn thượng hạng.
7)
Họ không cúng dường một cách vô lễ. Họ cúng dường một
cách tôn kính.
8)
Họ ngồi nghe pháp.
9)
Họ nói chuyện với giọng hoan hỷ.
Phật
nói tiếp:
-
Ðại vương, vì lý do này đệ tử của Ta thiếu lòng tin nơi
ông, vì lý do này họ đã không đến. Ngay cả những bậc
minh triết thuở xưa ở nhằm một nơi không an vui, tin tưởng,
dù được phục vụ đầy đủ vẫn bị khổ sở đến lâm
trọng bệnh, phải bỏ đến một nơi lòng họ thấy an vui,
tin cậy.
Vua
hỏi chuyện xảy ra lúc nào, Thề Tôn kể lại:
Chuyện
quá khứ:
3A. Kesava,
Kappa, Nàrada Và
Vua Thành Ba La Nại.
Thuở
xưa khi Phạm-ma-đạt cai trị xứ Ba-la-nại có một nhà vua
tên Kesava từ
bỏ ngai vàng, đi tu cùng với năm trăm tùy tùng sống đời
ẩn sĩ. Kappa, người
giữ kho báu cho vua cũng đi tu và trở thành đệ tử của vua. Kesava và
đoàn tùy tùng ở tám tháng trong xứ Hy-mã-lạp-sơn. Mùa mưa,
họ đến thành Ba-la-nại tìm muối, giấm, và vào thành khất
thực. Vua Ba-la-nại hân hoan đón họ, được Kesava
hứa ở lại suốt bốn tháng mưa. Vua cất nhà trong vườn
và sáng chiều lui tới phục vụ.
Những
ẩn sĩ đệ tử của Kesava,
ở đó được vài ngày thì rất bực mình vì tiếng voi và
thú khác nên đến gặp Kesava cằn
nhằn và đòi đi về Hy-mã-lạp-sơn. Kesava không
thuận vì đã hứa ở lại bốn tháng mưa, nhưng họ vẫn khăng
khăng xin đi, viện cớ họ không được thầy họ cho biết
trước. Cuối cùng họ xin đến một nơi cách đây không xa,
để có thể biết được tin tức vế thầy họ. Rồi họ
đảnh lễ Kesava,
lên đường, để lại một mình Kesava
ở lại trong cung vua. Không bao lâu Kappa cũng
bất mãn. Dù vị thầy cố gắng thuyết phục nhiều lần, Kappa cũng
bỏ đi và gặp lại những người trước.
Vị
thầy nhớ nghĩ liên miên đến các đệ tử của mình. Sau
một thời gian, ông nhuốm bệnh vì nội tâm bất an. Vua mời
thầy thuốc nhưng không thuyên giảm. Cuối cùng ẩn sĩ Kesava bảo
vua nếu muốn cho ông được khỏe thì đưa ông đến các đệ
tử. Vua chấp thuận, đặt ẩn sĩ lên giường, sai bốn quan
đại thần dẫn đầu bởi Nàrada khiêng
ông đến nhóm đệ tử, không quên dặn họ cho vua biết tin
ẩn sĩ sống ra sao.
Kappa nghe
tin đến gặp ông, và các đệ tử cũng tụ tập lại, dâng
thầy nước nóng, nhiều loại trái cây. Ông khỏi bệnh chỉ
trong vài ngày, thân thể trở lại màu vàng chói.
Nàrada hỏi
ông:
Ngài
bỏ vị vua giàu mạnh.
Sẵn
lòng đáp đủ nhu cầu.
Ðến
Kappa, chốn Rừng sâu.
Thiếu
thốn, Ngài sao an ổn?
-
Cây cối đây xanh tươi, êm ả,
Làm
lòng ta khoan khoái vô cùng.
Lời
Kappa dịu ngọt, khiêm cung.
Ta
mãn nguyện, Nàrada ạ.
-
Gạo nàng hương nấu chung thịt ngọt.
Ngài
từng quen vị tột đậm đà.
Nay
kê cùng gạo lạt rừng già.
Mùi
thanh đạm Ngài Kham có nổi?
-
Vật thực cho dù ngon dù dở.
Ít
oi hay là được phong nhiêu.
Tin
tưởng nhau, vui sống thương yêu
Lòng
tin tưởng, vị ngon nào sánh nổi?
Thế
Tôn kết thúc bài học và hợp nhất.
-
Vua lúc đó là Mục-kiền-liên, Nàrada
là Xá-lợi-phất, đệ tử Kappa là
A-nan và Ẩn sĩ là Ta. Như thế, Ðại Vương, thuở xưa người
trí cũng phải chịu đựng sự đau đớn và cần đến nơi
xứng đáng với lòng tin. Ðệ tử của Ta không tin cậy ông,
không còn nghi ngờ gì nữa.
(Hết
chuyện quá khứ)
Nhà
vua vì muốn mua chuộc lại lòng tin của Tăng đoàn nên nghĩ
cách là cưới một cô gái thân tộc của Thế Tôn. Như thế
các Sa-di và những người tập tu sẽ đến cung vua, vì bây
giờ là thân tộc với Thế Tôn.
Vua
gởi sứ giả đến. Họ Thích bối rối không biết tính sao
vì vua là kẻ thù của họ, nếu từ chối sẽ bị vua phá
hoại, hơn nữa vua lại không cùng đẳng cấp.
Vua
Thích Mahànàma đề
nghị gả con gái của mình tên Vàsabhakhattiyà,
là một con của một tỳ thiếp. Sứ giả về thuật lại.
Vua hân hoan vì biết Thích Mahànàma
là anh em chú bác với Thế Tôn. Vua cử sứ giả đi đón cô
gái, không quên dặn dò.
-
Những ông hoàng thuộc giai cấp chiến sĩ này rất dối trá,
ngươi chỉ đưa cô ta về khi chắc chắn cô ta cùng ngồi ăn
với cha.
Mọi
việc xong xuôi, và sau đó Vàsabhakhattihà
được tấn phong hoàng hậu với năm trăm cung nữ theo hầu.
Chẳng bao lâu bà sanh một hoàng nam. Vua vui sướng sai người
hầu đem tin đến cho Thái Thái hậu, tức là bà nội vua để
xin đặt tên. Thái thái hậu thốt lên:
-
Trước khi sanh hoàng nam, hoàng hậu đã được lòng mọi người.
