IV.
Phẩm Hoa (2)
8.
Ðám Cưới Bà Tỳ Xá Khư.
Như
từ một đống hoa...
Khi
ngụ tại Pubbàràma,
gần Xá-vệ, Thế Tôn dạy câu trên liên quan đến bà Tỳ-xá-khư (Visàkhà).
Tỳ-xá-khư
sinh ra trong thành Bhaddiya,
thuộc vương quốc Anga.
Cha là chưởng khố Dhananjaya,
con của chưởng khố Ram,
và mẹ là Sumanaa Devii chánh thất. Năm bà lên bảy tuổi, Thế
Tôn thấy người Bà-la-môn Sela và
tín hữu của ông đủ duyên lành nhập đạo nên đến thành
này cùng với đông đảo Tăng chúng. Lúc bấy giờ chưởng
khố Ram đang
giữ chức chưởng khố của thành này, là người đứng đầu
năm nhân vật có phước đức lớn. (Ðó là chưởng khố Ram,
bà Candapadumà chánh
thất của ông, trưởng nam Dhananajaya và
vợ là Sumanà Devì,
và gia nhân của chưởng khố Ram
là Punna. Không
riêng gì chưởng khố Ram có
gia sản kết xù mà tại vương quốc của vua Bình-sa vương
cũng có năm người là Jotiya,
Hatila, Ram, Punnaka, và Kàkavaliya).
Chưởng
khố Ram nghe
tin đấng Thập lực đến liền bảo Tỳ-xá-khư:
-
Hôm nay là ngày hạnh phúc của ông và cũng là hạnh phúc cho
con. Hãy dẫn năm trăm trinh nữ gia nhân của con cưỡi năm
trăm xe cùng năm trăm nô lệ nữ đi khoảng xa đón đấng Thập
lực.
Tỳ-xá-khư
liền vâng lời ông nội.
Cô
biết rõ điều gì nên làm, điều gì không nên làm, vì thế
cô cho xe đi hết khoảng đường xe có thể đi được, rồi
xuống xe đi bộ đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng qua
một bên. Hoan hỉ vì cung cách tiếp rước của cô bé, Thế
Tôn thuyết pháp cho cô, cuối bài pháp cô với năm trăm gia
nhân cùng chứng quả Dự lưu.
Chưởng
khố Ram cũng đến
chỗ Thế Tôn nghe pháp và cũng chứng Sơ quả. Sau đó ông
thỉnh Thế Tôn với Tăng đoàn đến nhà thọ thực, và ông
dâng cúng thực phẩm chọn lọc, cứng lẫn mềm, suốt hai
tuần thật dồi dào. Sau nửa tháng ở lại trong niềm hoan
hỷ, Thế Tôn rời thành Bhadiya.
Thuở
đó vua Bình-sa vương và vua Ba-tư-nặc nước Kosala là
anh em rể, vua này cưới em của vua kia. Vua Kosala
thấy trong nước mình không có người nào giàu có vô tận
như năm nhân vật thế phiệt của Bình Sa Vương, nên đến
xin một nhân vật về xứ mình. Vua Bình-sa vương từ chối,
vua Kosala quyết
chí xin cho được, nếu không sẽ không về xứ. Túng thế
Bình-sa vương họp bàn với các quan rồi hứa sẽ cử chưởng
khố Dhananjaya.
Ðúng
hẹn, chưởng khố Dhananjaya
đi theo vua Ba-tư-nặc rời Xá-vệ về Kosala,
chỉ mất một đêm. Dừng trước một cảnh đẹp, và khi được
biết nơi đó chỉ cách Xá-vệ bảy dặm và là xứ sở của
vua Ba-tư-nặc, chưởng khố xin vua ở lại đây. Vua chuẩn
y, dựng thành quách tại đây cho ông, đặt tên thành là Sàketa,
có nghĩa là thành có người đầu tiên ở vào chiều tối.
Lúc
đó ở Xá-vệ Chưởng khố Migàra được
một mụn trai tên Punnavaddhana đến
tuổi trưởng thành. Hai ông bà bảo con nên lập gia đình,
ban đầu anh thoái thác, sau đặt điều kiện vị hôn thê phải
hội đủ năm vẻ đẹp về tóc, thịt, xương, da, và tuổi
trẻ. (Phụ nữ đẹp con nhà trâm anh tóc phải giống như đuôi
công lòa xòa đến viền váy và cuốn cong. Ðó là vẻ đẹp
của tóc. Môi có màu đỏ tươi như màu bí và phải tròn đầy
mềm mại, đó là vẻ đẹp của thịt. Răng phải trắng, đều
không kẽ hở, sáng bóng như kim cương hay vỏ ốc xà cừ,
đó là vẻ đẹp của xương. Làn da không xông ướp với gỗ
đàn hương, phấn hồng hay bất cứ mỹ phẩm nào, vẫn mịn
màng như vòng hoa huệ và trắng muốt như hoa Canikàra,
đó là vẻ đẹp của da. Dù có sinh đẻ mười lần đi nữa
cô ta trông như gái một con, đó là vẻ đẹp của tuổi trẻ.)
Hai
ông bà mời tám Bà-la-môn đến nhà dùng bữa, để nhờ họ
tìm một nàng dâu như thế. Họ hứa và đi tìm với tiền
trợ cấp đáng kể, và một vòng hoa bằng vàng trị giá một
trăm ngàn đồng tiền để đeo vào cổ cô dâu. Họ sốt sắng
tìm kiếm nhưng hoài công, đành trở về, trúng ngay ngày lễ
hội hằng năm. Ngày đó các gia đình ngày thường ít khi ra
ngoài sẽ dẫn gia nhân, người hầu đi bộ đến tận bờ
sông. Những cậu trai gia thế, có địa vị và giàu có thuộc
giai cấp chiến sĩ, sẽ đứng dọc đướng, và khi cô gái
đẹp nào lọt và mắt xanh và cùng giai cấp, họ sẽ ném vòng
hoa lên đầu nàng. Các ông Bà-la-môn cũng đến đó chờ đợi
trong một gian nhà. Lúc đó Tỳ-xá-khư độ mười lăm mười
sáu tuổi, trang sức đầy mình với năm trăm tỳ nữ hộ tống,
đến bờ sông định xuống tắm. Bất ngờ cuồng phong nổi
lên và trời mưa. Năm trăm tỳ nữ chạy nhanh đến trú trong
gian nhà, còn tỳ-xá-khư vẫn bước đi như bình thường. Vào
đến gian nhà đồ trang sức và quần áo nàng ướt sũng.
Các
ông Bà-la-môn thấy nàng hội đủ bốn vẻ đẹp. Họ tìm
cách để xem xét hàm răng của nàng. Vì thế họ kháo chuyện
với nhau:
-
Con gái tôi thật là đoảng! Chồng nó chỉ hưởng được
có thứ cháo chua, không biết tôi nói có ngoa không!
Tỳ-xá-khư
lên tiếng:
-
Các ông đang bàn việc gì thế?
-
Nói về cô đấy.
-
Về điểm gì?
-
Tỳ nữ của cô chạy nhanh nên không bị ướt,còn cô vẫn
chậm bước nên ướt hết.
-
Tôi khỏe hơn họ, vả lại tôi có lý do để chậm bước.
-
Lý do gì?
-
Có bốn hạng người không thể chạy bừa vì bất lợi cho
họ.
-
Là người nào?
Một
vị vua vừa được xức dầu, trang sức đầy mình mà chạy
trong sân hoàng cung sẽ bất lợi vì bị thiên hạ chế giễu
"Vua chúa gì mà chạy lung tung như thường dân". Lại nữa con
voi nghi lễ của vua sẽ rất khó coi nếu chạy nhảy, nhưng
nếu đi đứng oai vệ một cách tự nhiên thì thấy đàng hoàng.
Một Tỳ-kheo sẽ mất oai nghi nếu chạy hoặc đi nhanh và sẽ
bị phê phán. "Tỳ-kheo gì mà chạy đi chẳng khác gì kẻ phàm
tục". Một phụ nữ nếu chạy đi thì cũng sẽ bị chê bai
"Nữ nhi mà chạy băng băng y như đàn ông". Ðó là bốn hạng
người không nên chạy bừa vì sẽ bất lợi cho họ.
-
Còn lý do nào khác không thưa cô?
