VI.
Phẩm Hiền Trí
1.
Một Người Ðược Kho Báu Tinh Thần
Nếu
thấy bậc hiền trí ...
Giáo
lý này Thế Tôn dạy tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Ràdha.
Trước
khi trở thành Sa-môn, Ràdha
là một Bà-la-môn nghèo ở Xá-vệ. Quyết định đi tu, anh
đến tinh xá, làm đủ các việc: cắt cỏ, quét phòng, xách
nước rửa mặt. Các Tỳ-kheo đối xử với anh tử tế, nhưng
không chịu nhận anh vào Tăng đoàn. Kết quả là anh ngày càng
ốm đi.
Một
sáng nọ, Thế Tôn quan sát thế gian, thấy người Bà-la-môn
có thể chứng quả A-la-hán. Ngài giả vờ dạo quanh tinh xá,
đến chỗ Bà-la-môn hỏi:
-
Bà-la-môn, anh làm gì ở đây?
-
Bạch Thế Tôn, con làm mọi việc lớn nhỏ cho các Tỳ-kheo.
-
Anh có được đối xử tử tế không?
-
Bạch Thế Tôn, có. Con được ăn thức ăn đầy đủ, nhưng
quý thầy không cho con xuất gia.
Phật
liền nhóm họp các Tỳ-kheo hỏi:
-
Này, các Tỳ-kheo! Có ai nhớ một việc làm nào của Bà-la-môn
kia không?
Trưởng
lão Xá-lợi-phất thưa:
-
Bạch Thế Tôn, khi con khất thực ở thành Vương Xá, anh ta
cúng cho con một muỗng đầy thức ăn của chính anh ta. Con
nhớ rõ nghĩa cử đó.
-
Này Xá-lợi-phất, một người đã làm một việc như thế,
không xứng đáng thoát khỏi phiền não sao?
-
Thưa vâng, con sẽ thu nhận anh ta vào Tăng đoàn.
Sau
khi gia nhập Tăng chúng, anh ta được một chỗ ngồi trong trai
đường ở vòng ngoài. Cháo và những thức ăn khác lâu ngày
khiến anh cũng phát chán.
Trưởng
lão Xá-lợi-phất cho anh ta đi khất thực chung, thường xuyên
răn nhắc, chỉ giáo:
-
Con phải làm điều này, không nên làm điều nọ.
Vị
Tỳ-kheo cung kính tuân theo, hành đúng như lời dạy, đến
nỗi chỉ trong ít ngày chứng A-la-hán. Trưởng lão cùng ông
đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống. Phật đón
tiếp thân thiện, hỏi:
-
Xá-lợi-phất! Ðệ tử ông có dễ dạy không?
-
Vâng, Thế Tôn! Thầy dễ dạy, bất cứ lỗi gì con chỉ, thầy
không hề chống trái.
-
Xá-lợi-phất, nếu ông có đệ tử như Tỳ-kheo này, ông sẽ
nhận có bao nhiêu người?
-
Con sẽ nhận hết, bạch Thế Tôn.
Các
Tỳ-kheo bàn tán trong Pháp đường:
-
Trưởng lão Xá-lợi-phất là người có lòng biết ơn. Một
Bà-la-môn nghèo chỉ cúng cho ông một muỗng thức ăn, cũng
biết ơn và cho xuất gia làm đệ tử. Lại nữa Tôn giả Ràdha,
người chịu khó nghe lời răn nhắc, đã có được một vị
thầy kiên nhẫn chỉ dạy.
Phật
nghe vậy bèn bảo:
-
Các Tỳ-kheo! Ðây không phải là lần đầu Xá-lợi-phất tỏ
lòng biết ơn. Trong một tiền kiếp ông ấy đã từng như
thế. Và đức Phật kể chuyện bổn sanh Alìnacitta
như sau:
Alìnacitta, kẻ
cường địch phải thảm bại,
Alìnacitta bắt sống vua nước Kosala,
người bất mãn quân mình.
Cũng vậy, Tỳ-kheo tinh tấn, theo hướng
dẫn đúng tu hành,
Nhờ tu tập phạm hạnh, Niết-bàn
đã đạt đến,
Khi chín muồi nhân duyên thời tiết,
Sẽ cởi tháo hết mọi buộc ràng.
Phật
bảo tiếp:
-
Thuở ấy, Trưởng lão Xá-lợi-phất là con voi đơn độc,
đã tặng con bạch tượng con cho đám thợ mộc, để đền
ơn chữa chân đau.
