V.
Phẩm Ngu
1.
Nhà Vua và Người Nghèo Có Vợ Ðẹp
Ðêm
dài cho kẻ thức...
Ðức
Phật dạy câu này khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến vua
Ba-tư-nặc ở Kosala và
một người.
Và
một dịp lễ, vua Ba-tư-nặc ở Kosala
cưỡi voi trắng Pundarika
trang hoàng lộng lẫy diễu hành khắp thành. Ðến lúc sắp
giải tán, dân chúng bị ném đất loạn xạ, đập bằng gậỵ
lung tung, nhưng vẫn nghễnh cổ nhìn xem. Nhà vua được phước
báo nhu thế do bố thí, giữ giới và làm nhiều công đức.
Trên
tầng lầu chót một tòa nhà bảy tầng có thiếu phụ vợ
một người nghèo, mở cửa sổ nhìn vua, xong lui vào. Cô ta
hiện ra trước mắt nhà vua như vầng trăng rằm rồi lẫn
vào đám mây. Quá say đắm, nhà vua suýt té nhào khỏi lưng
voi. Kết thúc thật nhanh cuộc diễu hành, vua trở về hoàng
cung hỏi viên quan thân tín có thấy thiếu phụ hay không, và
ra lệnh dòi ông chồng. Ông ta hiểu ngay mạng sống bị đe
dọa là vì cô vợ, nhưng không dám cãi lệnh. Ông ta dến hầu
vua, và bị sung vào đội lính hầu. ông ta từ chối, xin trả
tiền sưu nhưng không được.
Nhà
vua muốn kết tội và giết ông ta để đoạt cô vợ. Phần
ông ta vì sợ chết, cũng hết lòng phục vụ nhà vua. Lửa
ái nơi vua càng lúc càng tăng. Vì không tìm thấy chút lỗi
nào, vua bèn sai ông ta tìm cho được đất đỏ với bông súng
màu đỏ và màu xanh, nếu không có mang về kịp giờ vua tắm
sẽ bị tội chết.
Ông
ta hốt hoảng về nhà, hối vợ cơm nước. Không kịp chờ
cơm chín, ông vội múc đại gạo vừa mới sôi, lỏng bỏng
như cháo, thêm một ít cà-ri vào giỏ, vội vàng lên đường.
Khi ông vội vàng đi như thế thì cơm cũng về chín tới. Ông
để riêng một phần cơm ngon và bắt đầu ăn. Kịp có khách
ông ta mời ăn luôn phần đã để dành. Ăn xong ông ta vứt
một nắm cơm xuống hồ, súc miệng và lớn tiếng khấn nguyện
long thần hồ này xin cho ngàn phước báo do bố thí thức ăn
cho người khách và trăm phước báo do bố thí cơm gạo cho
cá dưới hồ, tất cả đều hồi hướng đến long thần,
và hãy mang đến cho ông đất đỏ với bông súng màu trắng
và xanh. Ông lặp lại lời khẩn cầu đến ba lần.
Long
vương ở đó nghe hết lời khấn, hóa thành ông lão đến
gặp người lính hầu, hỏi lại kỹ. Sau khi nghe người lính
hầu nói lại ba lần hồi hướng hết công đức bố thí,
long vương bèn mang đất đỏ với bông súng đến.
Nhà
vua sợ người lính hầu hoàn thành sứ mạng, nên đã ra lệnh
đóng cửa và niêm phong rất sớm. Do đó tuy người lính đến
kịp lúc, vẫn không thể dâng vua đất và hoa được, dù đã
xin lính gác mở cửa. Ông thất vọng, lòng ngổn ngang không
biết tính sao.
Cuối
cùng ông đặt tảng đất đỏ nơi ngạch cửa và treo bông
súng lên cánh cửa, la to:
-
Hỡi mọi người trong thành, xin làm chứng tôi đã hoàn thành
sứ mạng vua giao phó. Vua đang tìm hết cách hại tôi một
cách vô cớ.
Người
lính hầu la lên ba lần như thế, bối rối không biết đi
đâu ẩn trú; nghĩ đến chư Tăng giàu lòng nhân từ, liền
đến tinh xá ngủ lại.
Nhà
vua suốt đêm không thể nào chợp mắt được vì lửa ái
thiêu đốt tâm can. Vua chờ trời hé sáng để giết người
chồng và mang người vợ về cung. Ðang trằn trọc vua nghe
được bốn âm thanh. Nguyên do là có bốn người bị đọa
vào địa ngục rộng đến sáu chục dặm, bị nấu sôi sục
như hạt gạo nấu hầm trong nồi nung suốt ba chục năm, xuống
tận đáy địa ngục và sau ba chục năm nữa trồi lên miệng
địa ngục, nhìn lẫn nhau, muốn đọc một câu kệ cũng không
nỗi, chỉ bập bẹ vài chữ, rồi lại rơi tõm vào địa ngục
trở lại.
Vua
nghe những âm thanh trên sau nửa đêm. Hốt hoảng và sợ hãi,
vua hoang mang không hiểu có phải mình đã tới số, hay chánh
hậu tận mạng, hay vương quốc tận diệt, và thức luôn đến
sáng. Trời sáng rồi, vua cho mời vị tư tế đến hỏi xem
đó là điềm báo gì qua bốn âm thanh đã nghe là "Du, Sa, Na,
So". Vị Bà-la-môn tư tế hoàn toàn không biết gì về ý nghĩa,
nhưng sợ lộ ra sự ngu dốt của mình sẽ mất hết lợi danh,
nên đáp càn:
-
Ồ! Trầm trọng lắm, tâu bệ hạ.
Vua
hỏi dồn:
-
Xin thầy nói rành mạch hơn!
-
Có nghĩa là bệ hạ sắp lìa đời.
Vua
càng kinh hãi, ú ớ hỏi tiếp:
-
Không có cách nào ngăn được sao?
-
Tâu bệ hạ, có. Xin Ngài đừng sợ. Trong ba bộ Vệ-đà chỉ
rằng phải tế lễ nhiều sinh vật thì có thể cứu mạng
bệ hạ.
-
Ta phải tìm thứ gì?
-
Một trăm voi, một trăm ngựa, một trăm bò đực, một trăm
bò cái, một trăm dê, một trăm lừa, một trăm ngựa giống,
một trăm cừu, một trăm gà, một trăm heo, một trăm con trai,
một trăm con gái.
Sở
dĩ vị Bà-la-môn đòi nhiều thứ như thế, vì chỉ nói tên
thú rừng không, sẽ mang tiếng là muốn ăn thịt, do đó ông
ta cần thêm voi, ngựa và người. Vua muốn cứu mạng mình
với bất kì giá nào nên ưng thuận. (Theo Tương Ưng bộ kinh,
mỗi loài lên đến năm trăm.Dân chúng xót thương la khóc nghe
như tiếng trái đất nứt vỡ).