Bây giờ chắc vua càng phải "sủng ái" hoàng hậu hơn hết.
Nhưng
người hầu này lãng tai, do anh ta nghe lầm chữ "Vallbhà"
là sũng ái thành "Vidùdabha"
(tức lưu ly) nên về tâu với vua.
-
Thái thái hậu bảo đặt tên cho hoàng tử là Lưu Ly.
Vua
tuân theo, vì nghĩ rằng đó là một tên rất xưa trong hoàng
tộc. Dù còn nhỏ, hoàng tử được ban chức cho thống lãnh
quân đội vì vua tin rằng như thế sẽ làm vui lòng Thế tôn.
Hoàng
tử lúc bảy tuổi thấy các hoàng tử khác được bà ngoại
tặng voi, ngựa và nhiều quà khác, thèm thuồng hỏi mẹ sao
mình không có. Hoàng hậu đành trả lời là ông bà ngoại
thuộc dòng họ Thích ở xa lắm. Lên mười sáu tuổi chàng
lại nói với mẹ muốn đi thăm bên ngoại, bà lại thối thác
bảo xa lắm đi làm gì, chàng đòi mãi, cuối cùng bà mẹ xiêu
lòng cho đi với đoàn tùy tùng đông đảo và một lá thư
dặn dò. Dù vậy, họ Thích vẫn đối xử với chàng lạnh
nhạt, họ cho các ông hoàng nhỏ về quê hết nên không ai
đến chào kính chàng. Họ giới thiệu với chàng cộc lốc:
-
Ðây là ông ngoại bạn, đây là chú bạn.
Ở
lại vài ngày, hoàng tử Lưu ly cùng đoàn tùy tùng lên đường
trở về. Một tỳ nữ lau chùi chỗ ngồi của chàng tại nhà
nghỉ hoàng gia với nước và sữa, đã nói giọng khinh bỉ:
-
Ðây là chỗ ngồi của con trai nàng hầu Vàsabhakhattyyà.
Một
người lính bỏ quên thanh kiếm trở lại lấy, nghe hết lời
cô tỳ nữ. Ðiều tra và biết rằng Vàsabhakhattyyà
là con gái của một tỳ nữ của Thích Mahànàma,
anh ta loan tin trong quân đội làm náo động mọi người. Hoàng
tử Lưu Ly biết chuyện thề rằng: "Bây giờ họ Thích lau
chỗ ngồi của ta bằng sữa với nước, khi ta làm vua trong
vương quốc của ta, ta sẽ lau chỗ ngồi của ta bằng máu
phun ra từ cổ họng họ."
Ðoàn
quân về đến Xá-vệ thì tin tức cũng đến tai vua. Tức giận
giòng họ Thích, ông truất phế hoàng hậu và hoàng tử, giáng
xuống làm người hầu.
Vài
ngày sau, Thế Tôn đến hoàng cung, vua bạch lại tự sự. Thế
Tôn khuyên vua:
-
Ðại vương! họ Thích làm thế không đúng. Muốn gả con cho
vua họ phải lựa người cùng đẳng cấp. Nhưng này Ðại
vương! Ta cần nói thêm cho ông rõ Vàsabhakhattyyà
là con gái của vị vua đã nhận lễ phong vương thuộc giai
cấp chiến sĩ, và Vidùdabha
cũng là con của vua. Có quan trọng gì gia đình người mẹ?
Chỉ có gia đình người cha mới thật là thước đo địa
vị xã hội. Minh quân thời xưa vẫn phong hoàng hậu cho một
cô gái lượm củi nghèo nàn, và hoàng tử con của cô là vua
xứ Ba-la-nại, một thành rộng mười hai dặm, tên vua là Katthavàhana.
Rồi
Thế Tôn kể chuyện bổn sanh Katthavàhana.
Vua nghe pháp sanh tâm hoan hỷ và phục hồi vương tước cho
hoàng hậu và hoàng tử.
Tại
Câu-thi-na, cô Mallikà
con gái của ông Mallikà,
và bà vợ của Bandhula vị
thống lãnh quân đội, đã từ lâu hiếm muộn không sinh nở. Bandhula
đuổi cô về nhà. Trước khi về cô vào kỳ-viên đảnh lễ
Thế Tôn và đứng hầu. Thế Tôn hỏi thăm, cô kể lại và
được Ngài khuyên hãy trở lại nhà chồng. Bandhula
được nàng thuật lời dạy của đấng thập lực, biết rằng
Phật có lý do nào đó nên chấp thuận.
Chẳng
bao lâu Mallikà mang
thai, và chợt thèm được tắm và uống nước trong hồ sen
ở Vệ-xá-ly của các ông hoàng Lệ-xá thường dành cho buổi
lễ đăng quang. Bandhula chiều
ý lấy cây cung mà một ngàn người mới giương nổi, đặt
vợ lên xe và đánh xe từ Xá-vệ đến Vệ-xá-ly, vào thành
bằng cổng dành cho ông hoàng Lệ-xá Mahàli.
Nghe tiếng xe của Bandhula,
Mahàli đang ở trong ngôi nhà sát bên cổng, hiểu
ngay là các ông hoàng Lệ-xá sắp bị phiền nhiễu.
Hồ
sen được canh gác kỹ lưỡng từ trong lẫn ngoài. Bên trên
hồ có giăng một lưới sắt, mắt nhỏ đến nỗi chim bay
không lọt. Tướng lãnh Bandhula
ngang nhiên xuống xe, tấn công lính canh, đuổi họ chạy rồi
xé lưới sắt, xuống hồ sen cùng tắm với vợ. Xong ông ra
khỏi thành, theo con đường cũ trở về.
Lính
canh báo động cho các ông hoàng Lệ-xá. Họ phẫn nộ mang
năm trăm xe đuổi theo, quyết bắt cho kỳ được Bandhula
và Mallikà. Nhưng Mahàli ngăn
lại vì sợ họ bị giết hết. Mặc, họ vẫn ra đi. Mahàli
lại cảnh cáo họ, hãy quay lại khi thấy xe của Bandhula lún
xuống đất trên trục xe, nếu họ vẫn chạy tiếp sẽ nghe
tiếng sét nổ trước mặt, nếu họ không quay lại sẽ thấy
một lỗ hổng trên ách xe của họ, khi đó họ chớ nên đi
xa hơn. Mặc, họ vẫn đuổi theo không quay lại.