-
Thưa quý ông, các bậc cha mẹ nuôi nấng con gái đều cố
gìn giữ nguyên vẹn tay chân. Chúng tôi như của quý để gả
bán. Nếu chúng tôi chạy nhảy vấp tà áo hay va đất đá
bị té có thể gãy tay chân, lúc đó sẽ là gánh nặng cho
gia đình. Còn bây giờ nếu áo quần ướt thì sẽ khô thôi.
Vì nghĩ như thế nên tôi không dám chạy.
Trong
lúc Tỳ-xá-khư nói chuyện, các ông Bà-la-môn quan sát hàm
răng của nàng, quả nhiên tuyệt đẹp chưa hề có. Họ ca
tụng nàng:
-
Thưa cô, chỉ có cô mới xứng đáng nhận lãnh tặng phẩm
này.
Rồi
họ đeo vào cổ nàng chiếc vòng vàng. Cô nhận lời xin cưới
của họ vì được họ cho biết con của chưởng khố Migàra
là Punnavaddhana Cumàra đồng
giai cấp với cô. Dù đã đi bộ đến đây, nhưng từ khi cô
nhận chiếc vòng vàng rồi thì đi bộ không còn thích hợp
nữa. Cô nhắn cha gởi cho cô chiếc xe, nhưng ông cha lại cho
năm trăm xe đến, rồi cô lên xe cùng với đoàn tùy tùng.
Các ông Bà-la-môn đi theo. Về nhà hai bên bàn bạc với nhau.
Gia sản bên Migàra
khoảng bốn mươi triệu, không đáng chi so với nhà Tỳ-xá-khư.
Nhưng nghĩ đến được một người bảo hộ con gái mình,
cha nàng bằng lòng gả nàng. Và ông tiếp đãi các ông Bà-la-môn
thật chu đáo và thịnh soạn trong hai ngày.
Chưởng
khố Migàra nghe
các ông Bà-la-môn trở về thuật lại đầu đuôi câu chuyện,
ông rất hài lòng và cũng muốn rước dâu nhanh chóng. Ông
báo tin cho sui gia biết là sẽ đến với vua Kosala và
đông đảo tùy tùng. Chưởng khố Dhananjayanhắn
người trả lời: "Chúng tôi xin hân hạnh tiếp đón ngay cả
mười vị vua cũng được". Thế là Migàra
đem tất cả dân chúng trong thành đi, trừ một số phải ở
lại giữ nhà. Họ dừng lại cách Sàketa
nửa dặm, gửi tin đến Dhananjaya.
Ông lập tức gửi quà quí giá đến cho họ. Rồi ông hỏi
ý kiến con gái là Tỳ-xá-khư:
-
Cha chồng con đã đến rước dâu cùng với vua ở Kosala,
nhà nào dành để đón ông, nhà nào cho vua ở, và nhà nào
tiếp các vương tôn?
(Tỳ-xá-khư
rất thông minh, tài trí sắc bén như góc cạnh viên kim cương
là do cô đã phát lời thệ nguyện cũng như do bổn nguyện
cô hằng ôm ấp trong một trăm ngàn kiếp).
Cô
sắp đặt mọi việc thật thỏa đáng, từ sửa soạn những
căn nhà cho cha chồng, vua, vương tôn và đoàn tùy tùng trú
ngụ, chí đến phân công tác cho đám gia nhân phục vụ không
những quan khách mà cả chuồng ngựa, voi,... Ðể mọi người
đều được hài lòng vui vẻ. Riêng phần mình, cô được
cha xuất kho cả ngàn miếng vàng ròng, rồi bạc, ngọc ru-bi,
ngọc trai, san hô và kim cương, để đặt làm cho cô một món
trang sức thật vĩ đại và lộng lẫy.
Vài
ngày sau, vua Kosala
hỏi thăm chừng nào rước dâu, cứ thế, ba tháng trôi qua
mà món trang sức cho cô dâu vẫn chưa làm xong, bên đàng gái
trả lời là mùa mưa đến, vua không thể đi đâu được trong
vòng bốn tháng và bổn phận của họ là sẵn sàng phục vụ
những gì vua và quân lính dùng. Từ đó, thành Sàketa
như đang trong một kỳ lễ hội dài. Từ vua cho đến người
thấp kém nhất, ai cũng được trang sức hương hoa lộng lẫy.
Tuy nhiên bên đàng gái gặp khó khăn vì thiếu củi đốt.
Họ phải hạ chuồng voi và những căn nhà xiêu vẹo trong thành
để lấy gỗ làm củi. Nhưng rồi cũng không đủ, và đang
trong mùa mưa nên càng khó kiếm củi, họ phải mở cửa kho,
lấy vải thô làm thành dây bấc nhúng vào dầu để nấu nướng.
Bốn
tháng trôi qua, món trang sức mới xong. Ðã chi hết bốn bình
kim cương (một bình chừng nửa lít), mười một bình ngọc
trai, hai mươi bình san hô, ba mươi ba bình ru-bi, và nhiều loại
đá quý khác. Họ đã dùng bạc làm dây xâu thay cho chỉ. Món
nữ trang được kết từ đầu rủ xuống chân. Những móc
vàng, dây bạc được gắn, thắt vào những chỗ khác nhau
để giữ món trang sức dính chắc và thẳng đứng, một trên
chóp mỗi tai, một ngang giữa cổ, một ở một đầu gối,
một ở mỗi khuỷu tay, một ở rốn, và một ở thắt lưng.
Trên nền món trang sức này, thợ chạm một con công. Hai cánh
của công mỗi bên gồm năm trăm sợi lông bằng vàng ròng.
Mỏ công bằng san hô, hai mắt bằng ngọc, cổ và lông đuôi
cũng bằng ngọc. Gân nổi trên lông công bằng đá quý và
chân cũng vậy. Khi nó được gắn lên đỉnh đầu của Tỳ-xá-khư,
trông như một con chim công đang đứng trên đỉnh núi xòe
cánh múa; và tiếng của những gân của ngàn lông rung lên
nghe như nhạc trời hợp xướng, hoặc như bài hợp tấu của
năm loại nhạc khí. Chỉ khi nào đứng thật gần mới biết
đó không phải con công thật. Trị giá món trang sức này lên
đến chín mươi triệu đồng và tiền công hết cả trăm ngàn
đồng.
(Vào
thời Phật Ca-diếp, Tỳ-xá-khư đã cúng dường cho hai mươi
ngàn Tỳ-kheo y và bát, cả kim chỉ và thuốc nhuộm, do phước
báo đó, ngày nay cô được món trang sức vĩ đại này, tức
phần thưởng cho tín nữ. Ðối với thiện nam nếu cúng y
sẽ được y bát tạo bằng thần thông).
Ngoài
ra Tỳ-xà-khư còn được của hồi môn gồm năm trăm xe chất
đầy tiền, năm trăm xe đầy hũ vàng, năm trăm xe đầy hũ
bạc, năm trăm xe đầy hũ đồng, năm trăm xe vải vóc tơ lụa,
năm trăm xe bơ, năm trăm xe gạo trắng sạch và năm trăm chiếc
xe chở đầy nào cày, cào và các thứ nông cụ khác. Chưa
kể một ngàn năm trăm tỳ nữ trang sức sang trọng để tắm,
giặt, nấu ăn và mặc đồ cho cô, tất cả đều ngồi trên
năm trăm chiếc xe. Chưởng khố muốn rằng con mình không thiếu
một thứ gì khi về nhà chồng.
Chưa
vừa ý, ông còn cho thêm gia súc. Ông ra lệnh:
-
Các ngươi hãy đến bãi gia súc nhỏ, mở cổng ra. Xong, hãy
đứng hai bên làm thành một đường dài ba phần tư dặm và
rộng tám sào (bốn mươi mét). Cứ cách một phần tư dặm
đường, để một cái trống. Ðừng cho trâu bò đứng ra khỏi
giới hạn này. Khi các ngươi đến đứng đúng vị trí, hãy
đánh trống lên.
Họ
làm theo lệnh. Rời khỏi bãi gia súc, họ tiến đến một
phần tư dặm liền đánh trống, rồi nữa dặm lại đánh
trống, rồi đến ba phần tư dặm lại đánh trống. Và họ
đứng gác những lối ra hai bên. Khi họ xong thì trâu bò đã
đứng chen vai nhau trên khoảng đất dài ba phần tư dặm và
ngang tám sào. Lúc đó, chưởng khố ra lệnh đóng cửa chuồng
trâu bò. Tuy nhiên cô không chỉ hưởng số gia súc đó mà
còn thêm sáu mươi ngàn bò đực mạnh khỏe, sáu mươi ngàn
bò sữa cái với bò con theo sau, đã sổng chuồng chạy theo.