Hoàng
hậu Mạt-lợi (Mallika)
nghe tiếng kêu khóc inh ỏi, hỏi vua:
-
Ðại vương, làm sao mà các căn của Ngài hỗn loạn và mệt
mỏi thế?
-
Mạt-lợi! Bà không biết một con rắn độc lọt vào tai ta
sao?
Và
vua kể lại mọi sự. Hoàng hậu bảo thẳng với vua:
-
Bệ hạ quả là kẻ thiếu trí. Trong kho không thiếu chi các
món ngon vật lạ, bệ hạ cai trị cả hai vương quốc, nhưng
thật sự bệ hạ lại là kẻ thiếu trí.
Vua
ngạc nhiên hỏi lại, và được hoàng hậu giải thích:
-
Có bao giờ bệ hạ nghe rằng phải hi sinh mạng người khác
để cứu sống mình không? Chỉ vì người Bà-la-môn ngu xuẩn
kia đã nói xằng mà xuýt chút nữa bệ hạ đẩy dân chúng
vào bể khổ. Ðức Ðạo sư đang ngụ trong tinh xá gần đây,
bậc Thầy của trời và người, bậc Thắng tri của tam thế.
Bệ hạ hãy đến thỉnh cầu Ngài chỉ giáo.
Nhà
vua và hoàng hậu đến tinh xá gặp Phật. Ðược Phật hỏi
vì việc gì mà đến muộn, nhà vua vẫn còn ám ảnh về nỗi
sợ chết không thốt nên lời, chỉ đảnh lễ rồi đứng
im đó, hoàng hậu Mạt-lợi thay lời trình bày và được Phật
dạy:
-
Âm thanh vua nghe được là tiếng rên siết của kẻ xấu ác
bị khổ hình.
Vua
tò mò hỏi:
-
Bạch Thế Tôn, họ đã tạo nghiệp gì?
Phật
kể lại:
Chuyện
quá khứ - Lò
Ðịa Ngục
Vào
thời xưa khi con người sống đến hai chục ngàn tuổi, Phật
Ca-diếp xuất hiện. Trên đường du hóa với hai mươi ngàn
Tỳ-kheo lậu tận, Phật đến thành Ba-la-nại. Dân trong thành
từng nhóm hai, ba người hoặc đông hơn, cúng dường thức
ăn. Lúc đó có bốn người con của một thương buôn giàu
có, sản nghiệp mỗi người lên đến bốn trăm triệu, và
rất hòa thuận với nhau. Một hôm họ bàn với nhau sao không
cúng dường, tạo công đức, giữ giới hạnh vì một vị
Phật đang du hóa. Nhưng không ai tán đồng. Kẻ thì ưa chè
chén say sưa, người thì đắm say trong cơm thịt béo bở hoặc
của ngon món lạ nấu nướng cầu kỳ. Có tên còn đòi tung
tiền mua chuộc vợ người và cướp đoạt để tiêu khiển.
Cả bọn tán đồng ý kiến này và làm theo. Cứ như thế họ
phạm tội tà dâm suốt hai chục ngàn năm, đến lúc mạng
chung bị đọa vào địa ngục A-tỳ, bị khổ hình đau đớn
trong thời kỳ giữa hai vị Phật ra đời. Vì quả báo ác
nghiệp chưa tiêu, tái sanh, họ lại bị đọa vào Thiết địa
ngục lớn sáu mươi dặm. Sau khi chìm xuống tận đáy địa
ngục ba chục ngàn năm, họ bị trồi lên cũng ba chục ngàn
năm. Mỗi người đều mong muốn đọc lên một câu kệ, nhưng
chỉ thốt được một vần đầu, rồi lại rơi vào Thiết
địa ngục.
(Hết
Chuyện quá khứ)
Phật
hỏi nhà vua:
-
Bệ hạ nghe được chữ gì?
-
Bạch Thế Tôn, chữ "Du".
Phật
liền đọc hết câu kệ mà kẻ chịu tội muốn thốt lên.
Sau đó, Ngài bảo vua nói tiếp các chữ còn lại, và bổ túc
thành bốn bài kệ như sau:
Du:
Tạo ác nghiệp một đời,
Có
của chẳng thi ân,
Tài
sản dù ức triệu,
Không
cứu nổi mạng thân.
Sa:
Sáu chục ngàn năm dài,
Tạo
tác bao nghiệp ác,
Ðịa
ngục nung nấu sôi,
Biết
bao giờ được thoát?
Na:
Chẳng có ngày được thoát,
Thoát
từ đâu có được?
Do
xa xưa mình đã,
Gây
bao điều ô trược.
So:
Xin hứa chắc từ đây,
Nếu
tái sanh làm người,
Quyết
bố thí trì giới,
Làm
việc thiện đời đời.
Thế
Tôn đọc và giải thích từng câu kệ. Vua nghe qua chuyển động
cả tâm can. Hiểu rằng tội tà dâm quả thật là nghiêm trọng,
sẽ bị đọa địa ngục trong thời kỳ giữa hai đức Phật,
rồi qua Thiết địa ngục chịu khổ hình thêm sáu chục ngàn
năm chưa chắc đã mãn. Nhớ lại mình cũng sắp phạm tội,
vua tự hứa từ đây dứt hết lòng tham dục vợ người, và
thưa với Phật:
-
Bạch Thế Tôn, hôm nay con mới biết đêm dài đối với kẻ
thức.
Người
lính hầu của vua ngồi gần đó cũng thưa:
-
Bạch Thế Tôn, hôm qua con mới biết đường dài cho kẻ mệt.
Thế
Tôn nối kết hai câu trên vào Pháp Cú:
(60)
Ðêm dài cho kẻ thức,
Ðường
dài cho kẻ mệt,
Luân
hồi dài, kẻ ngu,
Không
biết chơn diệu pháp.
Vua
đảnh lễ Thế Tôn xong, trở về ra lệnh thả hết người
và vật tế lễ. Họ được rưới nước trên đầu, trở
về nhà và đồng thanh tán thán hoàng hậu Mạt-lợi, chúc
bà được khang an trường thọ.
Buổi
chiều chúng Tăng tụ họp trong Pháp đường bàn tán về trí
tuệ của Mạt-lợi. Ðức Phật đang ở trong hương thất nghe
được liền vào Pháp đường ngồi tòa báu Như Lai và kể:
Chuyện
quá khứ
Vua
Ba-La-Nại VàHoàng Hậu Dinnà
Xưa
kia một hoàng tử đến khấn với vị thần cây đa, nếu được
thần phù hộ lên ngôi báu sẽ lấy máu của một trăm vua
và hoàng hậu xứ Diêm-phù-đề này tế thần. Khi vua cha băng
hà, hoàng tử giữ lời hứa chinh phục các vua khác, từng
người một đủ một trăm vua và hoàng hậu, đem đến gốc
cây nọ định sẽ bắt uống thuốc độc cho chết, riêng hoàng
hậu Dinnà của
vị vua trẻ tuổi nhất được tha mạng vì đang có mang.