Mallikà
trông thấy xe đuổi phía sau, báo với chồng, Bandhula dặn
khi tất cả xe xếp thành hàng chữ nhất thì cho biết. Lúc
đó ông trao dây cương cho vợ rồi nâng cung lên, bánh xe của
ông liền lún xuống đất đến trục xe. Các ông hoàng vẫn
đuổi theo. Ông búng dây cung, tiếng nổ vang lên như sét đánh.
Họ vẫn không quay lại. Ông bắn một mũi tên thành một lỗ
hổng trước mỗi xe, xuyên qua thắt lưng của năm trăm ông
hoàng và chui xuống đất. Các ông hoàng Lệ-xá không biết
là mình đã bị bắn, lại cố la to:
-
Dừng lại! Dừng lại!
Và
họ vẫn tiếp tục đuổi theo. Bandhula
dừng xe nói:
-
Các anh toàn là người chết. Ta không đánh nhau với người
chết!
-
Chúng ta là người chết sao?
-
Hãy nới lỏng thắt lưng của vị chỉ huy trưởng các anh!
Họ
nới lỏng thắt lưng ông hoàng kia. Ngay lúc ấy, ông ta ngả
xuống chết.
Bandhula
nói:
-
Tất cả các anh cùng chung cảnh ngộ. Hãy về nhà giải quyết
mọi việc cần thiết, dặn dò vợ con lần cuối, sau đó hãy
cởi giáp.
Họ
làm theo lời, và cuối cùng những ông hoàng ấy ngã ra chết
hết.
Bandhula
dẫn Mallikà về
xá-vệ.
Mallikà sinh
đẻ tất cả mười sáu lần, lần nào cũng sinh đôi. Con của
bà đều dũng kiện, sức mạnh phi thường thành đạt nhiều
học thuật. Mỗi người có một ngàn tùy tùng. Mỗi khi theo
cha đến hoàng cung, sân chánh điện chật ních người của
họ.
Có
lần trong một vụ án lừa đảo, Bandhula xử
lại vụ kiện sáng suốt và công bằng, người chủ thật
sự được quyền hợp pháp. Dân chúng hoan hô và tán thán
ông. Chuyện đến tai vua, các quan tòa bị cách chức, mọi
quyền hành được vua giao lại cho Bandhula.
Thấy quyền lợi bị thiệt hại, các quan tòa gây chia rẽ
trong hoàng tộc bèn loan tin Bandhula
muốn chiếm ngai vàng. Vua tin lời họ, muốn trừ khử Bandhula
nên mua chuộc một số người, bảo họ nổi loạn ở biên
giới và phái Bandhula
đi dẹp loạn, đồng thời ngầm sai một nhóm lính hùng mạnh
đi theo ông để chặt đầu ông và ba mươi hai người con mang
về. Kết quả xảy ra đúng như vua mong muốn.
Ngày
hôm ấy, Mallikà mời
hai đại đệ tử của Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo đến nhà
trai tăng. Bà nhận thư báo hung tin, xem xong thản nhiên cất
thư vào túi áo, và tiếp tục thết đãi tăng chúng như không
có việc gì xảy ra. Lúc bấy giờ các tỳ nữ đang dâng thức
ăn, sẩy tay làm bể hũ mật trước mặt các Trưởng Lão.
Ngài xá-lợi-phất khuyên bà đừng quan tâm đến đồ vật
vì bản chất của chúng là bể nát. Mallikà rút
bức thư trong túi ra thưa:
-
Con vừa nhận được tin chồng và các con đều bị chặt đầu,
lòng con chẳng hề xao xuyến, huống hồ một cái hũ bể, thưa
tôn Giả?
Vị
thống soát của niềm tin đọc bài kệ bắt đầu như sau:
"Tuổi thọ chúng sanh đây, bao lâu thật khó biết...".
Thuyết
pháp xong ngài đứng dậy trở về tinh xá, Mallikà
gọi ba mươi hai nàng dâu đến khuyên nhủ:
-
Chồng các con không có tội lỗi gì, chỉ lãnh quả báo nghiệp
ác đời trước. Ðừng đau buồn, đừng than khóc! Hãy yêu
thương, đừng oán giận nhà vua!
Gián
điệp của vua nghe được, tâu lại, vua cảm động vô cùng,
đến gặp Mallikà
xin bà và các con dâu tha thứ, và vua sẽ ban cho bà một ân
huệ. Bà nhận lời.. Cúng giỗ cho chồng và các con xong, bà
đi tắm rồi đến cung vua xin được ân huệ là trở về quê
với các con dâu. Các con dâu về nhà họ, còn bà về nhà mình
ở Câu-thi-na. Vua ban chức thống lãnh quân đội cho Dìghakàràyana,
một người cháu của Bandhula.
Nhưng ông này đi đâu cũng mắng nhiếc vua là đã giết chú
của mình.
Kể
từ ngày giết oan Bandhula,
vua ăn năn đau khổ, lòng bất an và chẳng còn niềm vui nào
trong việc an dân trị nước. Thời gian đó đấng Ðạo sư
đang ngụ gần ngôi làng nhỏ Ulumpa của
họ Thích. Vua cắm trại cách đó không xa. Ông đến tinh xá
đảnh lễ Thế Tôn với số ít người hầu thân tín. Vua bước
vào hương thất một mình, sau khi giao năm thứ biểu trưng
vương vị cho Dìghakàràyana
(Kinh Dhammacetiya đã
kể như vậy).
Ông
này nhận năm món ấy xong liền tôn hoàng tử Lưu Ly lên ngôi,
trở về Xá-vệ, chỉ để lại một con ngựa và một tỳ
nữ.
Vua
thăm hỏi Thế Tôn xong trở ra không thấy quân lính, hỏi tỳ
nữ biết tự sự, bèn định cùng với cháu bắt Lưu ly. Ông
đi Vương-xá, đến cổng thành trời đã tối. Kiệt sức vì
phơi mình ngoài nắng gió, vua Ba-tư-nặc nằm nghỉ trong một
quán trọ và tắt thở ngay đêm ấy.
Trời
hừng sáng, người ta nghe tiếng đàn bà than khóc:
-
Vua của xứ Kosala
hỡi! Ngài chỉ còn một mình, mất hết người che chở rồi!
Tân
vương thành Vương Xá được họ đến báo tin bèn cử hành
tang lễ trọng thể.