(Kiếp
trước, vào thời Phật Ca-diếp, Tỳ-xá-khư là Sanghadàsì,
công chúa út trong bảy công chúa con vua Kiki,
cúng dường năm phẩm vật từ bò cho hai mươi ngàn Tỳ-kheo
và Sa-di. Dù họ đã lấy tay che bát, cô vẫn sớt thêm, bảo
rằng thức ăn này vừa ngon miệng vừa mát lòng. Do quả báo
này cô nhận thêm số bò sổng chuồng.)
Tuy
nhiên như thế bà vợ ông còn nhắc thêm sao ông không cho gia
nhân theo để cô sai bảo. Thật ra ông không quên, chỉ vì
ông muốn khi cô lên xe rồi, ông sẽ cho những người tự
nguyện đi theo, chớ không muốn ép buộc họ. Vào ngày trước
khi đưa dâu, ông dạy cô mười điều nên nhớ về nhà chồng:
1)
Lửa trong nhà không nên mang ra ngoài.
2)
Lửa bên ngoài không nên mang vào nhà.
3)
Chỉ cho người nào nên cho.
4)
Không cho người nào không nên cho.
5)
Cho cả người đáng cho và không đáng cho.
6)
Ngồi một cách vui vẻ.
7)
Ăn một cách vui vẻ.
8)
Ngủ một cách vui vẻ.
9)
Giữ gìn lửa.
10)
Thờ phụng thần thánh.
Mười
điều này cũng lọt vào tai cha chồng cô, lúc đó đang ở
phòng bên cạnh.
Ðến
ngày đưa dâu, Chưởng khố Dhananjaya tập
trung các phường hội thủ công, và giữa đoàn người của
nhà vua ông chỉ định tám gia chủ giám hộ cô dâu, nếu nàng
có bị buộc tội gì xin họ làm sáng tỏ sự việc.
Rồi
cô dâu khoác lên món trang sức trị giá chín mươi triệu đồng,
còn nhận thêm năm trăm bốn mươi triệu để sắm hương phần
tắm mình. Rồi chưởng khố đỡ con gái lên xe hoa. Ông hộ
tống cô qua mười bốn làng quanh Sàketa,
những làng chư hầu nộp lễ cống cho ông, cho đến tận Anuràdhapura.
Dọc đường, ông cho rao lớn rằng: "Ai muốn đi theo con ta
thì đi." Dân mười bốn ngôi làng đều đi theo, mang theo hết
không còn một thứ gì để lại. Dhananjaya cũng
tiễn đưa một đoạn đường, chào từ giã và phó thác con
gái cho Migàra và
vua. Migàra thấy
đám người theo hầu quá đông như một đoàn quân, sợ không
nuôi nổi liền ném đất và vung gậy gộc đuổi về bớt,
mặc lời phản đối của cô dâu Tỳ-xá-khư.
Cô
vào cổng thành Xá-vệ, đứng trên xe hoa để dân chúng chiêm
ngưỡng món trang sức. Mọi người tấm tắc khen ngợi vẻ
lộng lẫy rực rỡ, nét đài các phong lưu của nàng. Ngay hôm
ấy, dân chúng gởi mừng nhiều quà tặng, nàng tặng lại
hết cho các gia đình trong thành với lời lẽ dịu dàng êm
ái, thích hợp với lứa tuổi và hoàn cảnh từng người,xem
họ như là thân quyến của mình. Một lần giữa đêm, nàng
đến thăm con ngựa mới đẻ, có người hầu nam nữ cầm
đuốc theo, để coi sóc cho ngựa mẹ được tắm nước nóng
và xức dầu.
Chưởng
khố Migàra, để
mừng ngày cưới vợ cho con, đã mời năm trăm ẩn sĩ lõa
thể đến cúng dường, ông hoàn toàn không biết gì về Thế
Tôn lúc đó đang ngụ trong tinh xá gần đây. Cháo ngon hảo
hạng được nấu trong những đồ dùng nhà bếp mới toanh.
Ông gọi cô dâu đến chào các ẩn sĩ mà ông gọi là những
vị A-la-hán. Tỳ-xá-khư lúc bấy giờ đã chứng quả Dự
lưu và là Thánh đệ tử của Phật, nghe đến danh hiệu A-la-hán,
nàng vô cùng hoan hỷ. Nhưng bước vào phòng đãi ăn các ẩn
sĩ và nhìn họ, nàng bảo họ thiếu tính khiêm cung và không
biết sợ trọng tội, không xứng với danh xưng A-la-hán. Nàng
lên tiếng trách cha chồng và trở về phòng. Trong khi các ẩn
sĩ cũng trách Migàra
sao không tìm một nàng dâu khác, mà lại chọn một đệ tử
cư sĩ của ông Cồ-đàm. Nhận cô ta vào nhà chẳng khác nào
nhận đồ xúi quảy. Họ còn đòi ông tống khứ cô ta đi.
Ông không bằng lòng, trả lời với họ là "Ðàn bà họ ưng
chi làm nấy, xin các ông bỏ qua cho." Rồi ông tiễn họ ra
về, và ngồi xuống trên một chiếc ghế sang trọng, ăn cháo
thượng vị với mật trong dĩa vàng.
Lúc
đó có một Tỳ-kheo vào nhà khất thực. Tỳ-xá-khư đang quạt
hầu cha chồng, nghĩ rằng mình không nên báo cho cha biết có
vị Tỳ-kheo khất thực, vội đứng lên một bên cho ông trông
thấy Trưởng lão, nhưng ông quá ngu si có thấy nhưng làm như
không thấy, vẫn cắm cúi ăn. Tỳ-xá-khư bảo Trưởng lão
xin cứ đi vì cha chồng đang ăn cháo thiu. Migaara tuy bất bình
các ẩn sĩ, nhưng nghe nàng dâu nói thế, ông nổi giận bảo
dẹp dĩa cháo và ra lệnh đuổi Tỳ-xá-khư ra khỏi nhà. Vì
gia nhân và tỳ nữ đều thuộc về nàng nên không ai dám hé
môi. Riêng cô thì trả lời cha chồng như sau:
-
Thưa cha, lý do đó không đáng để con phải bị đuổi đi.
Con không phải là cô gái tầm thường ngoài đường, ở một
chỗ tắm nào đó trên bờ sông, được cha lượm về. Con
gái nhà gia giáo, có cha mẹ đàng hoàng, không thể rời nhà
chồng bởi lý do đó. Ngoài ra cha con có giao con cho tám gia
chủ bảo hộ, và khi có lỗi lầm họ sẽ chịu trách nhiệm
làm sáng tỏ vấn đề. Xin cha cho mời tám gia chủ đến phân
xử.
Họ
được mời đến và cuộc đối thoại để xét xử Tỳ-xá-khư
bắt đầu giữa họ với cha chồng của cô.
Migàra bảo:
-
Ngày đại lễ như thế, địa vị của tôi như vầy, mà cô
ta lại bảo tôi ăn cháo. Các ông hãy buộc tội cô ta và đuổi
đi khỏi nhà này.
Các
gia chủ hỏi:
-
Có phải thế không, thưa cô?
-
Lời tôi nói không đúng hẳn như thế. Số là có một Tỳ-kheo
đi khất thực dừng chân trước cửa nhà. Cha chồng tôi đang
dùng cháo ngon với mật, hoàn toàn không thấy Trưởng lão.
Tôi thiết nghĩ ông không tạo được công đức mới hiện
đời mà chỉ hưởng phước đức cũ của đời trước. Do
đó tôi đã nói với Tỳ-kheo là ông đang ăn đồ cũ. Vậy
tôi có lỗi gì?
Tỳ-xá-khư
đã trả lời như trên. Các gia chủ đều đồng ý là nàng
nói đúng, rồi họ hỏi lại Migàra:
-
Tại sao ông lại giận nàng?
Ông
đáp:
-
Tôi cũng đồng ý là cô ta không có lỗi trong việc này, nhưng
tại sao nửa đêm cô ta đi ra sau nhà có tớ trai, tớ gái theo
sau?