Thần
cây sợ các hoàng tộc xứ Diêm-phù-đề bị tiêu diệt, và
rễ cây đa bị ô nhiễm do lòng tin mù quáng của hoàng tử.
Tự nghĩ sức mình không đủ, thần cây liền cầu cứu các
vị thần khác, nhưng đều bị từ chối. Thần đến trời Cakkavàla,
rồi Tứ thiên vương cũng không nhận lời. Cuối cùng đến
trời Ðế Thích, thần mạnh miệng quy cho Ðế Thích chịu
trách nhiệm về dòng máu hoàng tộc, do đó được Ðế Thích,
tuy không trực tiếp ngăn chặn hành động của hoàng tử,
nhưng bày mưu cho thần. Thần sẽ khoác áo choàng đêm, ra khỏi
cây, giả bộ cho vua thấy là muốn đi xa để vua cầm giữ
lại. Lúc đó thần sẽ ra điều kiện cho vua là phải có mặt
hoàng hậu Dinnà
của vua Uggasena mới
đúng với lời hứa khi trước. Và bà ta sẽ dạy giáo pháp
cho nhà vua, đồng thời sẽ cứu mạng cho các vua và hoàng
hậu này.
Thế
là hoàng hậu Dinnà
được đưa đến. Bà chỉ tiến tới trước chồng mình, vua Uggasena,
đảnh lễ, dù rằng ông này đang ngồi ở vòng ngoài của
một trăm vua thua trận. Vua Ba-la-nại bị xúc phạm, tỏ thái
độ bất bình. Bà bèn nói:
-
Tôi có bổn phận với bệ hạ không? Vị vua của tôi đây
là người ban quyền lực cho tôi. Tại sao tôi có thể bỏ
ông ta để đảnh lễ bệ hạ?
Thần
cây hoan hô bà, tung hoa trước mắt đám đông tụ họp:
-
Hoàng hậu thật khéo nói!
Vua
Ba-la-nại bảo:
-
Bà không đảnh lễ ta cũng được. Nhưng sao không đảnh lễ
thần cây đây? Ông ta có quyền lực nhiệm mầu, đã ban cho
ta quyền thống trị và uy lực của một vị vua.
-
Tâu bệ hạ, bệ hạ đã chinh phục các vua này bằng tài sức
của chính mình. Thần cây chẳng hề đánh bại họ rồi đưa
về cho bệ hạ.
Bà
nói tiếp:
-
Bệ hạ bảo thần cây có quyền lực nhiệm mầu, thế bên
trái của thần có một cây đang bốc cháy, sao thần không
dùng phép tắt lửa đi!
Thần
cây lại tung hô bà như trước:
-
Hoàng hậu thật khéo nói!
Hoàng
hậu vừa nói vừa khóc và cười. Vua cho bà mất trí.
Nhơn
đó bà kể lại:
Chuyện
quá khứ
Người
Ðàn Bà Giết Con Cừu
Thuở
xưa tôi sinh vào một gia đình gia giáo. Bạn của chồng đến
chơi, tôi nhờ nữ tỳ mua thịt về nấu cơm đãi khách. Cô
ta tìm khắp chợ không có. Vì thấy một con cừu nằm gần
nhà, tôi cắt cổ làm thịt. Do ác nghiệp đó tôi chết đi
bị đày vào địa ngục. Sau bao khổ hình, do quả báo chưa
hết, đầu tôi bị cắt nhiều lần bằng số lông cừu. Nếu
vua giết hết những người này để tế thần thì biết bao
giờ mới hết khổ đau? Tôi đã khóc vì nhớ đến nỗi khổ
trước kia.
Bà
đọc kệ:
Do
tội cắt cổ cừu,
Ðầu
tôi phải rơi đổ,
Nhiều
lần bằng số lông,
Của
chú cừu khốn khổ.
Nếu
vua định giết chết,
Chừng
ấy số sinh linh,
Biết
làm sao lường hết,
Nỗi
thống khổ điêu linh.
Bà
đã cười vì vui mừng thoát được khổ ách đó.
Thần
cây lại tán thán bà. Vua giật mình vì suýt nữa đã phạm
tội ác không biết bao giờ mời rửa sạch được. Vua ra lệnh
thả hết các vua, đảnh lễ những người lớn tuổi và chào
kính những người trẻ hơn mình, xin mọi người tha thứ cho
mình, và cho họ trở về xứ sở.
(Hết
Chuyện Quá Khứ)
Phật
kể chuyện xong bảo chúng Tăng không phải bây giờ Mạt-lợi
cứu mạng nhiều người mà trong kiếp trước bà cũng đã
làm như thế. Lúc đó vua Ba-la-nại là vua Ba-tư-nặc, hoàng
hậu Dinnà là Mạt-lợi,
và thần cây là Thế Tôn. Phật dayï tiếp rằng đoạt mạng
sống của chúng sanh là không bao giờ đúng pháp mà con chịu
khổ ách lâu dài. Ngài đọc kệ:
Người
nếu biết khổ đau,
Bắt
nguồn từ sự sống,
Không
còn đoạt mạng sống
Của
người, để chịu phiền.
2.
Một Tăng Sinh Khó Dạy
Tìm
không được bạn đường...
Ðức
Phật dạy câu này tại Xá-vệ, liên quan đến đệ tử của
Trưởng lão Ðại Ca-diếp.
Trưởng
lão lúc đó ngụ tại hang Pipphali,
có hai đệ tử theo hầu. Một người làm tròn bổn phận,
người kia luôn lẫn tránh công việc, thậm chí còn dành công
trạng của bạn đồng môn. Tức là khi bạn mình đã chuẩn
bị nước tắm cho thầy xong, anh ta vội báo cho thầy để
lập công. Anh bạn thấy thế liền chơi khăm một vố. Khi
bạn lười di ngủ sau giờ cơm trưa, anh đun nước tắm cho
thầy xong đổ vào vại dựng ở nhà sau, chỉ chừa lại một
ít trong nồi đun.Thức dậy, bạn lười thấy nồi đun bốc
hơi, đinh ninh nước đã đun xong và mang vào phòng tắm liền
chạy đi báo thầy như mọi lần.
Trưởng
lão bước vào phòng tắm, chẳng thấy nước, chỉ cho bạn
lười. Hoảng hồn, anh vào nhà bếp cầm vá quậy trong nồi
hơi thấy cạn queo. Anh bực mình mắng bạn là đồ đểu,
và lúng ta lúng túng đến chỗ tắm ngoài sông múc nước.
Ðã thế trở về còn bị Trưởng lão gọi đến dạy bảo:
-
Một Tỳ-kheo không được nói mình làm xong khi không phải
chính mình làm. Khi ta bước vào thấy không có nước ngươi
lại bực mình cầm bình đi, một vị tăng không được hành
động như thế.