Nhớ
lại thù xưa, vua Lưu Ly dẫn một đoàn quân ra khỏi thành
cốt giết cả dòng họ Thích. Thế Tôn quan sát thế gian vào
buổi sáng, thấy thân tộc sắp bị tiêu diệt, có ý muốn
bảo vệ. Ngài đi khất thực, trở về nằm nghiêng bên phải
như sư tử trong hương thất. Chiều, Ngài bay lên trời và
ngồi xuống một gốc cây trơ trọi, ít bóng mát, trong vùng
lân cận Ca-tỳ-la-vệ. Cách đó không xa, có một cây đa thật
to, bóng mát che rợp, nằm ở bên biên giới của vương quốc
Lưu Ly. Vua Lưu Ly ngạc nhiên tại sao Thế Tôn không ngồi dưới
bóng mát cây đa khi trời quá nóng bức, bèn hỏi Thế Tôn
và được Ngài trả lời:
-
Ðừng lo lắng! Ðại vương! Bóng mát của thân bằng quyến
thuộc là Ta mát mẻ.
Vua
biết ý Thế Tôn muốn che chở dòng họ nên đảnh lễ Ngài,
quay về Xá-vệ. Thế Tôn cũng đứng lên bay về Kỳ Viên.
Lòng
thù hận học Thích vẫn chưa nguôi ngoai, vua lại ra đi lần
thứ hai. Thấy Thế Tôn còn ở chỗ cũ, vua đành quay về.
Lần thứ ba cũng vậy. Ðến lần thứ tư, Phật quán sát thấy
rõ hành động quá khứ của dòng họ Thích là đã ném thuốc
độc xuống sông; biết không thể ngăn chặn được quả báo
nên Ngài không đi đến gốc cây trơ trọi nữa. Thế là vua
Lưu Ly với binh lực hùng hậu mặc tình tiến tới.
Thân
tộc của Thế Tôn giữ giới nên không giết hại kẻ thù
mình, họ thà chết hơn đoạt mạng sống kẻ khác. Họ mặc
giáp lên đường chiến đấu, hy vọng dùng tài ba của mình
khiến kẻ địch bỏ chạy. Những xạ thủ tài giỏi họ Thích
khéo léo điều khiển mũi tên bắn xuyên qua khiên và kẽ hở
lỗ tai, mà không trúng ai cả. Vua Lưu Ly thấy tên bay không
tin rằng họ Thích giữ lời hứa không sát hại kẻ thù, nhưng
khi đếm lại số người của mình còn nguyên, ông mới hết
nghi ngờ. Tuy vậy ông vẫn ra lệnh bộ hạ giết hết họ
Thích, trừ những người theo Thích Mahànamà.
Họ
Thích đứng trên đất của mình, không còn biết cách xoay
sở nào khác nên một nhóm ngậm lá cỏ trong răng, nhóm khác
cầm lau sậy chực sẵn. Khi được hỏi có phải họ Thích Sàkiyas
không, thì họ trả lời hoặc không phải Sàka(rau)
mà là cỏ, hoặc không phải Sàka
(rau) mà là sậy. Nhờ vậy, hai nhóm này thoát chết. Sau, những
người cầm lau sậy có tên là Thích-lau. Vì chữ sàka
(rau) có âm tương tự chữ Sàkiyas (Thích)
nên họ nói trớ để khỏi phạm giới vọng ngữ. Vua Lưu
Ly chỉ tha những người đi theo Thích Mahànamà,
ngoài ra trừ tiệt hết họ Thích không chừa đứa trẻ nằm
nôi. Vua Lưu Ly đã gây ra một dòng sông máu, lau chỗ ngồi
của mình bằng máu phun từ cổ họ Thích.
Vua
trở về, bắt theo Thích Mahànama.
Ðến giờ ăn sáng, vua muốn cùng ăn với ông ngoại Mahànama.
Giai cấp chiến sĩ thà chịu chết hơn cùng ăn với con của
nô lệ, vì vậy ông từ chối, nhưng lại sợ vua giết mình,
tấn thoái lưỡng nan đành chọn tự kết liễu đời mình.
Ông viện cớ tay chân lấm bẩn xin đi tắm. Rồi ông xỏa
tóc xuống, thắt gút ở đuôi, thóc ngón chân to lớn của
ông vào tóc, lao mình xuống nước. Do công đức của ông,
long cung bị nóng lên. Long vương ngạc nhiên bèn đến chỗ
ông, đặt ông ngồi trên vây và đưa ông đến long cung.Ông
ở lại đó mười hai năm. Vua Lưu Ly đợi mãi không thấy
ông, cho lệnh rọi đèn xuống hồ tìm, khám xét trong mớ quần
áo của bộ hạ ông nhưng không thấy ông đâu cả. Cho rằng
ông đã đi, vua Lưu Ly lên đường. Vua đến sông Aciravatì
trong đêm và cắm trại ở lại. Ðoàn tùy tùng của vua một
số nằm trên bờ trên cát trong lòng sông cạn, một số nằm
trên bờ đất cứng. Người nằm trên bờ cát là những người
không phạm tội ác đời trước, bị kiến cắn nên lội khỏi
bờ cát lên nằm trên bờ đất; còn những người nằm trên
bờ đất là những người phạm tội các đời trước, nên
khiến lội xuống bờ cát trong lòng sông. Ngay lúc ấy một
cơn bão thổi đến, mưa trúc xuống không ngớt. Lũ lụt tràn
ngập con sông, cuốn vua Lưu Ly và đoàn tùy tùng xuống biển
làm mồi cho cá và rùa.
Dư
luận xôn xao về việc họ Thích bị tàn sát và cho đó là
bất công. Ðức Phật giải thích là không phải bất công
nếu biết nghiệp quá khứ, vì kiếp trước họ đã âm mưu
ném thuốc độc xuống sông. Các Tỳ-kheo cũng lại bàn tán
trong Pháp đường, Phật liền dạy:
-
Các Tỳ-kheo! Trong lúc các chúng sanh này lo thỏa mãn tham vọng
của họ, Diêm vương cắt ngắn mạng sống của họ và ném
họ vào bốn biển phiền não, giống như lũ lụt cuốn trôi
ngôi làng đang say ngũ.
Và
Ngài nói Pháp Cú:
(47)
Người nhặt các loại hoa,
Ý
đắm say, tham nhiễm,
Bị
thần chết mang đi,
Như
lục trôi làng ngũ.