Và
Phật nhắc đến Tôn giả Ràdha:
-
Các Tỳ-kheo! Khi một Tỳ-kheo được chỉ lỗi, vị ấy nên
tuân hành giới luật như Ràdha..
Và khi bị khiển trách, không nên bất bình. Lý đáng còn phải
xem người khiển trách mình như người chỉ cho kho báu.
Rồi
Ngài nói Pháp Cú:
(76)
Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ
lỗi và khiển trách,
Như
chỉ chỗ chôn vàng,
Hãy
thân cận người trí!
Thân
cận người như vậy,
Chỉ
tốt hơn, không xấu.
2.
Những Tỳ Kheo Ương Ngạnh
Những
người hay khuyên dạy ...
Thế
Tôn dạy câu này tại Kỳ Viên, liên quan đến các Tỳ-kheo Assajipunabbasuka.
Nhưng chuyện bắt đầu từ Kìtàgiri.
Các
Tỳ-kheo này là học trò hai vị Ðại đệ tử, nhưng lại
xấu ác và không biết hổ thẹn. Thời gian ở Kìtàgiri,
họ trồng và sai người trồng cây cảnh và phạm đủ mọi
hạnh xấu. Họ quấy rầy gia đình, đòi các thứ cần dùng.
Họ làm cho các Tỳ-kheo đàng hoàng trong tinh xá khó chịu.
Nghe
được, Thế Tôn quyết định tẩn xuất họ khỏi Tăng đoàn.
Ngài cho gọi hai Ðại đệ tử đến với đồ chúng bảo:
-
Hãy tẩn xuất kẻ không vâng lời. Nhưng khuyên răn và dạy
dỗ những người biết vâng lời. Người hay khuyên răn và
dạy dỗ bị kẻ ít trí ghét bỏ, nhưng được người có
trí kính mến.
Và
Phật đọc Pháp Cú:
(77)
Những người hay khuyên dạy,
Ngăn
người khác làm ác,
Ðược
người hiền kính thương,
Bị
người ác không thích.
Hai
Ðại đệ tử Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên khuyên răn
và dạy dỗ các Tỳ-kheo. Một số vâng lời sửa đổi cố
tật, một số hoàn tục, còn số khác bị trục xuất khỏi
Tăng đoàn.
3.
Trưởng Lão Xa-Nặc
Chớ
thân với bạn ác ...
Tại
Kỳ Viên, Thế Tôn dạy câu trên vì Trưởng lão Xa-nặc.
Có
lần Trưởng lão Xa-nặc nhục mạ hai Ðại đệ tử:
-
Từ ngày cùng Thế Tôn đại xả ly, tôi chẳng thấy có ai
khác, thế mà nay hai Trưởng lão này lại rêu rao "Ta là Xá-lợi-phất,
ta là Mục-kiền-liên, chúng ta là hai Ðại đệ tử".
Nghe
các Tỳ-kheo kể lại lời của Xa-nặc, Thế Tôn cho mời ông
đến khiển trách. Ông im lặng được một hồi, nhưng sau
đó tiếp tục chê bai hai Trưởng lão. Thế Tôn lại gọi và
khiển trách ông lần thứ hai, lần thứ ba:
-
Xa-nặc, hai Ðại đệ tử là bạn tốt của ông, là bậc thượng
nhân. Hãy làm bạn với những người tốt như thế, và chỉ
học tập họ.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(78)
Chớ thân với bạn ác,
Chớ
thân kẻ tiểu nhân,
Hãy
thân người bạn lành,
Hãy
thân bậc thượng nhân.
Nhưng
Trưởng lão Xa-nặc, tuy nghe Phật dạy như thế, vẫn tiếp
tục chê bai nhục mạ hai Trưởng lão như trước. Các Tỳ-kheo
lại bạch với Phật và được Ngài dạy như sau:
-
Các Tỳ-kheo! Bao lâu Ta còn sống, các ông sẽ không dạy nổi
Xa-nặc. Tuy nhiên, sau khi Ta nhập diệt, các ông sẽ thành công.
Khi
Thế Tôn sắp nhập Niết-bàn, Tôn giả A-nan hỏi Phật phải
đối xử với Trưởng lão Xa-nặc thế nào? Thế Tôn dạy
phải mặc tẩn (Brahmadanda). A-nan
đã y lời Thế Tôn, gọi Xa-nặc đến tuyên bố như thế.
Ông lo âu buồn bã, cảm thấy thất thế, chớ không lên mặt
như ba lần trước. Ông la lên:
-
Tôn giả, xin đừng hại con!