Tăng
sinh lười đó rất mực giận dữ, cho rằng chỉ vì mấy giọt
nước mà thầy la mắng mình như thế. Ngày hôm sau anh không
thèm theo thầy đi khất thực nữa. Trưởng lão phải đi với
tăng sinh kia. Khi cả hai đi xa, tăng sinh man trá đi đến nhà
cư sĩ hay hộ cho Trưởng lão, bảo rằng ngài khó ở, không
đi bát được, và xin cúng dường thức ăn. Cư sĩ làm theo,
anh ta nhận lấy và ăn hết một mình trên đường về tinh
xá.
Hôm
sau, Trưởng lão đến nhà cư sĩ, ông ta vui mừng thấy Ngài
bình phục và còn bảo là thức ăn do ông ta cúng dường. Trưởng
lão không thốt một lời, về tinh xá răn đe anh đệ tử man
trá:
-
Ta biết hành động của ngươi hôm qua. Hạnh xấu này không
phù hợp với một người đã từ bỏ thế gian. Ngươi không
được ăn thực phẩm do gợi ý.
Tăng
sinh lười bừng lên ác cảm đối với thầy mình. Anh nghĩ
rằng chỉ vì mấy giọt nước thầy mắng mình là nói dối,
bây giờ chỉ một nắm cơm của tín thí thầy cấm không cho
ăn vì cho là mình đã gợi ý mưu toan, thầy còn cho huynh kia
một bộ y; quả là thầy đối xử với mình quá tệ bạc,
mình phải trả thù mới được. Thế rồi hôm sau trong khi
Trưởng lão di khất thực, ở lại tinh xá một mình, anh ta
lấy gậy đập hết đồ dùng để ăn uống, nổi lửa đốt
lều cỏ của Trưởng lão, sau đó dùng búa đập nát tan những
gì không cháy hết. Mạng chung anh ta đọa vào địa ngục A-Tỳ.
Dân
chúng đều bàn tán chuyện trên. Có một vị tăng rời Vương-xá
đến Kỳ Viên viếng Phật, được Phật hỏi thăm sức khỏe
trưởng lão Ðại Ca-diếp liền thuật lại tự sự. Phật
giải thích không phải lần đầu anh ta nổi giận vì bị khiển
trách, mà trong tiền kiếp anh ta cũng đã từng làm như thế,
và Phật kể:
Chuyện
quá khứ
Con
Khỉ Và Chim Singila
Thời
xưa khi Phạm-ma-đạt cai trị Ba-la-nại, một con chim Sigila làm
tổ trên vùng Hy-mã-lạp-sơn. Một hôm, vào mùa mưa, một con
khỉ đến đó run rẩy vì lạnh. Chim thấy vậy bèn đọc kệ:
Như
người, này anh khỉ!
Anh
có đầu, tay chân,
Lý
do gì bào chữa,
Không
làm nhà che thân?
Khỉ
nhận đúng như thế, nhưng biết không đủ trí khôn để cất
nhà, bèn nói:
Này
chim Singila,
Ðầu
và tay chân ta,
Tuy
là giống người thật,
Nhưng
người thông minh thật,
Còn
ta tìm không ra.
Chim
nghe qua hiểu ngay kẻ như thế không thể nào ở trong nhà,
đáp với giọng khinh bỉ:
Kẻ
nào không kiên định,
Bộp
chộp và gian dối,
Không
giữ được giới hạnh,
Sẽ
không được phúc lành.
Này
anh bạn khỉ ơi,
Hãy
cố gắng tới nơi,
Cố
hết sức mình để
Từ
bỏ những thói xưa,
Xây
một lều cho khỏi
Run
lạnh vì gió mưa.
Khỉ
bị mắng nhiếc, bừng giận, phen này quyết ra tay cho chim biết
hạnh phúc là gì. Nó phá tan nát tổ chim tung ra gió. Chim thoát
được bay mất khỉ tóm lấy tổ.
Rồi
Thế Tôn hợp nhất những nhân vật trong Bổn Sanh:
-
Khỉ lúc đó là Sa-di đốt nhà, chim Singila là
Ðại Ca-diếp. Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
Sa-di đốt nhà vì bất bình khi bị khiển trách, trong tiền
kiếp cũng đã làm như thế. Ca-diếp, đệ tử Ta, nên sống
một mình hơn là với kẻ cuồng dại.
Và
Thế Tôn nói với Pháp Cú:
(61)
Tìm không được bạn đường,
Hơn
mình hay bằng mình,
Thà
quyết sống một mình,
Không
bè bạn kẻ ngu.
3.
Kẻ Vận Rủi Trong Nhà
Con
tôi, tài sản tôi...
Thế
Tôn đã dạy câu trên khi ở Xá-vệ, liên quan đến chưởng
khố A-nan.
3A.
Chưởng Khố Keo Kiệt
Chưởng
khố A-nan ở Xá-vệ, gia sản lên đến tám trăm triệu, nhưng
lại là nhà đại keo kiệt, cứ mỗi nửa tháng, ông triệu
tập thân tộc và dạy con trai là Mulasiri ba
điều:
-
Ðừng tưởng rằng tám trăm triệu là món tiền lớn.
-
Có được của chớ bao giờ cho ai.
-
Luôn luôn ráng kiếm thêm nhiều nữa. Nếu hơ hỏng tiền bạc
để lọt qua kẽ tay, tuy từng chút những chắc chắn, của
cải sẽ bay mất.
Và
kết luận:
Xem
kìa hương sắc phai dần,
Kiến
tha về tổ, chuyên cần làm sao!
Ong
kia hút mật siêng năng,
Người
khôn chăm sóc kỉ cang gia đình.
Sau
đó ít lâu, ông chỉ chỗ năm kho của cải cho con trai rồi
qua đời, bị ô danh vì tính keo kiệt. Ông đầu thai vào một
trong số ngàn nhà Chiên-đà-la tại một ngôi làng kế Xá-vệ.
Vua
hay tin phong cho con trai thừa kế ông làm chưởng khố.
3B.
Kẻ Vận Rủi Trong Nhà
Ngàn
gia đình này làm thuê kiếm sống. Nhưng kể từ ngày bà mẹ
mang thai ông, họ không kiếm ra nổi, một đồng bạc cũng
như một mẻo gạo để nuôi thân. Họ xì xào với nhau:
-
Còn đang làm lụng mà đào ra không nổi một hột cơm, chắc
phải có một tên vận đen trong chúng ta.