4.
Người Tôn Vinh Chồng
Người
nhặt các loại hoa ....
Thế
Tôn nói lên câu này lúc ở Xá-vệ, liên quan đến cô Patipùjikà,
tức là người tôn vinh chồng.
Ở
cõi trời ba mươi ba có một vị trời tên là Màlabhàrì
- người mang vòng hoa - vào vườn cảnh cùng với một ngàn
thiên nữ. Một nửa số thiên nữ trèo lên cây ném hoa xuống,
một nửa ở dưới đất nhặt hoa rơi, trang điểm cho vua trời.
Một thiên nữ đang ngồi trên cành cây thì qua đời, thân
biến mất như một ánh đèn tắt, và tái sanh trong một gia
đình có địa vị tại Xá-vệ. Cô nhớ lại tiền kiếp nên
lớn lên thường dâng cúng hương hoa, để cầu nguyện được
tái sanh về với người chồng kiếp trước.
Mười
sáu tuổi cô được gả chồng. Bất cứ khi nào cúng dường
chư Tỳ-kheo thức ăn theo phiếu rút thăm, thức ăn ngày rằm
và ba mươi mỗi tháng hay suốt mùa mưa, cô đều nguyện được
trở về với người chồng kiếp trước. Các Tỳ-kheo bảo
cô luôn tích cực và bận rộn chỉ vì ước muốn đó, và
gọi cô là Patipùjikà,
người tôn vinh chồng. Cô thường phục vụ tại hội đường,
lo nước uống và chỗ ngồi cho các Tỳ-kheo. Mỗi khi có ai
muốn cúng dường thức ăn theo phiếu rút thăm, hoặc thức
ăn ngày rằm và ba mươi, họ đều đưa đến cho cô để dâng
lên Tăng chúng. Phục vụ như thế, cô đã được năm mươi
sáu thiện pháp cùng một lúc. Về đời sống gia đình, cô
lần lượt sanh được bốn người con.
Một
hôm sau khi cúng dường và đảnh lễ các Tỳ-kheo, nghe pháp
và thọ trì giới xong, đến chiều tối, cô thình lình mắc
bệnh, qua đời và tái sanh về với chồng trước. Suốt thời
gian đó các thiên nữ vẫn đang nhặt hoa trang điểm cho vua
trời. Màlabhàrì
thấy cô hỏi thăm cô đi đâu, cô kể lại đầu đuôi và
sống buông lung thay vì bố thí cúng dường, và cứ luân hồi
vô số kiếp, không biết đến già và chết. Vua trời tội
nghiệp và thay cho thế gian, cứ sống say chết ngủ,không
biết đến bao giờ mới thoát khỏi phiền não đau khổ. (Một
trăm năm cõi người bằng một ngày đêm cõi trời. Ba mươi
ngày đêm cõi trời thành một tháng, mười hai tháng là một
năm và một kiếp trời dài một ngàn năm trời, tức ba mươi
sáu triệu năm ở cõi người).
Hôm
sau các Tỳ-kheo vào làng, đến hội đường không có ai chăm
lo, không chỗ ngồi, không nước uống và được biết là Patipùjikà
đã qua đời. Tỳ-kheo nào chưa chứng Sơ quả, nhớ lại lần
ân cần tiếp đãi của cô, không cầm được nước mắt;
còn những Tôn giả đã chứng A-la-hán thì thấm thía pháp
vị.
Các
Tỳ-kheo sau giờ tiểu thực, thưa hỏi Thế Tôn về cô, và
được biết cô đã tái sanh về cõi trời ba mươi ba với
người chồng trước đúng theo sở nguyện. Họ ngậm ngùi
cho kiếp người quá ngắn ngủi, mới sáng nay dâng thức ăn
cho Tăng chúng, chiều đã bệnh và qua đời. Ðức Phật bèn
dạy:
-
Các Tỳ-kheo! Thế gian này mạng sống của chúng sanh rất ngắn
ngủi. Do đó trong khi họ đang còn mong muốn danh lợi thế
gian, và tham đắm dục lạc chưa thỏa mãn, thì tử thần đã
áp đảo họ mang đi trong tiếng khóc than.
Rồi
Thế Tôn nói kệ:
(48)
Người nhặt các loại hoa,
Ý
đắm say tham nhiễm,
Các
dục chưa thỏa mãn,
Ðã
bị chết chinh phục.
5. Kosiya Keo
Kiệt
Như
ong đến với hoa ...
Khi
ngụ tại Xá-vệ, Thế Tôn dạy câu này, liên quan đến chưởng
khố Niggardly Kosiya.
Tại
thành phố Jaggery,
gần Vương Xá có chưởng khố Niggardly
Kosiya tài sản lên đến tám trăm triệu đồng,
nhưng chẳng bao giờ bố thí, dù chỉ một giọt dầu nhỏ
xíu đủ đọng trên đầu ngọn cỏ, thậm chí còn không dám
ăn. Của cải nhiều như thế mà con trai, con gái và cả Tỳ-kheo,
Bà-la-môn đều không được hưởng cứ còn nguyên vẹn, giống
như một hồ nước bị ma ám.
Sáng
sớm đức Phật xuất định Ðại bi Tam-muội, dùng Phật nhãn
quán sát hàng tín hữu của Ngài trong khắp vũ trụ, và thấy
cách Ngài bốn mươi lăm dặm có vị chưởng khố và bà vợ
đủ duyên lành được hóa độ.
Ngày
trước đó, chưởng khố đến hoàng cung chầu vua. Trên đường
về ông thấy một người nhà quê gần chết đói, đang ăn
cái bánh tròn đầy cháo chua. Ông phát đói bụng. Khi về nhà,
ông nghĩ nếu nói ra chuyện mình đói người khác cũng đói
ăn theo, thì sẽ tốn biết bao, nào mè, mật mía, đường thô
và nhiều thứ khác, chi bằng im đi. Ông đi bách bộ, chịu
đựng cơn đói. Hàng giờ trôi qua, mặt ông tái mét, càng
lúc càng xanh xao vàng vọt, gân nổi khắp người. Cuối cùng
hết chịu nổi, ông về phòng, nằm vật xuống ôm chặt thanh
giường. Tuy quá đau đớn vì đói, nhưng nghĩ đến của cải
bị tốn kém hao phí, ông chẳng dám hé môi.