Từ
đó ông hết lòng chu toàn bổn phận, chẳng bao lâu chứng
quả A-la-hán và các thần thông.
4.
Trưởng Lão Ðại Kappina
Pháp
hỷ đem an lạc...
Thế
Tôn đã dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả
Ðại Kappina.
Chuyện
quá khứ
4A.
Thợ Dệt Và Gai Chủ
Xưa
kia, Tôn giả Ðại Kappina đã
phát nguyện dưới chân Phật Padumuttara.
Trải qua nhiều kiếp luân hồi, sau cùng Ngài xin làm thợ dệt
chánh tại một làng dệt gần Ba-la-nại. Lúc đó có một ngàn
vị Phật Ðộc Giác đã ở tám tháng trong Hy-mã-lạp-sơn,
xuống núi đến vùng lân cận Ba-la-nại để trú qua bốn tháng
mưa, và tám vị được phái đến yết kiến vua để xin chỗ
ở. Vua đang bận rộn chuẩn bị lễ Hạ Ðiền, nên trả lời
thẳng thừng là không rảnh để lo, hẹn các vị trở lại
vào ngày mốt, xong quay lưng về cung, không mời ngay cả một
bữa ăn. Các vị bèn quyết định qua làng khác.
Tình
cờ vợ người thợ dệt chánh đi đến Ba-la-nại, gặp các
vị, đảnh lễ và hỏi thăm:
-
Chư Tôn giả! Có việc gì mà các vị đến phi thời như thế?
Khi
biết rõ mọi việc, và vốn thông minh, thành tín, bà liền
mời các vị thọ trai vào ngày mai. Dù sau đó biết các vị
Phật lên đến một ngàn, bà vẫn đoán chắc với các vị
là làng này có một ngàn thợ dệt, và mỗi người sẽ lo
cho một vị, thực phẩm lẫn chỗ ở. Ðược các vị hứa
khả, bà tức tốc về làng báo tin, rồi cho dựng rạp, sắp
chỗ ngồi, chuẩn bị các món ăn thượng vị chờ đón. Cuối
bữa ăn, bà cùng tất cả phụ nữ làng đảnh lễ các vị
và thưa thỉnh họ ở lại ba tháng. Ðược nhận lời, bà
động viên dân làng, mỗi nhà một người xách búa, rìu, vào
rừng đốn cây để dựng lều cỏ và lá. Mỗi nhà dựng một
lều, có chỗ ở ban ngày và chỗ nghỉ ban đêm, tất cả một
ngàn cái. Và dân làng đã cung ứng đầy đủ mọi nhu cầu
của các vị trong ba tháng mưa. Ðến ngày cuối, bà thuyết
phục mỗi nhà cúng cho vị Phật đã nhập hạ trong lều của
mình một bộ y đáng giá một ngàn đồng. Hết mùa an cư,
các vị Phật cảm tạ, ra đi.
Do
công đức này, dân làng dệt tái sanh làm một nhóm chư thiên
ở cõi trời ba mươi ba. Hưởng hết phước báo cõi Trời,
họ tái sanh làm những gia chủ ở Ba-la-nại dưới thời Phật
Ca-diếp. Thợ dệt chánh là con trai một tộc trưởng, vợ
anh ta cũng là con gái một tộc trưởng. Các cô lập gia đình
với các ông trước kia là chồng mình.
Ngày
nọ, nghe tin Thế Tôn thuyết pháp, các gia chủ đưa vợ cùng
đến tinh xá. Vừa vào cổng thì mưa trút xuống. Những người
có họ hàng với Sa-di hay Tỳ-kheo trong tinh xá thì vào thất
các vị ấy trú. Còn đám gia chủ này chịu trận vì không
có thân nhân.
Gia
chủ trưởng cằn nhằn với người của mình:
-
Thật là kỳ cục! Những người đàng hoàng đứng đắn như
chúng ta đây lâm vào hoàn cảnh như thế này, thật đáng xấu
hổ!.
Và
ông khuyên mọi người hùn tiền lại xây một tinh xá cho Phật.
Gia chủ trưởng cúng một ngàn đồng, gia chủ khác mỗi người
năm trăm, các bà vợ mỗi người hai trăm năm chục. Vì công
trình quá qui mô, với một ngàn ngọn tháp bao quanh, nên nửa
chừng hụt tiền họ phải đóng thêm một nửa số tiền nữa.
Tinh xá hoàn tất, họ làm lễ khánh thành, cúng dường Phật
và Tăng chúng suốt bảy ngày và tất cả hai mươi ngàn Tỳ-kheo
mỗi vị một bộ y.