Họ
chia ra hai nhóm, điều tra cặn kẽ, lòi ra tên xấu số đó,
và đuổi mẹ ông đi. Từ lúc mang thai ông, bà phải vất vả
lắm mới sống lây lất qua ngày, cuối cùng cũng sinh được
bé trai. Tay, chân, mặt, mũi, miệng cậu bé không nằm đúng
chỗ nên trông cậu bé thật quái dị, y như một tên quỷ
đen đủi gớm ghiếc. Tuy vậy bà mẹ vẫn không bỏ rơi đứa
con mang nặng đẻ đau, tình mẹ bao la. Bà rất chật vật để
nuôi con, nếu mang theo ra đường thì chẳng nhận được gì,
nếu để ở nhà thì còn được chút ít. Cậu bé lớn lên,
và khi đến tuổi xin ăn được, bà đặt một miếng sành
vào tay bảo:
-
Mẹ con ta thật khốn đốn, cùng quẫn, mẹ không thể nuôi
nổi con nữa. Con hãy đi xin, trong thành người ta bố thí cho
người nghèo và du sĩ.
Cậu
bé đi xin từng nhà. Cuối cùng đến nhà mà trong kiếp trước
cậu là trưởng khố A-nan. Nhớ lại tiền kiếp, cậu bước
thẳng vào trong, qua hết ba phòng mà chẳng ai trông thấy. Ðến
phòng thứ tư mấy đứa con nhỏ của trưởng khố Mulasiri hoảng
sợ bật khóc. Ðám gia nhân rượt đẩy cậu ta, đánh đuổi
đi:
-
Cút đi! Quái vật hết nước nói!
Rồi
xô cậu vào đống rác.
Lúc
bấy giờ Thế Tôn đi khất thực với Trưởng lão A-nan, và
đến đúng nhà ấy. Ðể trả lời câu hỏi của Trưởng lão,
Thế Tôn kể sự tình. Trưởng lão gọi Mulasiri đến,
thế là đám đông tụ tập quanh. Mulasiri
không nhìn ra ai khi Thế Tôn chỉ tên ăn mày. Thế Tôn bảo:
-
Ðó là cha ngươi.
Mulasiri
không tin. Phật bảo tên ăn mày, tức chưởng khố A-nan, chỉ
chỗ năm kho của cải. Cậu ta chỉ đúng. Mulasiri tin
chắc và qui y Phật. Thế Tôn nói Pháp Cú cho đúng:
(62)
Con tôi, tài sản tôi,
Người
ngu sanh ưu não,
Tự
ta, ta không có,
Con
đâu,tài sản đâu?
4.
Kẻ Móc Túi
Người
ngu nghĩ mình ngu ...
Thế
Tôn dạy câu này ở Kỳ Viên, do chuyện hai tên trộm không
còn thân thiết với nhau nữa.
Họ
vốn thân nhau từ lâu, một hôm cùng với đám đông đến
Kỳ Viên nghe pháp. Một người chú tâm nghe Phật thuyết và
chứng quả Dự lưu. Người kia rình cơ hội để giở trò,
thấy một món đồ đáng giá năm farthing (1 farthing bằng
1/4 xu) trong chéo áo một thính chúng, liền bợ ngay. Như vậy
tên trộm chuyên nghiệp vẫn có được bữa ăn nấu thường
ngày trong nhà, còn người cải tà quy chánh thì bếp lạnh
nồi không, lại còn bị vợ chồng tên trộm kia nhạo báng
chê cười:
-
Anh khôn ngoan quá, đến nỗi không còn tiền để nấu cơm
mà ăn!
Biết
rằng bạn đồng nghiệp cũ của mình là kẻ ngu, không phải
là người trí, anh ta cùng quyến thuộc đến Kỳ Viên, gặp
Thế Tôn kể chuyện.
Phật
dạy anh Pháp Cú:
(63)
Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ
vậy thành có trí.
Người
ngu tưởng có trí,
Thật
xứng gọi trí ngu.
5.
Trí Ngu
Người
ngu, dù trọn đời...
Thế
Tôn đã dạy như thế tại Kỳ Viên, do chuyện Trưởng lão Udàyi.
Khi
các Ðại Trưởng lão rời Pháp đường, Udàyi
thường ngồi vào chỗ của các vị ấy. Một hôm có vài khách
tăng đến, thấy như thế cứ tưởng Udàyi
là một Ðại Trưởng lão. Họ hỏi ông vài câu về ngũ uẩn,
và vài vấn đề khác. Vỡ lẽ ra ông chẳng biết gì, họ
khinh bỉ bảo nhau:
-
Tỳ-kheo này là ai mà cùng sống trong tinh xá với Phật, nhưng
lại không biết đến cả ngũ uẩn, tứ đại và căn trần?
Rồi
họ thưa với Phật, Thế Tôn bèn dạy Pháp Cú:
(64)
Người ngu dù trọn đời,
Thân
cận người có trí,
Không
biết được chánh pháp,
Như
muỗng với vị canh.
6.
Từ Trụy Lạc Tới Ðức Hạnh
Người
trí, dầu một khắc...
Ðức
Phật dạy câu này tại Kỳ Viên về ba mươi Tỳ-kheo Pàtheyyaka.
Thế
Tôn đã thuyết pháp lần đầu tiên cho họ trong rừng Kappàsika,
khi họ đang đi tìm người nữ.
Họ
đều vâng theo lời của Phật: "Hãy đến, các Tỳ-kheo!" và
nhận được y bát từ thần thông. Ai cũng giữ được Mười
ba phạm hạnh, và sau một thời gian dài, họ trở về gặp
Phật, nghe Phật thuyết về vô sanh. Trước khi rời chỗ ngồi,
họ chứng A-la-hán.
Các
Tỳ-kheo bàn tán trong Pháp đường:
-
Chẳng bao lâu mà các vị này đã đắc pháp!
Phật
nghe được liền dạy:
-
Các Tỳ-kheo! Ðây không phải là lần đầu ba mươi người
bạn này phạm tội, mà trong tiền kiếp đã có. Nhưng khi nghe Maha
Tundila thuyết pháp trong Bổn Sanh Tundila,
họ được Pháp nhãn thanh tịnh và tuân giữ Ngũ giới. Chỉ
có công đức này mà họ chứng A-la-hán ngay tại chỗ ngồi.
Và
Phật nói Pháp Cú:
(65)
Người trí, dầu một khắc,
Thân
cận người có trí,
Biết
ngay chân diệu pháp,
Như
lưỡi với vị canh.
7.
Một Người Cùi Bị Thử Thách Phủ Nhận Niềm Tin
Người
ngu si thiếu trí...
Thế
Tôn đã dạy như thế tại Trúc Lâm do chuyện người cùi Suppabuddha.
Truyện này được kể trong kinh Udàna.
Người
cùi Supabuddha ngồi
vòng ngoài hội chúng nghe pháp và đắc quả Dự lưu. Anh ta
muốn trình với Thế Tôn pháp lạc của mình, nhưng không dám
bước vào giữa hội chúng. Ðợi đến lúc mọi người đảnh
lễ Phật xong, đi theo Phật một quãng ngắn và quay về, anh
mới trở lại tịnh xá.
Trời
Ðế Thích thấy vậy muốn thử anh, liền bay đến, lơ lửng
trên không, bảo anh:
- Suppabuddha,
anh nghèo hèn, khốn khổ. Ta sẽ cho anh vô số của cải nếu
anh chịu nói "Phật không phải là Phật, Pháp không phải là
Pháp, Tăng không phải là Tăng. Ta đã chán ngấy Pháp, chán
ngấy Tăng".