Vợ
ông đến thăm ông, xoa lưng hỏi han:
-
Phu chủ, có việc gì vậy?
-
Không.
-
Nhà vua làm ông buồn bực?
-
Không.
-
Nếu thế thì ... hay là ông cần gì, thèm gì?
Ông
nhảy nhổm vì đúng ngay vết thương lòng. Nhưng lòng tiếc
của cũng bừng dậy khiến ông một lần nữa ôm bụng im lặng
chịu trận.
Bà
vợ, chắc nghĩ rằng mình đoán gần đúng nên năn nỉ tiếp:
-
Phu chủ, nói cho tôi nghe đi! Ông thèm món gì?
Chưởng
khố chịu hết nổi, thều thào chữ còn chữ mất:
-
Ừ, tôi thèm một thứ.
-
Thèm gì nào, phu chủ?
-
Tôi muốn ăn một cái bánh chiên!
-
Ồ! sao không nói sớm? Ông có nghèo túng gì đâu! Tôi đủ
sức bao ăn hết cả thành Jaggery.
-
Trời! Ai bảo bà lo cho thiên hạ vậy? Họ muốn ăn thì ráng
làm ra tiền mà mua chứ?
-
Thế thì, tôi chỉ đãi bà con dọc đường này.
-
Bà lại phung phí quá!
-
Nếu thế thì mình mời trong nhà thôi!
-
Tốn kém lắm!
-
Ðể tôi nướng đủ cho vợ chồng con cái mính ăn thôi.
-
Sao bà tính chi nhiều dữ vậy?
-
Ðược rồi, chỉ có tôi với ông ăn nhe!
-
Bà cũng cần ăn sao?
-
Ðược lắm, một mình ông thôi.
Ðể
tránh cặp mắt nhiều người, ông dặn vợ để lại hạt
gạo nguyên, chỉ dùng hạt bể, lấy lò than, khuôn nướng
bánh, một chút sữa với mật mía, mật ong và đướng thô,
rồi leo lên tầng chót tòa nhà bảy tầng nướng bánh, và
ông sẽ ngồi ăn tại chỗ. Bà vợ chỉ biết vâng theo.
Sáng
sớm, Thế Tôn bảo Trưởng lão Mục-kiều-liên đến thành Jaggery trên
tầng thứ bảy nhà chưởng khố để độ ông ta, dạy cho
ông biết xả bỏ, rồi đem cả hai ông bà về Kỳ Viên cùng
với bánh, sữa, mật, đường bằng thần thông. Phật sẽ
cùng năm trăm Tỳ-kheo ngồi trong tinh xá thọ thực bánh chiên.
Chỉ
trong khoảnh khắc, Trưởng lão đã đứng lơ lửng giữa trời,
trước cửa sổ lầu bảy, hào quang rực rỡ. Chưởng khố
trông thấy Ngài, run như cầy sấy. Ông đã trốn lên tận
đây cũng vì sợ có người đến khất thực. Vậy mà ông
bạn này lại lù lù hiện ra. Không biết rằng Trưởng lão
muốn là được, chưởng khố thở phì phò giận dữ, nghe
như muối và đường ném vào lửa. Ông quát lên:
-
Ông Tỳ-kheo! Ông muốn gì mà đứng lơ lửng trên không vậy?
Ông có tới tới lui lui cho đến khi vạch thành một con đường
trên trời cũng chẳng được gì đâu!
Trưởng
lão vẫn thản nhiên đi tới đi lui trước cửa sổ như trước.
Chưởng khố quát tiếp:
-
Ông chờ đợi gì mà đi tới đi lui hoài vậy? Ông có ngồi
kiết già đi nữa cũng chẳng được gì.
Trưởng
lão bắt chân ngồi kiết già.
-
Dù ông có đứng trên thành cửa sổ cũng thế thôi.
-
Dù ông phun ra khói cũng thế thôi.
Chưởng
khố nói thế nào là Trưởng lão làm đúng y. Cho nên, cuối
cùng toàn bộ ngôi nhà khói phủ mù mịt. Chưởng khố cảm
thấy như mắt bị kim đâm. Sợ cháy nhà, ông ráng nén không
dám nói: "Dù ông có phun ra lửa cũng thế thôi." Ông nghĩ thầm:
"Ông thầy này bám dai như keo. Nếu không cho cái gì, ổng không
chịu đi đâu." Ông đành bảo vợ làm một cái bánh nhỏ để
tống khứ trưởng lão. Bà lấy cục bột nhỏ bỏ vào nồi.
Bột phồng lên thành cái bánh to đầy tràn cả chảo. Ông
vò đầu bứt tai:
-
Trời! Bà lấy cục bột lớn quá!
Rồi
đích thân ông dích một cục bột nhỏ xíu trên đầu muỗng
bỏ vào nồi. Bột lại phình to hơn cái trước. Cứ thế,
cái bánh nướng sau to hơn cái trước. Cuối cùng rứt cái
bánh ra khỏi rổ, nhưng tất cả dính lại với nhau. Bà cầu
cứu ông, nhưng cố hết sức ông cũng không tách ra được.
Mồ hôi tuôn khắp mình, ông hết thèm, liền bảo bà đưa
hết rổ bánh cho Tỳ-kheo. Trưởng lão thuyết pháp cho hai ông
bà, nêu công hạnh của Tam bảo, bắt đầu với câu "Sự bố
thí là cách tế lễ chơn chánh nhất". Ngài giải thích phước
báo của hạnh bố thí và các công đức khác, rõ ràng như
mặt trăng trong bầu trời.
Nghe
xong ông phát tín tâm, mời Trưởng lão đến gần, ngồi xuống
giướng thọ thực. Mục-kiền-liên bảo ông bà mang bánh đến
chỗ Thế Tôn cúng dường. Ngài sẽ mang cả hai đi bằng thần
thông. Ðầu cầu thang trong lâu đài sẽ vẫn ở chỗ cũ nhưng
chân cầu thang sẽ nằm ngay cổng tinh xá kỳ Viên. Ngài sẽ
mang hai ông bà đến Kỳ viên nhanh hơn là đi từ tầng lầu
trên xuống tầng lầu dưới.
Chưởng
khố đồng ý đề nghị ấy. Trưởng lão bèn để đầu cầu
thang yên chỗ cũ và ra lệnh:
-
Chân thang hãy nằm tại cổng Kỳ Viên.