Riêng
vợ của gia chủ trưởng cũng đóng góp như mọi người và
với khôn ngoan bà phát tâm cúng dường thêm cho Phật một
bộ y màu hoa Anoja
trị giá một ngàn đồng với một bó hoa Anoja,
bà xin được đẹp và có tên như hoa Anoja ở
kiếp sau. Phật hứa khả. Sau khi mạng chung, mọi người đều
sanh thiên.
Chuyện
hiện tại
4B.
Vua Kappina Và
Hoàng Hậu Anoja
Từ
cõi trời, gia chủ trưởng tái sinh vào hoàng tộc xứ Kukkutavatì,
tức vua Kappina.
Những người khác đều làm quan trong triều. Vợ của ông
thì tái sanh vào hoàng cung xứ Maddà
trong thành Sàgala.
Nước da bà y như màu hoa Anoja nên
có tên là Anoja.
Khi đến tuổi thành hôn, bà trở thành vợ vua Kappina,
hoàng hậu Anoja.
Các phụ nữ khác cũng sanh vào nhà các quan, mọi người đều
hưởng vinh hoa phú quý, y như vua, cũng cưỡi voi hoặc ngồi
xe ngựa, cũng trang phục lộng lẫy, vì đời trước họ và
vua đều cùng làm phước y như nhau.
Nhà
vua có năm con ngựa: Vàla,
Puppha, Vàlavàhana, Pupphavàhana và Supatta. Con Supatta dành
cho vua và bốn con kia cho những người đưa tin. Một sáng,
vua hạ lệnh cho họ phóng ra bốn cửa thành tìm khắp trong
hai, ba dặm xem có Phật, Pháp, Tăng không. Họ trở về không
tin tức gì.
Ngày
kia, vua cùng các cận thần cưỡi ngựa dạo hoa viên, thấy
năm trăm thương nhân dáng mệt mỏi đang tiến vào thành. Vua
cho vời họ lại hỏi thăm, biết đâu nghe được tin lành.
Họ từ thành Xá-vệ đến, cách đây một trăm hai mươi dặm
đường, và điều làm cho vua run lên với năm cảm xúc vui
mừng là họ báo tin đấng Giác Ngộ, đức Phật đã ra đời.
Ngập ngừng một lát, vì không tự chế ngự nổi, vua lắp
bắp hỏi lại cho chắc:
-
Ðạo hữu, quý vị nói gì?
-
Ðức Phật đã ra đời.
Lần
thứ hai, rồi lần thứ ba vua nghe như thế, và tặng cho họ
một trăm ngàn đồng, xong hỏi tiếp còn tin gì nữa không?
-
Thưa Ðại vương, Giáo pháp đã ra đời.
Cũng
như lần trước, vua ngập ngừng vì không chế ngự được
cảm xúc của mình, hỏi lại lần thứ hai, lần thứ ba, rồi
cho một trăm ngàn đồng nữa. Và khi được nghe Tăng đoàn
đã ra đời, họ lại được vua ban thêm một trăm ngàn đồng
nữa.
Vua
nhìn lại một nghìn cận thần của mình, hỏi:
-
Ðạo hữu, hạnh phúc của quý vị là gì?
Họ
hỏi lại vua:
-
Còn hạnh phúc của đại vương là gì?
-
Phật đã ra đời, Pháp đã ra đời, Tăng đã ra đời. Ta không
trở về cung điện nữa, vì Ðạo sư, ta sẽ đi tu theo Ngài.
Họ
đồng thanh thưa:
-
Tâu đại vương, chúng tôi cũng xuất gia như Ngài.
Vua
viết thông điệp trên một dĩa vàng, trao cho đám thương nhân
và bảo họ:
-
Hoàng hậu Anoja
sẽ cho các ngươi ba trăm ngàn đồng ngay khi nhận thông điệp
này "Vương quyền nay giao trọn cho hoàng hậu, hãy an hưởng
phú quý vinh hoa". Và nếu hoàng hậu hỏi ta ở đâu thì cho
biết ta đã lên đường xuất gia theo Ðạo sư.
Các
cận thần cũng gởi thư về cho vợ tương tự như thế. Và
vua tôi hơn một ngàn người ra đi.