Anh
cùi hỏi lại:
-
Ông là ai?
-
Ta là Ðế Thích.
-
Ðồ ngu, không biết xấu hổ, ông không xứng đáng nói chuyện
với ta. Ông bảo ta nghèo túng và khổ sở. Trái lại ta được
an lạc với tài sản to lớn: Tín tài, giới tài, tấn tài,
tàm quý tài, văn tài, xả tài, định huệ tài, cả bảy kho
báu này là của ta.
Ai
có kho báu này,
Dù
là nam hay nữ,
Không
thể gọi nghèo khổ,
Ðời
họ chẳng rỗng suông.
Ðó
là bảy kho báu đáng quý, người có được thì đối với
chư Phật và Phật Ðộc Giác không phải là nghèo.
Ðế
Thích nghe xong, đến kể lại cho Thế Tôn, và được Phật
dạy là dù tiền muôn bạc ức cũng không thể thuyết phục
người cùi phủ nhận niềm tin nơi Phật, Pháp, Tăng.
Và
người cùi Suppabuddha
đến chỗ Phật, được Ngài đón tiếp thân tình. Anh trình
với Phật pháp lạc có được, dứng lên rồi đi ra. Ði được
một quãng, anh bị con bê cái húc chết. Con bê này nguyên là
Dạ-xoa tái sanh làm bò trong một trăm kiếp, đã giết bốn
chàng trai trẻ: người quyền thế Pukkusati,
Bahiya daruciriya, tên trộm ngoài vòng pháp luật Tambadathika,
và người cùi Suppabuddha.
Chuyện
quá khứ:
7A.
Bốn Chàng Trai Và Cô Kỹ Nữ
Trong
một tiền kiếp, bốn chàng trai này là con của một thương
gia giàu có, và Dạ-xoa là một cô kĩ nữ tuyệt đẹp. Một
hôm nọ dẫn cô đến vườn giải trí, hưởng lạc xong chiều
đến, nghĩ rằng không ai ở đây ngoài họ, họ bàn nhau lấy
lại một ngàn tiền đã trả, lột hết vàng giết cô ta rồi
bỏ đi. Cô kĩ nữ nghe được, và khi bị giết, cô thề sau
này sẽ thành Dạ-xoa, sẽ giết hại họ như họ đã giết
hại cô. Và quả báo hiện ra y như thế.
Các
Tỳ-kheo báo tin cho Phật về cái chết của người cùi, và
hỏi Phật kiếp sau anh ta sẽ như thế nào, vì sao anh ta bị
bệnh cùi. Phật cho biết anh ta đã chứng quả Dự lưu và
sanh trên cõi trời ba mươi ba và Phật kể:
Chuyện
quá khứ:
7B. Chàng
Trai Láo Xược
Trong
một tiền kiếp, gặp vị Phật Ðộc Giác Tagarasikhi,
anh cùi đã nhổ nước miếng vào ngài vì cống cao ngã mạn.
Anh ta phải chịu khổ não rất lâu ở địa ngục, nhưng quả
báo chưa hết anh tái sanh làm người cùi.
Phật
giảng tiếp cho các Tỳ-kheo:
-
Này các Tỳ-kheo! Mọi chúng sanh trên thế gian dều bị quả
báo ác nghiệt do hành nghiệp xấu ác.
Và
Phật dạy thêm Pháp cú:
(66)
Người ngu si thiếu trí,
Tự
ngã thành kẻ thù,
Làm
các nghiệp không thiện,
Phải
chịu quả đắng cay.
8.
Một Nông Dân Bị Kết Tội Oan
Nghiệp
làm không chánh thiện....
Câu
này đức Phật dạy tại Kỳ Viên, liên quan đến một nông
dân.
Anh
nông dân đang cày trên miếng ruộng gần thành Xá-vệ. Thấy
Thế Tôn và Trưởng lão A-nan làm thị giả đi ngang, anh đảnh
lễ và tiếp tục cày. Thế Tôn không nói gì cả, Ngài đến
chỗ túi tiền rơi - trước đó. Ngài quan sát thế gian thấy
rõ túi tiền và mọi chuyện - chỉ cho A-nan và bảo:
-
Hãy xem, A-nan, một con rắn độc!
A-nan
thưa:
-
Bạch Thế Tôn, con đã thấy, một con rắn độc chết người!
Anh
nông dân nghe được, liền đến chỗ rắn, khi Phật và A-nan
bỏ đi, định sẽ giết rắn. Nhưng đến nơi thấy túi tiền,
anh chợt hiểu chắc Thế Tôn ám chỉ túi tiền là con rắn
độc. Không cần biết đích xác những gì bên trong, anh đặt
túi qua một bên, phủ đất lên và tiếp tục cày.
Trời
sáng, nhà kia khám phá bị mất trộm, liền đuổi theo dấu
bọn trộm, đến cánh đồng nơi chôn túi tiền, và thấy dấu
chân anh nông dân. Ðào đất, nhặt túi tiền lên xong, họ
mắng nhiếc anh:
-
Anh đã trộm nhà người và giờ đây anh làm bộ cày bừa,
phải không?
Sau
khi nện anh ta một trận đích đáng rồi, họ bắt dẫn anh
lên kiện vua. Nghe qua sự tình vua ra lệnh xử tử. Quân lính
trói thúc ké anh, kéo ra pháp trường, dọc đường còn đánh
đập. Anh nông dân chỉ một bề lặp đi lặp lại:
-
Hãy xem, A-nan, một con rắn độc!
-
Bạch Thế Tôn, con đã thấy, một con rắn độc chết người!
Quân
lính ngạc nhiên, hỏi anh ý nghĩa ra sao? Anh bảo sẽ giải
thích nếu gặp được vua. Và anh được như ý. Trước mặt
vua, anh kể lại mọi sự và xác nhận mình không phải kẻ
trộm. Vua ngẫm nghĩ anh ta đã nêu danh Thế Tôn, bậc cao tột
trong thế gian làm chứng, thì thật không đúng nếu kết tội,
và vua quyết định dẫn anh đến gặp Phật để làm sáng
tỏ vụ này.
Sau
khi bạch Phật, dược Phật xác nhận câu chuyện xảy ra, cùng
lời lẽ Phật đã thốt quả y như lời anh nông dân, vua hiểu
hết tự sự. Chẳng qua là bọn trộm biết được một lối
vào thành xuyên qua một suối nước bí mật. Họ đã đào
một đường hầm đến nhà người giàu kia, trộm một số
lớn tiền và vàng, rồi chạy thoát ra ngoài bằng con suối.