Tỳ-xá-khư
giải thích là vì con ngựa giống đẻ, cô không yên tâm nếu
ngồi nhà, nên đã ra chuồng ngựa xem nó được săn sóc ra
sao. Lần này nàng cũng không có lỗi gì. Cha chồng lại buộc
tội là ngày xuất giá cha nàng đã dạy bảo Mười điều
có nhiều ẩn ý, tỷ như điều một là "không cho đem lửa
trong nhà ra ngoài", nếu vậy đối với láng giềng hai bên
xin lửa thì sao? Cô cũng giải thích rành rẽ ý của cha nàng
dạy là không nên đem việc trong nhà nói ra bên ngoài. Rồi
cô từ từ giải trình điều hai là "không đem lửa ở ngoài
vào trong nhà" có nghĩa láng giềng nếu nói xấu nhà chồng
cũng không nên về nhà học lại. Còn điều "Chỉ cho người
nào nên cho" nghĩa là chỉ cho vay những ai trả lại. "Không
cho người nào không nên cho" nghĩa là không cho vay những ai
không trả. "Cho cả người đáng cho" nghĩa là đối với bà
con thân hữu cần giúp đỡ, dù họ có đền đáp hay không
thì vẫn cho. "Ngồi một cách vui vẻ" nghĩa là khi cha, mẹ
chồng hoặc chồng ngồi thì phải đứng dậy, không được
ngồi. "Ăn một cách vui vẻ" tức là người vợ không được
ăn khi cha, mẹ chồng hoặc chồng chưa ăn xong, phải hầu hạ
cơm bưng nước rót xong xuôi mới được ăn. "Ngủ một cách
vui vẻ" tức là người vợ không được đi ngủ trước cha,
mẹ chồng hoặc chồng, phải làm hết bổn phận lớn và nhỏ
của mình đối với họ rồi mới được đi ngủ. "Giữ gìn
lửa" tức là cung kính đối với lửa sáng hoặc xà vương.
"Thờ phụng thần thánh trong nhà" tức là thờ phụng họ như
thần thánh.
Khi
dâu của mình là Tỳ-xà-khư bộc bạch ý nghĩa Mười điều
dạy bảo, Chưởng khố Migàra
chỉ biết ngồi đó cúi đầu, không nói nên lời. Các gia
chủ bèn hỏi ông:
-
Thưa chưởng khố, dâu của ông có phạm lỗi gì không?
Ông
đáp:
-
Thưa các Ngài, không.
-
Tại sao cô không có lỗi mà ông tìm cách đuổi cô ta ra khỏi
nhà?
Tỳ-xá-khư
ngắt lời:
-
Thưa các ông, ban đầu thật không đúng pháp nếu tôi ra khỏi
nhà theo lệnh của cha chồng tôi, bởi vì khi tôi đi xa, cha
tôi đã phó thác tôi cho các ông chịu trách nhiệm xem xét
tôi có tội hay vô tội. Nhưng giờ đây các ông đã chứng
minh tôi vô tội, thì thật đúng pháp để tôi ra đi.
Rồi
Tỳ-xá-khư truyền lệnh cho gia nhân, tỳ nữ chuẩn bị xe
cộ để lên đường. Chưởng khố Migàra
cầm các gia chủ ở lại và bảo nàng:
-
Con dâu yêu quý, ta đã xử sự một cách ngu si, con hãy tha
thứ cho ta.
Nàng
đáp:
-
Kính thưa cha, con tha thứ hết sạch cho cha. Nhưng con là con
trong một gia đình có niềm tin kiên cố vào đạo Phật, và
chúng con không thể sống mà không có Tăng đoàn. Nếu con được
phép chăm lo cho chúng Tăng theo sở nguyện, con sẽ ở lại.
-
Con yêu quý, con có thể chăm lo cho chúng Tăng theo ý con muốn.
Tỳ-xá-khư
chuyển lời thỉnh mời đấng Thập lực đến nhà cúng dường
vào ngày hôm sau. Các ẩn sĩ ngoại đạo nghe tin cũng đến
và ngồi thành vòng tròn quanh nhà. Trong lúc nàng dâng nước
cho Như Lai, nàng nhắn tin cho cha chồng đến đích thân phục
vụ. Ông cũng muốn đi nhưng bị các ẩn sĩ ngăn cản, nên
phải trả lời rằng cô cứ phục vụ Như Lai. Trong khi nàng
dâng thức ăn và đức Phật cùng Tăng chúng dùng xong, nàng
lại nhắn tin lần hai mời cha chồng đến nghe pháp. Ông thầm
nghĩ nếu lần này mà không đi thì thật là không đúng phép,
nhưng các ẩn sĩ vẫn cản trở, và lần này bảo ông nếu
muốn đến nghe Cồ-đàm nói pháp thì phải ngồi ở ngoài
màn. Rồi họ đi trước, kéo một tấm màn chung quanh.
Khi
ấy, Thế Tôn bảo:
-
Dù ông có ngồi bên kia tấm màn, hay bên kia bức tường, hay
bên kia quả núi, hay bên kia cả rặng núi bao quanh hết quả
đất, Ta là Phật và Phật âm sẽ đến tai ông.
Và
Thế Tôn thuyết pháp tuần tự từ thấp lên cao, cất tiếng
như mây mưa, như thể rung chuyển những cây táo hồng cổ
thụ, như mưa trời rơi xuống. Dù ai đứng trước, đứng
sau hay ở cách xa tận cả năm Cakkavàlas,
ngàn Cakkavàlas,
hoặc tận đỉnh tầng trời cao nhất đều cảm thấy như
Ngài chỉ nhìn thấy mình, chỉ thuyết cho mỗi mình nghe. Chư
Phật giống như mặt trăng đối với chúng sanh, ai cũng thấy
ngay trên đầu mình. Ðó là quả báo do sự đại bố thí của
Ngài khi chặt đầu, móc mắt, lóc thịt moi tim. Ngài bố thí
cả con trai là Jàli,
con gái là Kanhàjinà,
vợ là Maddì làm
tôi tớ cho người.
Chưởng
khố Migàra ngồi
bên ngoài màn suy tư về lời pháp của Như Lai, và chứng quả
Dự lưu, phát lòng tin kiên cố vào Tam Bảo. Ông nâng màn,
tiến tới cô dâu, cúi đầu trước nàng, nhận nàng làm mẹ,
từ đó nàng có tên là Mẹ của Migàra.
Sau này có con nàng đặt tên là Migàra.
Khi ấy, trưởng giả phủ phục xuống chân Thế Tôn, hôn chân
Ngài và ba lần đọc lên tên mình, rồi thưa:
-
Bạch Thế Tôn, từ trước đến giờ con chưa hề hiểu phước
báo to lớn trong sự cúng dường Ngài, nhưng giờ đây, nhờ
con dâu mới được hiểu và đã thoát hết đau khổ, phiền
não. Khi con dâu con vào nhà con là nó mang hạnh phúc đến,
và đã tế độ con. Rồi ông nói kệ:
Rõ
ràng hôm nay mới thấy
Phước
báo vô biên thế ấy
Có
từ nhân biết cúng dường
Quả
nàng dâu thảo đã mang
Hạnh
phúc cho nhà tôi vậy.
Tỳ-xá-khư
lại thỉnh Thế Tôn đến ngày hôm sau, và mẹ chồng nàng
nhờ thế chứng quả Dự lưu. Từ đó nhà chồng nàng rộng
mở theo đạo Phật.
Muốn
đền đáp công lao nàng, cha chồng nàng định tặng nàng một
món trang khác nhẹ hơn để nàng có thể đeo cả ngày cả
đêm, trong bốn oai nghi đều thoải mái, vì món đồ trang sức
khổng lồ trước đây quá nặng nề. Hoàn thành xong món nữ
trang trị giá trăm ngàn tiền, ông thỉnh Thế Tôn cùng Tăng
chúng đến mở tiệc cúng dường. Ông bảo nàng phải tắm
trong mười sáu chậu nước hoa và khoác món trang sức mới
đến đảnh lễ Thế Tôn. Xong, Phật hồi hướng công đức
và trở về tinh xá.
Từ
đó nàng thường cúng dường, làm nhiều công đức khác và
được Tám thánh ân của Phật. Như mặt trăng lưỡi liềm
tròn dần trên trời, nàng cũng lớn dần với mười đứa
con trai, mười đứa con gái, và mỗi đứa lại sanh mười
trai mười gái, cứ thế con, cháu, chắt dòng họ nàng... lên
đến tám ngàn bốn trăm hai mươi người. Nàng thọ được
một trăm hai mươi tuổi, không có một sợi tóc bạc trên
đầu, lúc nào cũng trông như mười sáu tuổi. Thấy nàng trên
đường đi đến tinh-xá với bầy con cháu, không thể biết
ai là Tỳ-xá-khư. Ai cũng muốn ngắm nhìn nàng thật lâu khi
đi, đứng, nằm, ngồi, vì trong bốn oai nghi dáng dấp nàng
đều trang nghiêm, đẹp đẽ.