Sáng
sớm hôm ấy, Phật quán sát thế gian biết rõ sự việc như
trên, và còn thấy trước là họ sẽ chứng A-la-hán với các
thần thông, nên Ngài đến gặp họ. Giống như một Chuyển
Luân thánh vương đến gặp thôn trưởng nhỏ, đức Phật
đắp y ôm bát, lên đường đi suốt hai trăm dặm, đến ngồi
bên bờ sông Candabhàgà,
dưới một gốc đa và phóng hào quang sáu màu. Trên đường
đi, nhà vua và các quan gặp một con sông tên Aravacchà sâu
một dặm, rộng hai dặm, không có thuyền bè gì. Nếu cứ
đi tìm thuyền bè thì già chết theo sau. Và với quyết tâm
từ bỏ thế gian vì Tam Bảo, vua nguyện thần lực của Tam
Bảo sẽ cho nước sông không còn là nước nữa. Rồi vua hướng
về đức Phật, chú tâm:
-
Ngài là đấng Giác Ngộ, Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri.
Trong
khi chú tâm như vậy, vua và các quan trên lưng ngàn ngựa phi
trên mặt sông như trên đá phẳng, không bị ướt dù chỉ
đầu móng chân.
Qua
sông rồi, vua tiếp tục gặp con sông khác tên là Nĩlavàhanà,
sâu nửa dặm, rộng nửa dặm. Mọi việc diễn ra y như trước,
chỉ khác là lần này vua chú tâm vào Pháp Bảo:
-
Giáo pháp do Thế Tôn thuyết vi diệu thay!
Ðến
con sông thứ ba là Candabhàgà
sâu một dặm, rộng một dặm. Lần này vua chú tâm vào Tăng
Bảo:
-
Tăng đoàn của Thế Tôn tối chơn chánh thay!
Qua
sông rồi vua tiếp tục hành trình thì trông thấy hào quang
sáu màu từ thân Phật phóng ra. Cành, thân, lá cây đa đều
như bằng vàng. Vua nghĩ rằng ánh sáng này không phải của
mặt trời, mặt trăng, rồng, thần Garuda
(Kim xí điểu), mà vì vua quyết đi xuất gia theo Thế Tôn nên
đã được đức Phật thấy biết. Vua lập tức xuống ngựa,
nghiêng mình về phía hào quang, đến chỗ Thế Tôn. Vua bước
vào Phật quang như bị ngập trong biển son, đảnh lễ Thế
Tôn rồi cùng một ngàn cận thần cung kính ngồi một bên.
Thế
Tôn theo thứ lớp thuyết pháp. Cuối thời pháp, vua và các
quan chứng quả Dự lưu, cùng đứng lên xin gia nhập Tăng đoàn.
Phật quán sát, biết rằng những vị này trước đây cúng
một ngàn y cho một ngàn vị Phật Ðộc Giác, và trong thời
Phật Ca-diếp cũng cúng hai mươi ngàn bộ y cho hai mươi ngàn
Tỳ-kheo. Như vậy họ sẽ được y bát do thần lực. Phật
liền duỗi tay phải ra và nói:
-
Hãy đến, chư Tỳ-kheo! Hãy sống đời phạm hạnh, đoạn
tận phiền não.
Ngay
đó họ đều được tám món cần dùng, thành các Trưởng
lão trăm tuổi. Họ bay lên không, đáp xuống đất đảnh lễ
Ðạo sư và ngồi xuống.
Về
phần các thương nhân đến hoàng cung, gặp hoàng hậu đưa
dĩa vàng. Họ thuật chuyện lại. Và khi họ lặp lại tin Phật,
rồi Pháp, rồi Tăng ra đời, cũng y như vua, hoàng hậu chấn
động cả thân tâm; mỗi tin như thế bà thưởng cho họ ba
trăn ngàn đồng. Sau cùng nghe vua và các quan đều xuất gia
thành Tỳ-kheo, hoàng hậu triệu tập phu nhân các quan, kể
lại chuyện, và mọi người đồng hỏi hoàng hậu:
-
Họ có nhắn gì không, thưa hoàng hậu?
-
Họ giao toàn bộ tài sản, địa vị cho các bạn tự do an
hưởng.
-
Nhưng hoàng hậu định như thế nào?
-
Nhà vua biết phú quý vinh hoa sẽ dẫn đến đau khổ, thì ta
cũng vậy. Ai lại quỳ xuống liếm nước bọt của vua nhổ
ra. Ta không cần vinh hoa phú quý, ta cũng sẽ lên đường theo
đấng Ðạo sư.
-
Vậy chúng tôi cũng theo lệnh bà và xuất gia.