Sau khi đánh lừa đồng bọn, một tên dấu riêng một túi
tiền một ngàn đồng vào áo. Hắn cũng cùng đồng bọn đến
cánh đồng để chia của. Xong xuôi bọn chúng giải tán, và
túi tiền đó rớt lại mà hắn không hề hay biết. Vua bèn
kết luận:
Bạch
Thế Tôn, nếu anh nông dân không nói tên một bậc như ngài
để làm chứng, chắc không khỏi chết. Anh đã tự cứu mạng
do lặp lại lời của Phật.
Ðại
vương, Ta đã nói như thế đến khi đó. Một người trí sẽ
không hành động để phải hối hận.
Rồi
Phật đọc Pháp Cú:
(67)
Nghiệp làm không chánh thiện,
Làm
rồi sanh ăn năn,
Mặt
nhuốm lệ, khóc than,
Lãnh
chịu quả di thục.
9. Sumana -
Người Làm Vườn
Và
nghiệp làm chánh thiện...
Phật
dạy câu này ở Trúc Lâm về người làm vườn Sumana.
Mỗi ngày sáng sớm, người làm vườn Sumana hay
dâng lên vua Bình-sa vương tám bó hoa nhài và nhận tám tiền
mỗi bó. Nhưng hôm đó, trên đường mang hoa vào thành, anh
thấy Ðức Phật đang khất thực với chúng Tỳ-kheo đông
đảo, phóng hào quang sáu màu, đầy hùng lực của một vị
Phật. Anh nhận thấy thân Phật như một khối ngọc quý, một
khối vàng ròng, với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi
vẻ đẹp của bậc đại nhân. Lòng phân vân không biết làm
sao phục vụ, chợt thấy bó hoa, liền muốn dâng cúng Phật.
Tuy biết rằng nhà vua có thể cầm tù, giết hay trục xuất
khỏi nước nếu không dâng hoa cho vua, anh vẫn muốn cúng cho
Phật. Anh nghĩ tiếp nếu dâng hoa cho vua đi nữa, bất quá
chỉ nhận tiền đủ kéo dài mạng sống trong kiếp này, trong
khi dâng cúng Thế Tôn sẽ được an lạc, được cứu độ
hằng triệu kiếp không kể xiết. Do đó, anh làm vườn dâng
mạng sống của mình cho Phật.
Niềm
tin kiên cố và lòng hoan hỷ, anh ta tung hoa lên. Ban đầu hai
bó lơ lửng trên đầu Phật như một bảo cái, hai bó tiếp
bên phải, rồi phía sau, rồi bên trái, rủ xuống như một
tấm màn. Như vậy tám bó hoa vây bọc Thế Tôn bốn phía,
cuống hoa hướng ra ngoài và cánh hoa hướng vào trong, trước
mặt Phật như có cổng chào, và chung quanh như những phiến
bạc. Hoa tuy là loài vô tình, nhưng cư xử như có trí khôn,
không dạt về một bên, không rơi xuống, đi theo khi Phật
cử động, đứng yên khi Phật dừng lại. Hào quang tỏa ra
hàng trăm tia từ thân Phật, trước và sau, phải và trái,
và từ đỉnh đầu sáng rực. Không ai gặp Ngài mà bỏ đi.
Họ nhiễu bên phải ba vòng quanh Ngài, tu hội đông như đám
cây cọ chạy trước mặt Ngài. Cả thành náo động, chín
mươi triệu dân bên trong với chín mươi triệu dân bên ngoài,
không một người nào, dù đàn ông hay đàn bà không đến
lễ với đồ cúng dường. Rống lên tiếng rống sư tử và
vẫy lên hàng ngàn mảnh vải, đám đông khổng lồ đã diễn
hành trước mặt Thế Tôn.
Ðể
biểu dương hành động đáng quý của anh làm vườn, Thế
Tôn tiếp tục đi qua thành một khoảng đường ba dặm theo
nhịp trống định âm. Toàn thân anh ta tràn ngập năm điều
hoan hỷ. Theo Thế Tôn một khúc đường, anh lọt vào vùng
hào quang của Phật như thể lao vào biển son, xưng tán Phật,
đảnh lễ Ngài, và xách giỏ không về nhà.
Anh
ta kể chuyện cho vợ nghe. Vợ anh ta quá ngu si không tin sự
mầu nhiệm như thế, tru tréo lên mắng nhiếc chồng:
-
Vua chúa thì cay nghiệt và tàn bạo. Bị chọc giận thế nào
cũng ra lệnh chặt tay, chặt chân hay xử hình phạt khác. Ông
làm như thế thì bao nhiêu trừng phạt sẽ trút xuống cho tôi!
Rồi
mang con đến hoàng cung, cô gặp vua kể lể việc làm của
chồng, và tuyên bố cho cô biết là cô bỏ chồng.
Vua
Bình-Sa vương là thánh đệ tử của Phật. Ngay lần đầu
gặp Phật vua đã chứng quả Dự lưu, niềm tin kiên cố và
tâm an bình. Vua hiểu người này quá ngu si, làm sao có thể
tin một việc làm công đức như thế và ông giả vờ giận
dữ quát lên:
-
Mụ kia! Hắn đã dâng hoa của ta cho Thế Tôn à! Mụ bỏ hắn
là phải. Ta sẽ xử sự với hắn. Dám cả gan dâng hoa của
ta cho Thế Tôn. Nhờ nói thế, vua đuổi được cô ta về,
rồi dến gặp Phật ngay, đảnh lễ Ngài và cùng đi. Phật
biết tâm vua đang an bình, nên đi tiếp vào thành, kinh hành
qua đường phố theo nhịp trống định âm, và dừng trước
cổng hoàng cung. Vua đỡ bình bát và thỉnh Phật vào. Phật
tỏ ý ngồi trên sân hoàng cung, vua liền ra lệnh dựng cấp
tốc một lều che và Phật ngự giữa lều với chúng Tỳ-kheo
chung quanh.
Tại
sao Phật làm như thế? Vì nếu vào hoàng cung, dân chúng sẽ
không thấy được Phật, do đó sẽ không biết được hành
động thiện của người làm vườn (bởi vì chỉ chư Phật
mới tuyên dương rộng rãi đức hạnh của người tốt. Còn
người tầm thường có kể lại cái tốt của người cũng
chỉ để lộ lòng đố kị).
Bốn
cụm hoa vẫn còn lơ lửng bốn phía. Dân chúng phụng sự Phật,
còn nhà vua dâng lên Phật và Tăng đoàn món ăn thượng vị.
Thọ thực xong, Phật hồi hướng công đức và với bốn cụm
hoa bao quanh như trước đây, Phật và đám đông hân hoan reo
hò cùng về Tinh xá.
Vua
tiễn Phật một đoạn đường rồi quay về gặp anh làm vườn.
Hỏi thăm và được anh kể lại lời đã nói với Phật khi
xưng tán Ngài rằng vua có thể giết hay đuổi anh ra khỏi
nước, vua khen anh là một bậc đại nhân và thưởng tám voi,
tám ngựa và tám gia nhân, tám nữ tỳ và tám bộ châu báu
lộng lẫy, tám ngàn đồng tiền, tám cung nữ trong hậu cung
trang điểm đầy đồ trang sức, và tám làng chọn lọc.