Ngoài
những đức tính trên, nàng còn có sức mạnh bằng năm con
voi. Vua biết được định thử nàng. Sau khi nghe pháp xong,
trên đường nàng về từ tinh xá vua thả một con voi rượt
bắt nàng. Năm trăm tỳ nữ theo hầu nàng, một số quá khiếp
đảm đã chạy mất, số còn lại ôm quanh nàng. Cô suy nghĩ:
Nếu bắt voi lại một cách mạnh bạo, nó sẽ chết. Do đó
nàng dùng hai ngón tay túm lấy vòi bắt nó trở lui. Voi không
thể cự lại sức mạnh của nàng và cũng không thể đứng
vững, té ngã ngửa trên sân hoàng cung. Dân chúng hoan hô nàng,
và nàng về nhà an ổn với đoàn tuỳ tùng.
Tỳ-xá-khư,
mẹ tinh thần của chưởng khố Migàra,
cùng đám con cháu chắt chẳng hề đau ốm, chẳng ai chết
yểu. Người ta cho rằng nàng là người mang phúc lành đến.
Yến tiệc lễ lộc gì, dân trong thành Xá-vệ đều vinh hạnh
thỉnh mời nàng trước tiên.
Trong
một ngày lễ, như mọi người, nàng phục sức sang trọng
với món đồ trang sức vĩ đại của cha ruột tặng đến
dự tiệc tại một nhà nọ, xong đến tinh-xá nghe pháp. Dừng
lại trước cửa tinh xá, nàng cởi món trang sức khổng lồ
đưa nữ tỳ cất và đeo vào món trang sức nhỏ của cha chồng
đến đảnh lễ Thế Tôn nghe pháp. Cuối bài pháp, nàng đứng
dậy chào Phật. Tỳ nữ bỏ quên món trang sức lại, theo nàng
ra ngoài.
Như
thường lệ, Trưởng lão A-nan sau buổi giảng nhìn trước
ngó sau xem có vật gì bỏ quên để cất rồi mới đi khỏi.
Thấy món đồ trang sức của Tỳ-xá-khư bỏ quên, Trưởng
lão trình với Phật và nghe theo lời Phật ngài treo nó cạnh
cầu thang. Tỳ-xá-khư với Suppiyà
đi vòng tinh xá hỏi thăm xem các Tỳ-kheo có cần thuốc men
hay thứ gì khác. Người cần mật mía, mật ong, kẻ thì cần
dầu. Họ thường cầm bát đến gặp hai tín nữ, và hôm nay
cũng thế. Suppiyà
thấy một Tỳ-kheo bị bệnh, đến hỏi thăm và ông cho biết
là cần nước xúp thịt. Ngày hôm sau không tìm ra thịt, Suppiyà
cắt thịt đùi của mình dâng cúng. Do lòng tin Phật, thân
nàng liền lành lặn như cũ.
Sau
khi chăm sóc các Tỳ-kheo bệnh, các tân Tỳ-kheo và Sa-di, Tỳ-xá-khư
ra về bằng một cửa khác. Nàng bảo tỳ nữ đưa món trang
sức. Tỳ nữ sực nhớ đã để quên bèn trở lại chỗ cũ
tìm. Nàng dặn cô ta nếu Trưởng lão A-nan đã cất thì đừng
lấy lại, cứ xem như đã cúng dường cho Trưởng lão. Nhưng
nghĩ rằng ngài A-nan sẽ không biết làm gì với món đồ ấy,
nàng lại bảo tỳ nữ trở lại lấy mang về để bán lấy
tiền cúng dường phải hơn. Món đồ được để lên xe đưa
tới thợ kim hoàn định giá là chín mươi triệu một trăm
ngàn tiền, nhưng không ai mua nổi. (Cả thế giới chỉ có
ba người đàn bà mặc món đồ trang sức đắt giá như thế,
là nữ cư sĩ lỗi lạc Tỳ-xá-khư, vợ vua Bandhula xứ Mallas,
và Mallika con
gái chưởng khố Ba-la-nại).
Nàng
bèn mua lại món trang sức, chở số tiền to lớn đến tinh
xá dâng lên Phật, và thưa hỏi trong tứ sự cúng dường Phật
cần loại gì.Phật bảo cần
xây một tăng đường tại cổng phía đông tinh xá. Nàng mua
đất với chín mươi triệu của món trang sức và bỏ thêm
chín mươi triệu để xây nhà.
Một
hôm Thế Tôn quan sát thế gian sáng sớm, thấy chàng Bhaddiya,
con của một chưởng khố ở thành Bhaddiya,
đã được tái sinh từ cõi trời, đủ duyên lành nhập đạo.
Ngài dùng điểm tâm tại nhà ông Cấp Cô Ðộc rồi đi về
hướng cổng bắc. Thông thường, sau khi độ ngọ tại nhà
Tỳ-xá-khư , Ngài đi về bằng cổng nam và ngự về Kỳ Viên;
khi độ ngọ tại nhà Cấp Cô Ðộc, Ngài đi ra bằng cổng
đông và ngự về Pubbaaraama. Do đó khi dân chúng thấy Thế
Tôn đi ra cổng bắc, biết rằng Ngài sắp du hành.
Nghe
tin Thế Tôn lên đường, Tỳ-xá-khư đến đảnh lễ Ngài
và thỉnh cầu ở lại vì nàng cho xây nhà ở cúng dường
Phật và chư Tăng với tổn phí bằng số châu báu kia. Nhưng
Thế Tôn không thể ở lại, và theo lời yêu cầu của nàng,
Ngài cho nàng chọn một Tỳ-kheo ở lại thay mặt theo dõi việc
xây cất. Mặc dù nàng rất kính mến Trưởng lão A-nan, nhưng
nàng chọn Tôn già Mục-kiền-liên vì nghĩ rằng Tôn giả có
thần thông sẽ giúp đỡ nhiều trong công việc. Phật truyền
Tôn giả ở lại với năm trăm Tỳ-kheo. Tôn giả có thần
thông nên chỉ trong ngày người ta có thể đem về gỗ và
đá cách đó khoảng năm mươi, sáu mươii dặm, không cần
phải nặng hỏng. Chỉ trong thời gian ngắn người ta đã dựng
lên một tăng đường hai tầng, với năm trăm phòng trên lầu.
Thế Tôn du thuyết mất chín tháng, và khi trở về Xá-vệ,
công trình của Tỳ-xá-khư đã hoàn tất kể cả chiếc tháp
bằng vàng ròng để chứa sáu mươi chậu nước. Nghe tin Thế
Tôn trên đường về Kỳ Viên, nàng đến gặp Ngài và thỉnh
mời đến thăm tăng đường mới xây. Sau đó, nàng thưa:
-
Bạch Thế Tôn, xin người đưa chư Tăng đến đây an cư trong
bốn tháng tới. Con sẽ cho hoàn tất xong xuôi khu nhà ở của
chư Tăng.
Thế
Tôn hoàn hỷ chấp nhận. Từ đó, Ngài cùng Tăng chúng được
nàng cúng dường tại đó.
Một
người bạn của Tỳ-xá-khư muốn cúng dường một tấm vải
trị giá một trăm ngàn tiền làm thảm lót cho tăng đường.
Nàng chỉ cho cô ta thấy cả hai tầng nhà gồm một ngàn phòng
đều trải thảm hết, không có tấm nào xấu kém hơn tấm
của cô ta. Buồn bã vì thấy mình không được công đức
gì trong tăng đường, cô đi ra, dừng lại một nơi, òa khóc.
Trưởng
lão A-nan thấy thế hỏi thăm, và chỉ cho cô chỗ thích hợp
nhất để trải thảm là chân cầu thang, nơi các Tỳ-kheo rửa
chân xong sẽ chùi lên đó trước khi bước vào tinh xá. Cô
sẽ được nhiều phước đức. Hình như Tỳ-xá-khư đã bỏ
qua chỗ này.