Và
hoàng hậu ra lệnh chuẩn bị một ngàn xe ngựa rồi cùng các
phu nhân lên đường. Cũng như vua trước đây, bà đến con
sông đầu tiên, thắc mắc không biết làm sao, chỉ thị tìm
dấu chân ngựa của vua, nhưng không thấy gì hết. Nghĩ rằng
chắc vua tuyên bố "Vì Tam Bảo mà từ bỏ thế gian" và nhờ
đó qua sông, hoàng hậu cũng nguyện y như vậy, và chú tâm
về Tam Bảo lực, bà hạ lệnh cho một ngàn xe ngựa tiến
lên qua sông như phi trên tảng đá phẳng. Cả đoàn và luôn
cả vành xe đều không ướt. Cũng thế, bà qua hai con sông
còn lại.
Biết
bà sắp đến, Thế Tôn biến hóa khiến các Tỳ-kheo vô hình,
không ai thấy các Ngài ngồi quanh Phật, hoàng hậu đến gần
trông thấy hào quang chiếu sáng, bà cũng nghĩ như vua trước
đó. Gặp Thế Tôn bà đảnh lễ, cung kính đứng một bên
thưa hỏi:
-
Bạch Thế Tôn! Con nghĩ Ðại Kappina
đã đến đây và thưa với Thế Tôn từ bỏ thế gian vì đấng
Ðạo sư. Hiện nay vua ở đâu xin chỉ cho chúng con.
Phật
bảo:
-
Hãy ngồi xuống! Các con sẽ gặp ông ta ngay đây.
Các
bà rất vui mừng, vì nghĩ rằng ngồi đó sẽ thấy được
chồng mình. Và họ ngồi xuống.
Thế
Tôn thuyết pháp theo thứ lớp. Cuối bài pháp, hoàng hậu và
đoàn tùy tùng đều chứng quả Dự lưu. Trưởng lão Ðại Kappina và
tùy tùng nghe Phật thuyết pháp cho các bà liền chứng A-la-hán
cùng các thần thông. Lúc đó Thế Tôn chỉ các Tỳ-kheo cho
các bà. Sở dĩ Thế Tôn không chỉ các Tỳ-kheo ngay vì e rằng
các bà thấy chồng mình đắp y vào, đầu trọc, sanh tâm phiền
muộn không thể chứng được đạo quả. Khi niềm tin các
bà đã vững chắc, Phật mới chỉ cho thấy các Tỳ-kheo lúc
đó là bact A-la-hán. Và các bà đã sụp lạy trước các vị
tân A-la-hán, thưa:
-
Chư Tôn giả! Các Ngài bây giờ đã đạt đến cứu cánh của
đời tu.
Rồi
họ đảnh lễ Thế Tôn, cung kính đứng một bên và xin được
gia nhập Tăng đoàn. Vài Tỳ-kheo nghĩ rằng Thế Tôn sẽ giao
cho Tỳ-kheo Ni Liên Hoa Sắc (Uppalavannà)
nhưng Thế Tôn lại bảo họ đến Xá-vệ, vào tinh xá của
Tỳ-kheo ni. Họ đi bộ suốt một trăm hai mươi dặm. nơi nào
cũng được dân chúng đối xử tử tế và tôn kính. Họ được
nhận vào Ni chúng và chứng A-la-hán. Thế Tôn dẫn một ngàn
Tỳ-kheo bay lên không về Kỳ Viên.
Tại
Kỳ Viên, Tôn giả Ðại Kappina
đến chỗ ở ban ngày và chỗ ngủ ban đêm thốt lên:
-
Ôi hạnh phúc thay! Ôi hạnh phúc thay!
Các
Tỳ-kheo nghe được báo cho Thế Tôn, nghĩ rằng chắc ông nói
vì hạnh phúc quyền thế khi còn làm vua. Thế Tôn gọi Ngài
đến hỏi tại sao lại nói về hạnh phúc của tình yêu và
quyền thế. Ngài thản nhiên trả lời rằng chắc Thế Tôn
thừa biết Ngài có thốt những lời như thế hay không. Thế
Tôn liền bảo các Tỳ-kheo:
-
Này các Tỳ-kheo! Ðệ tử Ta nói như thế không phải liên
quan đến quyền lực. Ông ấy đang uống nước pháp và hạnh
phúc trong chánh pháp. Niềm hoan hỷ của ông ấy liên quan đến
Niết-bàn bất tử.
Và
Phật đọc Pháp Cú:
(79)
Pháp hỷ đem an lạc,
Với
tâm tư thuần tịnh,
Người
trí thường hoan hỷ,
Với
pháp bậc thánh thuyết.
5.
Sa-Di Pandita
Người
trị thủy dẫn nước..