Thang
hiện ra y như thế. Hai vợ chồng Chưởng khố đến Kỳ Viên
bèn đến trước Thế Tôn thưa đã đến giờ thọ trai. Thế
Tôn vào phòng ăn, ngồi trên Phật tòa soạn sẵn cùng với
Tăng đoàn vây quanh. Chưởng khố dâng nước khai mạc buổi
cúng dường Phật và chư Tăng. Bà vợ đặt bánh vào bình
bát Như Lai. Thế Tôn lấy vừa đủ dùng, các Tỳ-kheo dùng
xong, cả hai ông bà cũng ăn no, nhưng bánh vẫn còn. Sau khi
chia bánh cho toàn thể Tỳ-kheo trong tinh xá và cho những người
xin ăn đồ thừa, bánh vẫn không giảm. Phật dạy đem bánh
ra đổ ngoài cổng Kỳ Viên. Ðến ngày nay chỗ đó có tên
là Hang Bánh.
Hai
ông bà đến chỗ Thế Tôn, đứng kính cẩn một bên. Thế
Tôn hồi hướng công đức, dứt lời cả hai chứng quả Dự
lưu. Rồi họ chào Phật, lên cầu thang ở cổng Kỳ Viên và
về nhà. Từ đó về sau Chưởng khố dùng gia sản tám trăm
triệu đồng dành riêng phục vụ cho Giáo đoàn của Phật.
Chiều
hôm sau, các Tỳ-kheo đến pháp đường bàn tán thần thông
cùng oai lực của Mục-kiền-liên đã chiêu phục chưởng khố.
Phật nghe qua dạy:
-
Này các Tỳ-kheo! Một Tỳ-kheo muốn giáo hóa một gia chủ
không làm hại đức tin, không làm hao của cải, không áp chế
cũng không làm họ để giảng cho họ hiểu công hạnh của
Phật, như con ong đậu trên hoa hút mật. Con ta, Mục-kiên-liên,
đúng là một Tỳ-kheo như thế.
Ðể
tán thán Trưởng lão Mục-kiền-liên, Phật nói Pháp cú:
(49)
Như ong đến với hoa,
Không
hại sắc và hương,
Che
chở hoa, lấy nhụy,
Bậc
thánh đi vào làng.
Ðức
Phật nói tiếp về công hạnh của Ngài, và cho biết đây
không phải lần đầu mà trong kiếp trước Ngài đã từng
cải hóa chưởng khố Niggardly khi
thuyết giảng mối tương quan giữa hành nghiệp và quả báo.
Và Phật kể lại chuyện Bổn sanh Illìsa.
Cả
hai đều chân vòng kiềng
Cả
hai cũng lại khập khiềng què luôn
Nốt
ruồi, mắt lác đúc khuôn
Ta
không thể nói ai là Illìsa.
6.
Ẩn Sĩ Lõa Thể Pàthika.
Không
nên nhìn lỗi người...
Tại
Xá-vệ Phật đã dạy câu trên liên quan đến ẩn sĩ lõa thể Pàthika.
Vợ
một gia chủ tại Xá-vệ lo cung cấp mọi nhu cầu cho ẩn sĩ
lõa thể Pàthika,
xem ông như con đẻ của mình. Bà được người láng giềng
ca tụng pháp nhũ của Phật nên muốn đến tinh xá nghe Pháp.
Nhưng mấy lần đến xin ẩn sĩ đều bị ông khuyên không
nên đi. Vì vậy bà định sẽ mời Thế Tôn đến tư gia để
thuyết pháp.
Chiều
hôm đó, bà cho cậu con trai đến tinh xá để thỉnh Thế Tôn
sáng mai. Cậu bé đi ngang qua thất ẩn sĩ chào, bị ông ta
bảo đừng đi. Cậu không dám cãi lệnh mẹ sợ bị rầy.
Ông ta bèn bảo cậu đừng chỉ cho Thế Tôn đúng đường
đi đến nhà mà chỉ giả bộ như nhà cậu ở gần đó. Rồi
khi về thì cậu phải chạy thật mau, làm như định đi đường
khác. Sau đó, hãy đến gặp ẩn sĩ. Cậu bé vâng lời làm
theo. Khi cậu thi hành mọi việc xong xuôi và trở lại nhà
ẩn sĩ, ông khen ngợi cậu bé và hứa hẹn sẽ cùng nhau ăn
phần dành cúng dường Phật.
Sáng
tinh mơ ngày hôm sau, ẩn sĩ đến nhà bà thí chủ, cùng với
cậu bé ngồi phòng bên trong. Các người láng giềng trét phụ
nhà với phân bò, tô điểm bằng năm thứ hoa, có cả hoa Làja,
và soạn sẵn chỗ ngồi thượng hạng cho Thế Tôn. (Những
người chưa thân cận với chư Phật không biết cách sửa
soạn Phật tòa. Chư Phật cũng không bao giờ cần đến một
người dẫn đường. Khi chư Phật giác ngộ dưới cội Bồ-đề,
làm rúng động mười ngàn thế giới, mọi con đường đều
trở nên rõ ràng đối với các Ngài: đường xuống địa
ngục, đường đến cõïi súc sanh, cõïi ngạ quỷ; lên cõi
người, cõi trời; đến cõi bất tử, Niết-bàn. Chư Phật
không cần phải được chỉ đường đến làng mạc, phố
thị hay bất cứ chỗ nào).
Do
đó sáng sớm đức Phật cầm bát, đắp y đến thẳng nhà
bà thí chủ. Bà ra khỏi nhà một đoạn thật xa để đón
Phật, năm vóc gieo xuống kính lẽ và theo Phật về nhà. Bà
xối nước lên tay phải của Phật và cúng dường thức ăn
hảo hạng cứng và mềm. Bà đỡ lấy bát khi Thế Tôn thọ
thực xong, và thỉnh Ngài hồi hương công đức. Bà lắng nghe
pháp và tán thán Như lai:
-
Hay thay! Hay thay!
Ẩn
sĩ ngồi phía sau nghe thế nổi cáu, không nhận bà là đệ
tử mình nữa, và đứng dậy ra về, không quên hăm he:
-
Ðồ phù thủy! Mi sẽ thiệt hại vì tán thán ông ta.