Ngày
cuối, say bốn tháng cúng dường Tăng đoàn, Tỳ-xá-khư cúng
vải may y đến Tăng đoàn. Mỗi sa-di nhận vải y trị giá
một ngàn tiền mỗi cái. Cuối cùng cô cúng thuốc men cho chư
Tăng, sớt đầy bát cho mỗi vị. Nếu tính thêm chín mươi
triệu mua đất và chín mươi triệu xây cất tăng đường,
cộng chung là hai trăm bảy mươi triệu. Không một phụ nữ
nào trên thế gian đã cúng dường nhiều như thế, nhất là
đối với một người đang sống trong một gia đình ngoại
đạo.
Ngày
lễ khánh thành tinh xá, khi bóng chiều ngả dài, Tỳ-xá-khư
đi vòng quanh tòa nhà cùng với con, cháu và chắt. Thấy ước
nguyện thời xa xưa nay đã thành tựu, nàng cất cao tiếng
thanh cao ngâm năm câu kệ:
Khi
nào ta dâng cúng
Ngôi
nhà ở tiện nghi
Trét
tô hồ, vữa thì
Ấy
là lúc viên mãn
Lời
ta thệ nguyện xưa
Khi
nào ta dâng cúng
Mọi
thiết bị, tiện nghi
Ghế,
giường, thảm và gối
Lúc
đó lòng ta mới
Vui
vì thỏa nguyện xưa
Khi
nào ta dâng cúng
Vật
thực theo phiếu phân
Nêm
nếm ngon bội phần
Bằng
xúp thịt tinh khiết
Ấy
là lúc ta biết
Ðã
toại lời nguyện dâng
Khi
nào ta dâng cúng
Vải
y Ba-la-nại
Vải
mịn, vải sợi bông
Ước
nguyện hằng bao kiếp
Khi
nào ta dâng cúng
Ðồ
bổ dưỡng, thuốc men
Bơ
lỏng, bơ đặc, mật
Dầu
ăn cùng đường thô
Thế
là ta hoàn tất
Viên
mãn lời nguyện xưa.
Các
Tỳ-kheo nghe được cho rằng hoặc mật nàng rối loạn, hoặc
loạn trí, nên thưa với Phật. Thế Tôn đáp:
-
Này các Tỳ-kheo! Ðệ tử Ta không phải đang hát. Vì ước
nguyện được thành tựu, lòng nàng vui mừng mới cất tiếng
như thế để long trọng nói lời thệ nguyện.
Các
Tỳ-kheo hỏi tiếp:
-
Nàng đã ước nguyện lúc nào, thưa Thế Tôn?
Và
Thế Tôn kể:
Chuyện
quá khứ
8A.
Lời Nguyện Của Tỳ-Xá-Khư
Các
Tỳ-kheo, cách đây một trăm ngàn kiếp quá khứ, Phật Padumuttara xuất
hiện ở thế gian, thọ mạng của Ngài là một trăm ngàn năm,
có một trăm ngàn A-la-hán đệ tử. Thành của Phật là Hamsavatì,
cha là Sunanda, mẹ
là Sujàtà Devì.
Ðệ tử nữ cư sĩ là đại thí chủ. Nữ cư sĩ đó được
Tám thánh ân từ Ngài, và như một người mẹ, lo cho Phật
tứ sự cúng dường, phục vụ từ sáng đến chiều. Nữ cư
sĩ được chuyện trò thân mật với Phật và được Phật
quý trọng, một hôm đánh bạo hỏi Thế Tôn:
-
Bạch Thế Tôn, cô bạn tôi đối với Ngài là gì?
Phật
đáp:
-
Là đại thí chủ của Ta.
-
Bằng cách nào cô ta được như vậy?
-
Do lời nguyện trước đây trăm ngàn kiếp.
-
Bạch Thế Tôn, một người có thể được địa vị ấy không,
nếu phát nguyện bây giờ?
-
Có thể được.
-
Vậy thì, bạch Thế Tôn, xin nhận cho con cúng dường Ngài
với trăm ngàn Tỳ-kheo trong bảy ngày.
Phật
chấp thuận.
Ðến
ngày cuối tuần cúng dường, cô ta đỡ lấy y bát của Thế
Tôn, đảnh lễ và quỳ dưới chân Ngài phát nguyện:
-
Bạch Thế Tôn, con không tìm cầu cho mình một vương quyền
nào ở cõi trời, mà chỉ xin được Tám thánh ân của Phật,
xin được như một người mẹ hơn giờ hết lo tứ sự cúng
dường cho Ngài.
Thế
Tôn muốn biết xem hạnh nguyện của cô ta có được viên
mãn hay không, nên dùng Thiên nhãn nhìn về tương lai suốt
một trăm ngàn kiếp và bảo:
-
Một trăm ngàn kiếp sau, một đức Phật tên Cồ-đàm sẽ
xuất hiện ở thế gian. Lúc đó ngươi là đệ tử nữ cư
sĩ tên Tỳ-xá-khư, sẽ được Tám thánh ân từ Phật, sẽ
được như một người mẹ đối với Phật, và sẽ là cư
sĩ nữ xuất sắc nhất trong việc lo tứ sự cúng dường cho
Ngài.
Như
thế là chắc chắn trong tương lai, cô ta sẽ đạt được
những điều này. Cô ta đã làm việc phước thiện trong suốt
quãng đời còn lại của kiếp ấy và tái sinh trên cõi trời.
Sau khi qua lại cõi trời và cõi người, nàng tái sanh trong
thời Phật Ca-diếp, là con gái út của vua Kiki
xứ Kàsi. Cô lập
gia đình, sống bên nhà chồng, suốt thời gian rất lâu cúng
dường và làm nhiều việc công đức khác cùng với các chị.
Một
hôm cô ta quỳ dưới chân Phật Ca-diếp và phát lời nguyền
giống như trước đây. Rồi cô ta cũng luân hồi từ cõi trời
qua cõi người, và trong kiếp này tái sanh làm con chưởng khố Dhananjaya,
cháu nội của chưởng khố Ram.
Và trong kiếp này, cô đã tạo được nhiều đức qua các
thiện sự cho giáo đoàn của Ta.
(Hết
Chuyện Quá Khứ)
Và
Thế Tôn giảng pháp cho các Tỳ-kheo:
-
Này các Tỳ-kheo, giống như từ một đống hoa đủ loại,
người khéo léo sẽ kết nhiều kiểu vòng hoa, cũng như thế,
tâm Tỳ-xá-khư hướng đến làm các việc công đức bằng
nhiều cách.
Và
Ngài nói Pháp Cú:
(53)
Như từ một đống hoa
Nhiều
tràng hoa được làm
Cũng
vậy, thân sanh tử,
Làm
được nhiều thiện sự.
9.
Câu Hỏi Của Trưởng Lão A Nan
Hương
các loài hoa thơm...
Tại
Xá Vệ Thế Tôn đã dạy câu Pháp Cú trên khi trả lời câu
hỏi của Trưởng lão A-nan.
Một
buổi chiều, trong khi đang ngồi tư duy quán tưởng, Trưởng
lão A-nan chợt có nghĩ Thế Tôn hội đủ ba loại hương rất
ưu việt là hương gỗ chiên đàn, hương rễ cây và hương
hoa. Cả ba thứ hương đều bay theo chiều gió. Không biết
có thứ hương nào có thể bay ngược gió, hoặc vừa bay thuận
vừa bay nghịch gió? Tôn giả không muốn một mình moi óc tìm
hiểu, nên đến hỏi Thế Tôn, và sau đó Ngài được trả
lời:
-
Này A-nan! Có thứ hương bay theo chiều gió và cũng có thứ
hương bay nghịch gió. Này A-nan! Tại bất cứ làng mạc, phố
thị nào trên thế gian này, ai cũng vậy, đàn ông hay đàn
bà, quy y Tam bảo, giữ giới không sát sanh, không lấy của
không cho, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và
các chất say, nếu người đó đức hạnh, sống đời tại
gia đoan chánh, tâm không tham nhiễm, người đó vị tha, rộng
lượng, hoan hỷ trong hạnh bố thí, biết lắng nghe lời cầu
xin, hoan hỷ trong hạnh cúng dường, thì mọi Tỳ-kheo và đạo
sĩ Bà-la-môn khắp nơi sẽ tán thán, mọi thiên thần, thánh
thần sẽ tán thán. Và như thế, này A-nan, đó là thứ hương
bay thuận và nghịch gió.
Thế
Tôn nói Pháp Cú:
(54)
Hương các loài hoa thơm,
Không
ngược bay chiều gió.
Nhưng
hương người đức hạnh,
Ngược
gió khắp tung bay.