Do
chuyện Sa-di Pandita,
Thế Tôn đã dạy như trên tại Kỳ Viên.
Chuyện
quá khứ
5A.
Ðế Thích Và Người Nghèo
Thuở
Phật Ca-diếp còn tại thế, Tăng đoàn gồm hai mươi ngàn
Tỳ-kheo đã lậu tận. Một hôm Phật hướng dẫn họ đến
Ba-la-nại. Dân chúng nghe tin, họp từng nhóm tám hoặc mười
người cúng dường. Sau khi thọ thực Phật hồi hướng công
đức:
-
Này các cư sĩ, trong thế gian này, có những người chính mình
bố thí nhưng không khuyên người khác bố thí, như vậy họ
được giàu có nhưng không có gia nhân. Có người khuyên người
khác bố thí nhưng chính mình thì không, như vậy họ có gia
nhân nhưng không có của cải. Cũng có người chính mình không
bố thí và cũng chẳng khuyên người khác bố thí, như vậy
họ chẳng có của cải, cũng chẳng có gia nhân, sống như
người ăn cơm thừa canh cặn. Còn một hạng người nữa vừa
tự mình bố thí, vừa khuyên người khác bố thí, họ được
cả hai phước báu về của cải và gia nhân.
Lúc
bấy giờ có một người trí đứng gần đó nghe thế phát
tâm cúng dường Phật và cả hai mươi Tỳ-kheo. Ðược Phật
nhận lời thọ thực vào ngày mai, ông vào làng loan báo đến
mọi người. Và với sự cổ động của ông, người xin cúng
cho mười vị, kẻ hai mươi vị, một trăm vị, năm trăm vị.
Ông ấy ghi số vào lá bối. Trong thành có một người rất
nghèo, người ta gọi ông là "Ông hoàng nghèo" Mahàduggata,
và ông cũng được mời cúng dường. Ông chỉ biết trả lời:
-
Trời! Tôi mà làm được gì cho các Tỳ-kheo? Các Tỳ-kheo cần
người giàu cúng cho họ, còn tôi, một mẻ gạo để nấu
cháo cho ngày mai còn không đủ, thì có đâu cho các Tỳ-kheo
chứ?
Ông
kia cố gắng giải thích thêm:
-
Ông Mahàduggata ơi!
Trong thành này nhiều người sống xa hoa, ăn uống những món
đắt tiền, lụa là gấm vóc phủ thân, trang sức kiêu kỳ,
giường êm nệm ấm. Nhưng ông kiếm không lấp đầy bao tử.
Có phải là ông chưa từng cho ai cái gì?
-
Tôi cũng nghĩ thế, ông ạ!
-
Vậy tại sao bây giờ ông không tạo công đức đi? Ông còn
trẻ, mạnh khỏe, sao không bố thí cúng dường theo khả năng
mình?
Xúc
động, ông hoàng nghèo bảo ghi tên mình lá cúng cho một Tỳ-kheo.
Nhưng ông kia cho rằng chỉ có một Tỳ-kheo thì viết lên lá
làm chi, nên quên mất.
Ông
hoàng nghèo về nhà cho vợ hay, và cả hai đồng lòng đi làm
thuê để lo cúng dường. Ông đến một thương gia giàu, người
đãi ba trăm Tỳ-kheo, được giao cho việc bửa củi. Ông thắt
dây lưng chặt và làm hết sức mình. Thương gia nhận thấy
ông làm việc thật phi thường, ngạc nhiên hỏi, và khi biết
được vì ông muốn có thức ăn để cúng dường, thương
gia thán phục.
Bà
vợ thì được vợ thương gia giao cho giã gạo. Bà giã xong,
giần, sàng một cách hân hoan vui sướng như đang khiêu vũ.
Và khi được biết lý do cũng là để có thức ăn cúng dường,
vợ thương gia cũng rất thán phục.
Xong
việc, phần ông nhận được bốn đấu gạo tiền công, và
gấp bốn lần nữa do thương gia tốt bụng biếu thêm. Phần
bà thì được một chén mật, một hũ sữa đặc, một lô
gia vị và một đấu gạo. Vui mừng vì thấy mình đủ vật
dụng cúng dường, họ dậy thật sớm chuẩn bị. Bà bảo
ông đi tìm lá cà ri, ra chợ không có, ông phải đi dọc bờ
sông nhặt lá, ca hát vui vẻ, nghĩ bụng "Hôm nay, ta sẽ hân
hạnh được cúng dường các Tỳ-kheo!". Một người câu cá
gần đấy nghe tiếng ca hát đến hỏi thăm, và cho anh thêm
cá.