Trưởng
lão A-nan nghe tiếng reo hò hân hoan suốt ngày từ sáng sớm,
thắc mắc không biết anh làm vườn được phước báo gì,
hỏi Phật và được Phật đáp:
-
Này A-nan! Hành động của người làm vườn không phải là
việc nhỏ. Anh ta đã giao mang sống cho Ta và xưng tán Ta. Vì
đặt niềm tin nơi Phật, anh ta sẽ không rơi vào đường khổ
suốt trăm ngàn kiếp, mà còn được quả phúc ở cõi trời
và cõi người, và sẽ thành vị Phật Ðộc Giác tên Sumana.
Khi
Thế Tôn về đến Tinh xá, bước vào hương thất, hoa của Sumana rơi
trên tường cổng.
Buổi
chiều, các Tỳ-kheo bàn tán tại Pháp đường về anh làm vườn.
Phật từ hương thất tiến đến, vào Pháp đường bằng một
trong ba ngõ, ngồi vào tòa Như Lai, hỏi các Tỳ-kheo, nghe họ
kể xong. Phật bảo:
-
Ðúng vậy, các Tỳ-kheo! Chỉ nên làm việc gì đừng ân hận
về sau, mỗi khi nhớ lại chỉ thấy hoan hỷ.
Và
Phật nói Pháp Cú:
(68)
Và nghiệp làm chánh thiện,
Làm
rồi không ăn năn,
Hoan
hỷ ý đẹp lòng,
Hưởng
thọ quả dị thục.
10. Upplavannà Bị
Cưỡng Bức
Người
ngu nghĩ là ngọt...
Nhân
chuyện Uppalavannà,
Thế Tôn đã dạy như trên tại Kỳ Viên.
Uppalavanà,
đã lập nguyện với Phật Padumuttara,
sau khi tạo công đức suốt một trăm ngàn kiếp từ loài trời
đến loài người, mạng chung ở cõi trời vào thời Phật
hiện tại, và tái sinh tại Xá-vệ là con gái một thương
gia giàu có. Nước da cô như màu đài sen xanh nên có tên là Uppalavannà,
tức Liên Hoa Sắc. Ðến tuổi cập kê, tất cả các vương
tôn công tử nước Diêm-phù-đề đến cầu hôn. Ông thương
gia không biết giải quyết cách nào bèn bảo con gái đi tu.
Dây là kiếp chót của cô trước khi chứng Niết-bàn nên lời
của ông cha, như dầu đã được tinh chế trăm năm, rưới
lên đầu cô. Do đó cô bằng lòng. Ông chuẩn bị những món
quà đắt giá cho cô, và dẫn cô đến Ni đoàn, cô được
nhận.
Chẳng
bao lâu, cô được giao việc mở và đóng Bồ-tát đường.
Thắp đèn và quét dọn xong, cô chăm chú nhìn ngọn đèn, chú
tâm vào yếu tố của lửa, nhập định. Xuất định, cô chứng
A-la-hán và đắc thần thông.
Sau
đó
cô hành hương khất thực trong xứ, trở về cô phải qua một
khu rừng rậm. Thời đó các ni cô không bị cấm ở trong rừng.
Họ dựng cho cô căn lều, đặt một giường và treo màn chung
quanh. Ra khỏi rừng, cô đến Xá-vệ khất thực rối trở
về lều của mình. Lúc đó, một người Bà-la-môn bà con với
cô tên Ananda, đã
đem lòng yêu cô từ khi cô còn ở thế gian, nghe cô đi khất
thực, liền vaò rừng trước cô, trốn dưới trong lều.
Trở
về lều, đóng cửa lại, cô lên gường ngồi, không thấy
gì trong tối vì cô mới ở ngoài sáng vào. Cô vừa mới lên
giường thì tên trẻ tuổi từ dưới gầm chun ra và leo lên.
Cô la:
-
Ðồ điên! Chớ hại ta!
Nhưng
tên kia, dù bị kháng cự, đã cưỡng bức cô, và bỏ đi.
Không thể chịu nổi sự đồi bại của hắn, đất nứt ra
nuốt hắn và hắn bị đọa vào địa ngục A-tỳ.
Cô
kể cho các ni cô việc đã xảy ra. Các Tỳ-kheo nghe ni cô kể
lại bạch với Phật, và được Phật dạy:
-
Này các Tỳ-kheo! Kẻ ngu có thể là bất cứ ai, Tỳ-kheo hay
Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam hay nữ, phạm tội ác thấy vui thích,
sung sướng hay khoái lạc khi phạm tội, như thể được ăn
mật, đường hay vị ngọt nào khác.
Và
Phật đọc Pháp Cú:
(69)
Người ngu nghĩ là ngọt,
Khi
ác chưa chín muồi,
Ác
nghiệp chín muồi rồi,
Người
ngu chịu khổ đau.
Sau
đó các Tỳ-kheo bàn tán trong Pháp đường:
-
Ngay cả người đã thoát khỏi dục lạc rồi vẫn ưa thích
khoái lạc tình ái và thỏa mãn dục vọng. Tại sao không?
Họ đâu phải là cây Kolàpa hay
ụ kiến, mà là con người bằng xương bằng thịt.
Phật
nghe bèn dạy rằng:
-
Này các Tỳ-kheo! Người đã giải thoát khỏi dục vọng, không
ưa thích khoái lạc tình ái cũng không thỏa mãn dục vọng.
Như một giọt nước rơi xuống lá sen, không thấm vào lá,
cũng không đọng trên lá, nhưng lăn đi và rơi xuống, như
hạt cải không bám vào đầu mũi kim, cũng không ở lại đó,
mà lăn đi và rơi xuống. Cũng vậy, tình yêu đôi lứa không
vướng bận tim người đã giải thoát khỏi dục lạc thế
gian.
Và
Phật đọc Pháp Cú trong phẩm Bà-la-môn:
(401)
Như nước trên lá sen,
Như
hạt cải đầu kim,
Người
không nhiễm ái dục,
Ta
gọi Bà-la-môn.
Bấy
giờ Phật mời vua Ba-tư-nặc đến bảo:
-
Ðại vương, trong giáo đoàn của Ta, thanh nữ và thanh niên
gia giáo rời bỏ quyến thuộc và tài sản, từ bỏ thế gian,
vào ngụ trong rừng. Ðối với giới nữ trong rừng có thể
có những người tâm địa xấu, bị lưả dục nung nấu, vô
lễ và ngạo mạn với họ, cưỡng bức họ, làm uổng phí
đời tu của họ. Như thế cần xây dựng chỗ cư trú cho Ni
chúng trong thành.
Vua
tuân hành. Từ đó chư ni chỉ được ở trong thành.
(Xem
tiếp Phần 2)