Chỉ
có bậc chân nhân,
Tỏa
khắp mọi phương trời.
(55)
Hoa chiên-đàn, già-la,
Hoa
sen, hoa vũ quý,
Giữa
những hương hoa ấy,
Giới
hương là vô thượng.
10.
Ðế Thích Cúng Dường Ðại Ca-Diếp
Ít
giá trị hương này...
Thế
Tôn dạy câu trên khi ngụ tại Veluvana,
liên quan đến sự cúng dường Trưởng lão Ðại Ca-diếp.
Một hôm Trưởng lão Ðại Ca-diếp xuất định sau bảy ngày
nhập Diệt tận định, đi ra ngoài với ý định khất thực
tuần tự nhà này qua nhà khác trong thành Vương-xá. Lúc đó
năm trăm thiên nữ gót son, vợ của vua trời Ðế Thích vừa
thức dậy và chuẩn bị năm trăm phần cúng dường hết cả
cho Trưởng lão. Phẩm vật trên tay, họ chặn Trưởng lão
giữa đường, xin:
-
Thưa Tôn giả, xin Ngài nhận cúng dường cho chúng con ân triêm
công đức.
Trưởng
lão:
-
Tất cả chư vị hãy đi đi! Tôi định ban ân huệ cho người
nghèo.
-
Bạch Tôn giả, xin đừng hại chúng con, hãy ban phước cho
chúng con!
Nhưng
Trưởng lão biết họ nên vẫn từ chối, và khi thấy họ
không chịu đi mà còn muốn tiếp tục cầu xin nữa, Ngài bảo:
-
Các ngươi không biết chỗ của mình. Hãy đi đi!
Rồi
Ngài búng tay vào họ.
Nghe
Trưởng lão búng tay, các thiên nữ mất bình tĩnh không dám
ở lại, phải bay về cõi trời. Họ kể lại tự sự cho Ðế
Thích nghe. Ông hỏi:
-
Các ngươi đi trong hình dạng ra sao?
-
Dạ, như thế này, các ngươi làm sao cúng dường Trưởng lão
được!
Chính
Ðế Thích cũng muốn cúng dường Trưởng lão. Ông biến thành
một người thợ dệt già lụm khụm, răng long, tóc bạc, lưng
còng, thân thể tiều tụy. Ông biến thiên nữ Thiện Sanh thành
một bà già. Rồi ông dùng thần lực tạo một ngõ hẻm thợ
dệt, và ngồi quay sợi. Lúc ấy, Trưởng lão đang đi vào
thành, vẫn tâm niệm dành phước cho người nghèo. Thấy con
hẻm ở ngoại thành, Ngài nhìn quanh rồi chú ý đến hai ông
bà già. Ông già Ðế Thích đang kéo chỉ và Thiện Sanh quấn
chỉ vào thoi. Trưởng lão nghĩ rằng già cả lụm cụm thế
đó mà phải làm việc tay chân thì chắc không ai trong thành
này nghèo hơn họ, chỉ cần một vá cơm sớt cho Ngài là Ngài
có thể ban phước cho họ. Do đó Trưởng lão tiến đến.
Thấy
bóng Trưởng lão, Ðế Thích dặn Thiện Sanh làm như không
trông thấy, cứ ngồi đó im lặng, rồi sẽ nói gạt để
cúng dường ông. Trưởng lão dừng trước cửa nhà, họ giả
vờ không thấy, cứ tiếp tục làm việc. Một lát, Ðế Thích
bỗng ngẩng lên bảo vợ:
-
Hình như có Trưởng lão đang đứng trước cửa. Bà ra xem!
Thiện
Sanh không chịu, bảo ông ra. Gặp Trưởng lão tên gì vì mắt
ông kèm nhèm trông không rõ. Xong lấy tay che trán, ông nhìn
chăm chú và làm như ngạc nhiên, la lên:
-
Chao ôi! Chao ôi! Trưởng lão Ðại Ca-diếp! Lâu ngày quá xá
Ngài mới đến lều rách của chúng tôi. Bà nó ơi, còn gì
trong nhà không?
Thiện
Sanh tỏ vẻ như đang bối rối, nhưng cũng vội đáp:
-
À, à. Vâng, cũng có đấy, ông à!
Ðế
Thích đỡ lấy bát của Trưởng lão thưa:
-
Bạch Tôn giả, xin đừng để ý đến thức ăn ngon hay dở,
mà cho chúng con được ân phước.
Trưởng
lão đưa bát thầm nghĩ, dù họ cho ta một cọng rau hay một
nắm cám vụn, ta vẫn nhận và ban phước cho họ. Ðế Thích
vào nhà sớt cơm đầy bát và mang ra đặt vào tay Ngài.
Lập
tức, phần cúng dường đó, được gia đủ loại nước sốt
và cà ri, tỏa mùi thơm ngát cả thành Vương-xá. Trưởng lão
thắc mắc sao trông ông lão này yếu đuối thiếu thốn mà
thức ăn lại dồi dào như của Ðế Thích. Nhìn ra quả là
trời Ðế Thích, Ngài bảo:
-
Ông đã làm một việc sai lầm nghiêm trọng khi cướp đoạt
của người nghèo cơ hội tạo công đức. Vì bố thí cho ta
hôm nay, bất cứ người nghèo nào cũng sẽ được địa vị
tổng tư lệnh hay chưởng khố.
Ðế
Thích hỏi:
-
Bạch Tôn Gỉa, có người nào nghèo hơn con chăng ?
-
Sao ông lại nghèo, khi đang hưởng phú quí trên cung trời?
-
Bạch Tôn giả, lý do như sau. Trước khi Phật xuất hiện ở
thế gian con đã tạo nhiều công đức. Khi Phật xuất hiện
ở thế gian , có ba vị trời cùng đẳng cấp với con, vì
tạo nhiều công đức nên được nhiều oai lực hơn con. Khi
có mặt con đó, ba vị cần mở hội vui chơi là họ cứ đem
các tỳ nữ xuống đường, còn con thì phải quay gót vào nhà.
Oai lực của họ sáng mạnh hơn con. Vậy, bạch Tôn giả, ai
nghèo hơn con?
-
Nếu đúng như thế thì từ đây đừng đánh lừa ta để cúng
dường nữa.
-
Con có được công đức hay không nếu lừa dối để cúng
dường?
-
Có, đạo hữu ạ.
-
Nếu đúng thế, bạch Tôn giả, con có bổn phận phải tạo
nhiều công đức.
Nói
xong Ðế Thích chào Trưởng lão, đi nhiễu quanh Trưởng lão
với Thiện Sanh theo sau, rồi họ bay lên không, nói lên câu
kệ:
Ôi
cúng dường, cúng dường Ba-la-mật,
Ðã
khéo dâng ngài Ca-diếp được rồi!
Trong
kinh Udàna cũng có
kể câu chuyện tương tự.
Ðến
đoạn Ðế Thích bay lên không và ngâm câu kệ, trong Udàna
ghi tiếp:
"Thế
Tôn đứng trong tinh xá, nghe tiếng Ðế Thích. Ông ta liền
bảo đệ tử:
-
Các Tỳ-kheo, hãy xem vua trời Ðế Thích. Ông ta vừa ngâm câu
kệ, và đang bay trong hư không.
-
Bạch Thế Tôn, ông ấy đã làm chi?
-
Ông ta đã đánh lừa được Ca-diếp con ta để cúng dường.
Xong việc rồi nên ông ta đang bay trên trời và ngâm nga một
bài kệ.
-
Bạch Thế Tôn, sao ông ấy biết nên cúng dường Trưởng lão?
-
Các Tỳ-kheo, cả trời và người đều mến người bố thí
như con ta.
Nói
xong, chính Thế Tôn cũng ngâm câu kệ ấy."
Ngoài
ra, đoạn văn sau cũng được ghi trong kinh:
Với
thiên nhãn thanh tịnh siêu vượt loài người, Thế Tôn nghe
vua trời Ðế Thích, trong khi bay trên không, đã ba lần ngâm
câu kệ này trên trời:
Ôi
cúng dường, cúng dường Ba-la-mật,
Ðã
khéo dâng ngài Ca-diếp được rồi!
Khi
ấy, Thế Tôn thấy thế liền nói kệ:
Tỳ-kheo
sống bằng khất thực
Tự
mình nương tựa chính mình
Tịch
lặng, chú tâm, hằng giác
Chư
thiên tôn kính hoan nghinh.