Sau
đó ông ta dùng đủ lời lăng mạ vị tín nữ và Thế Tôn,
Rồi bỏ đi. Bàng hoàng vì những lời mắng chửi của ẩn
sĩ lõa thể, bà tán tâm, không thể chú ý nghe Thế Tôn thuyết
pháp. Bà thú thật với Thế Tôn và được Ngài khuyên:
-
Ðừng bận tâm đến lời của kẻ ngoại đạo, không cần
chú ý đến một người như thế. Chỉ nên nhìn lỗi mình;
đã phạm hay chưa phạm.
Và
nói Pháp cú:
(50)
Không nên nhìn lỗi người,
Người
làm hay không làm,
Nên
nhìn tự chính mình,
Có
làm hay không làm.
7.
Vua Và Vua Các Vua
Như
bông hoa đẹp tươi...
Thế
Tôn dạy câu này liên quan đến cư sĩ Chattapàni khi
ngài ngụ tại Xá-Vệ.
Cư
sĩ Chattapàni ở
Xá-vệ làu thông Tam tạng Kinh điển và đã chứng Nhị quả.
Một sáng sớm, tuân giữ Bát quan trai giới, đến đảnh lễ
Thế Tôn. Ðối với những vị chứng Nhị quả và các Thánh
đệ tử của Phật, vì đã thệ nguyện trước, không cần
giữ giới Bát quan trai. Những vị ấy, chỉ do công hạnh của
đạo quả, sống đời thánh thiện, ăn ngày chỉ một bữa.
Do đó, đức Thế Tôn nói: "Ðại Vương! Người thợ gốm Ghatikàra ăn
ngày chỉ một bữa, sống đời phạm hạnh, thì đã là người
đạo đức, chính thực." Do đó, những vị đã chứng Nhị
quả đương nhiên ăn ngày một bữa và sống đời thánh thiện).
Nhưng Chattapàni
cũng vẫn giữ giới Bát quan trai. Ông đến đảnh lễ Thế
Tôn rồi cung kính ngồi xuống nghe pháp.
Lúc
bấy giờ vua Ba-tư-nặc ở Kosala cũng
đến để đảnh lễ Thế Tôn, Chattapàni trông
thấy thoáng lo nghĩ không biết phải xử sự thế nào. Ông
đang ngồi với sự hiện diện của Phật, tức vua của các
vua, thì không thể đứng lên chào vua của một nước được.
Thế rồi ông quyết định ngồi yên không đứng dậy, dù
vua Ba-tư-nặc có bất bình cũng đành chịu. Quả nhiên, vua
đảnh lễ Thế Tôn xong cung kính ngồi một bên, mặt không
vui. Thế Tôn thấy vậy bèn bảo:
-
Ðại vương, cư sĩ Chattapàni
là bậc Thiện trí, hiểu biết giáo pháp và thông thuộc Tam
tạng kinh điển, bình thản cả lúc thành công hay thất bại.
Vua
nghe Ngài ca tụng đức hạnh của ông, lòng dịu lại hết
giận.
Sau
đó, một hôm, điểm tâm xong, vua đứng trên lầu hoàng cung
thấy Chattapàni đi
qua sân, tay cầm dù chân mang dép liền ra lệnh gọi ông đến.
Ông bỏ dù, cởi dép đến chào vua và cung kính đứng một
bên.
Vua
hỏi ông:
-
Tại sao ông bỏ dù và cởi dép?
Ông
đáp:
-
Khi thần nghe Ðại Vương cho đòi vào liền để dù và dép
qua một bên trước khi đến gặp ngài.
-
Thế thì, rõ ràng hôm nay ông mới biết ta là vua?
-
Thần luôn luôn biết ngài là vua.
-
Sao hôm trước gặp ta chỗ Thế Tôn, ông không đứng dậy?
-
Ðại vương! Nếu đứng trước vua của các vua mà thần đứng
dậy chào vua một nước thì thiếu cung kính với đấng Thế
Tôn. Vì vậy thần đã không đứng dậy.
-
Không sao, cái gì đã qua hãy cho qua. Ta nghe nói ông thông thạo
những vấn đề liên quan đến đời này và đời sau, và thông
thuộc Tam tạng kinh điển, vậy hãy đến cung cấm tụng đọc
cho các cung phi.
-
Thần không thể làm, Ðại vương!
-
Tại sao vậy?
-
Hoàng cung là nơi nghiêm mật. Ðúng hay sai đều nghiêm trọng,
tâu bệ hạ.
-
Ðừng nói thế. Ngày hôm kia, khi gặp ta ông thấy không cần
đứng dậy chào mà. Ðừng làm thương tổn vết thương thêm
nữa.
-
Ðại vương, nếu một gia chủ làm nhiệm vụ của một Tỳ-kheo
thì là phạm lỗi nặng. Xin thỉnh một Tỳ-kheo đến giảng
kinh.
Vua
chấp thuận, ra lệnh bãi hầu. Sau đó, vua sai sứ giả đến
bạch với Phật, xin Thế Tôn đến hoàng cung thường xuyên
với năm trăm Tỳ-kheo để nói pháp cho hai vương phi là Mallikà
và Vàsabhakhattyyà.
Vì như Phật không thể đến hoài một chỗ, nên Thế Tôn
cử Trưởng lão A-nan đều đặn đến trùng tuyên giáo pháp
cho hai bà. Mallikà học
rất chăm chỉ, ôn luyện nghiêm túc và chú tâm đến lời
giảng, còn Vàsabhakhattyyà
thì không được như vậy. Ðược Thế Tôn hỏi thăm, Trưởng
lão trình bày sự học của hai bà. Phật dạy:
-
Này A-nan! Khi Ta thuyết pháp, ai không thành tâm lắng nghe, học
tập, ôn luyện và giảng giải được thì không chút gì lợi
lạc, như bông hoa có sắc mà không hương. Nhưng người nào
nghe, học, lặp lại và giảng giải được sẽ hưởng nhiều
lợi lạc.
Rồi
Thế Tôn đọc Pháp cú:
(51)
Như bông hoa đẹp tươi,
Có
sắc mà không hương,
Cũng
vậy, lòi khéo nói,
Không
làm không kết quả.
(52)
Như bông hoa đẹp tươi,
Có
sắc lại thêm hương,
Cũng
vậy, lòi khéo nói,
Có
làm, có kết quả.
Khi
Phật kết thúc bài giảng, nhiều người chứng sơ quả, Nhị
quả và Tam quả. Hội chúng cũng được nhiều lợi lạc.
(Xem
tiếp Phần 2)