Nói
kệ xong, Thế Tôn dạy:
-
Các Tỳ-kheo, vua trời Ðế Thích qua hương đức hạnh đã
đến với con ta để cúng dường.
Và
Ngài nói Pháp Cú:
(56)
Ít giá trị hương này,
Hương
già-la, chiên-đàn,
Chỉ
hương người đức hạnh,
Tối
thượng tỏa thiên giới.
11. Godhica
Chứng Niết Bàn
Giữa
ai có giới hạnh...
Câu
này Phật dạy khi ngụ tại Trúc Lâm gần Vương-xá, liên quan
đến Trưởng lão Godhika
chứng Niết-bàn.
Trong
khi Trưởng lão này ngụ tại Hắc Thạch trên đỉnh núi Isigili,
chánh niệm, tinh tấn, kiến quyết, và đã được tâm giải
thoát do hành thiền, thì ngài bị ngã bệnh vì tinh cần thái
quá và không thể trụ tâm vào đề mục thiền được lâu.
Lần thứ hai, lần thứ ba, và đến sáu lần, ngài vào thiền
định và lại bị trạo hối quấy nhiễu. Lần thứ bảy,
ngài trụ tâm được rồi liền tự nghị: "Sáu lần ta đã
bị bệnh làm cho tán tâm. Một người bị tán tâm thì đời
sau thật không biết ra sao. Ðã đến lúc phải dùng đến lưỡi
dao cạo."
Rồi
ông lấy dao cạo đầu, xong nằm trên giường định cắt đứt
cổ họng. Ma vương biết ý định của Ngài, nghĩ rằng nếu
Ngài đạt được Minh sát tuệ, sẽ chứng A-la-hán, nên muốn
cản Ngài. Tự thấy lời mình khó thuyết phục Ngài, Ma vương
muốn cầu cứu với Thế Tôn, nên biến mình thành một người
tầm thường đến gặp Phật và nói:
Hỡi
đấng Ðại Hùng, bậc Ðại Trí Tuệ!
Rực
rỡ thần lực, rực hào quang,
Người
vượt thắng hận thù, sợ hãi.
Xin
đảnh lễ bên chân Ngài, hỡi đấng Chánh Biến Tri!
Ðấng
Ðại Hùng! Ðệ tử Ngài đã khắc phục sanh tử
Lại
hướng về cái chết, đang rắp tâm.
Hãy
cản ngăn, hãy thuyết giảng đạo thâm
Hãy
thương xót, hỡi người ban ánh sáng!
Ðức
Thế Tôn, lừng lẫy tiếng tăm trong nhân loại!
Môn
đệ Ngài, đang an vui trong giáo pháp,
Sao
giờ lại muốn kết thúc đời,
Chưa
tròn ý nguyện, chưa thuần thục?
Ngay
lúc đó Trưởng lão đưa lưỡi dao lên. Ðồng thời Thế Tôn
cũng nhận ra Ma vương, bèn nói kệ:
Người
với tâm kiên định, hết còn khao khát sống.
Godhika
diệt danh được dục tham, đã chứng đạt Niết-bàn.
Và
Thế Tôn dẫn một số đông Tỳ-kheo vào tận nơi Trưởng
lão đang nằm, tay đã buông dao. Trong khi đó ác ma giống như
một cột khói hay một khối đen, chạy khắp phương hướng
tìm thần thức của Trưởng lão. Ác ma cứ thắc mắc không
biết thần thức của Trưởng lão tụ tại đâu. Thế Tôn
chỉ cho các Tỳ-kheo cột khói và khối đen, bảo:
-
Này các Tỳ-kheo, đó là ác ma đang đi tìm thần thức người
thanh niên hiền thiện, vì không biết nó an trụ tại đâu.
Nhưng này các Tỳ-kheo, thần thức của Godhika
không tụ. Bởi vì, này các Tỳ-kheo, người thanh niên hiền
thiện Godhika đã nhập Niết-bàn.
Ma
vương không thể tìm thần thức của Trưởng lão, bèn giả
trang thành một ông hoàng, tay cầm cây đàn bằng gỗ Vilva màu
vàng nhạt, đến gặp Thế Tôn và hỏi:
Bốn
phương tám hướng tôi tìm kiếm,
Chẳng
thấy Godhika, ngài ở đâu?
Thế
Tôn đáp:
Người
với tâm kiên định
Quyết
chí, chuyên thiền định
Thiền
duyệt bạn hằng vui
Ngày
đêm đều tinh tấn
Ðâu
còn lòng khát sống
Dẹp
thắng hết ma quân
Chẳng
còn nợ tái sanh
Hết
mối manh tham ái
Godhika,
Tỳ-kheo ấy
Ðã
chứng đạt Niết-bàn.
Thế
Tôn nói xong, Ma vương bèn đáp lại bằng câu kệ:
Tràn
ngập thất vọng
Quỷ
buông đai đàn
Lòng
buồn trĩu nặng
Hắn
liền biến tan.
Và
Thế Tôn bảo tiếp:
-
Ác ma, ngươi có ý đồ gì mà tìm chỗ tụ của thần thức
người thanh niên hiền thiện? Một trăm hay một ngàn ngươi
cũng không bao giờ tìm được chỗ đó.
Xong
Ngài nói Pháp Cú:
(57)
Giữa ai có giới hạnh,
An
trú không phóng dật,
Chánh
trí, chân giải thoát,
Ác
ma không thấy đường.
12.
Sirigutta Và Garahadinna
Như
giữa đống rác nhớp...
Phật
dạy câu này liên quan đến Garahadinna,
lúc ngụ tại Kỳ Viên.
Ở
Xá Vệ có hai người bạn, Sirigutta đệ
tử cư sĩ của đức Phật và Garahadinna
môn đồ của ẩn sĩ lõa thể Ni-kiền-tử. Các ẩn sĩ này
thường này thường bảo Garahadinna đến
gặp Sirigutta hỏi
những câu như:
-
Tại sao bạn đến thăm Sa-môn Cồ-đàm?
-
Bạn trông mong gì nơi ông ta?
Và
họ còn bảo Garahadinna đến
khuyên Sirigutta thế
này thế nọ, để ông ta đến thăm và cúng dường các ẩn
sĩ?
Garahadinna vâng
lời, và bất kỳ gặp Sirigutta ở
đâu, dù đang đứng hoặc ngồi, đều hỏi như thế. Sirigutta,
vẫn cố gắng giữ im lặng nhiều ngày liên tiếp. Một hôm
hết kiên nhẫn, ông đáp lời:
-
Này bạn, mỗi lần gặp tôi là bạn cứ hỏi như thế... Vậy
thì bạn hãy trả lời cho tôi biết các vị thầy cao quý của
bạn biết được những gì?
-
Ồ, bạn à. Không có điều gì mà các thầy tôi không biết.
Các thầy tôi biết hết từ quá khứ, hiện tại đến vị
lai. Biết cả ý, lời và hành động của mọi người. Biết
hết những chuyện sẽ xảy ra và những chuyện không xảy
ra.
-
Bạn không có ý nói thế chứ?
-
Tôi nói đúng thế.
-
Nếu quả đúng như thế, bạn đã phạm một lỗi lớn, là
đã không cho tôi biết từ trước các vị thầy cao quý của
bạn có thần thông thần trí như vậy. Hãy mời các vị ấy
đến, nhân danh tôi.
Garahadinna đến
các thầy ẩn sĩ, đảnh lễ và chuyển lời mời, họ vui mừng
bảo nhau:
-
Việc chúng ta đã xong. Một khi Sirigutta đặt
niềm tin nới chúng ta thì lợi lạc khỏi chê.
Khu
nhà ở của Siragutta rất
rộng và giữa hai căn nhà có một khoảng đất trống dài.
Anh ta cho đào hố nơi đó và đổ đầy phân và bùn. Ở hai
đầu hố, anh ta chôn cọc xuống đất và lấy dây thừng cột
vào cọc. Rồi anh ta đặt ghế ngồi với hai chân trước trên
mặt đất và hai chân sau trên dây thừng. Ngay khi các ẩn sĩ
ngoại đạo ngồi xuống sẽ bật ngửa ra sau, lộn đầu xuống
hố. Một khăn trải giường được phủ lên chỗ ngồi để
che miệng hố. Nhiều chậu bằng đất nung thật to được
rửa sạch, miệng chậu phủ lá và khăn. Những chậu không
đó được đặt phía sau nhà, bên ngoài bôi lên nào là cháo,
cơm cục, mật, đường thô và b