Thế
Tôn quan sát thế gian, biết chuyện tên các Tỳ-kheo được
cúng dường đều viết trên lá, trừ vị của ông nghèo bị
bỏ sót. Vậy không có Tỳ-kheo nào cho ông cúng dường sao?
Ðương nhiên là phải có, đó là Thế Tôn. Khi ông về nhà
chuẩn bị nấu nướng thì ngai của Ðế Thích nóng lên. Biết
có chuyện, và biết rằng Phật dành phước cho ông hoàng nghèo,
Ðế Thích hóa hình đến nhà ông xin nấu giúp. Ông nghèo không
có tiền trả công nên Ðế Thích chỉ làm công đức, giành
quyền nấu cơm và cháo, và bảo ông nghèo đi tìm vị Tỳ-kheo
của ông. Người vận động đưa các Tỳ-kheo có tên trên
lá đến từng nhà, đến ông nghèo thì trả lời là quên mất.
Ông như bị dao đâm vào bụng, đấm ngực khóc xin cho được
một Tỳ-kheo. Dân chúng nghe kể, phiền trách người vận động,
làm anh ta bối rối không biết tính thế nào cho ổn, chợt
nhớ đến Thế Tôn, vội bảo ông nghèo đến tinh xá thỉnh
Phật:
-
Rất đông vua chúa, đại thần đang đợi trước hương thất,
muốn thỉnh Phật mà chưa được. Phật rất thương người
nghèo, anh cứ nói rõ và xin ban phước, chắc chắn sẽ được.
Ông
nghèo làm theo, đến ngay hương thất. Phật mở cửa, đưa
bình bát cho ông. Mọi người trông thấy đều há hốc miệng,
trong khi lòng ông hớn hở như được làm Chuyển Luân thánh
vương. Họ không dám đoạt bình bát của Phật trong tay ông,
nhưng dụ cho ông tiền. Ông đều từ chối hết.
Nhà
vua biết tiền bạc không cám dỗ được ông nghèo, nên không
ai lấy được bình bát của Phật đã trao ông ta nhưng vua
vẫn cho là ông ta cúng dường chẳng đáng bao nhiêu, nên định
bụng đến giờ ông ta dâng thức ăn, sẽ đưa Thế Tôn về
cung cúng dường. Do đó vua đi theo Phật.
Tại
nhà ông hoàng nghèo, Ðế Thích đã nấu xong cháo, cơm, cà
ri và những món khác, soạn sẵn chỗ ngồi cho Thế Tôn và
ngồi chờ. Ông nghèo đưa Thế Tôn đến nhà và mời vào.
Nhà cửa ông thấp lè tè, phải cúi đầu mới vào được.
Nhưng đối với chư Phật thì chẳng bao giờ phải cúi đầu,
mặt đất phải hạ thấp xuống, hoặc nhà phải nâng cao.
Ðây là phước báo do sự bố thí của chư Phật, và khi các
Ngài về thì mọi sự lại như cũ. Do đó Phật vào nhà vừa
vặn, ngồi xuống ghế đã soạn. Lúc đó vua bảo Mahàduggata
hãy giở cho thấy những thứ gì dọn cho Thế Tôn. Mở đồ
đậy ra thì nào cháo, cơm và những thứ khác, hương thơm
ngào ngạt bay khắp cả thành. Vua đành đảnh lễ Thế Tôn,
thú thật ý định của mình, và xin ra đi vì sợ làm cho thí
chủ khó chịu. Ðế Thích dâng món ăn lên Thế Tôn và phục
vụ Phật tận tụy. Thọ thực xong, Thế Tôn hồi hướng công
đức và đứng lên ra về. Ðế Thích ra hiệu cho ông nghèo
đỡ bình bát của Thế Tôn và đi theo Phật.
Ðế
Thích quay về nhà ông nghèo, ngừng trước cửa và nhìn lên
trời. Lập tức bảy báu mưa xuống, đổ đầy lu và hũ chỉ
trong nhà ông nghèo mà thôi. Trẻ nhỏ phải bế ra ngoài vì
không còn chỗ trống để ở. Mahàduggata
trở về, thấy vậy biết rằng đó là phước báo do sự cúng
dường. Ông lên cung vua xin giao hết tài sản, phải một ngàn
xe mới chở đủ. Tất cả đều chất đống trước sân hoàng
cung, cao bằng cây thốt nốt. Vua chỉ cho dân chúng thấy, và
hỏi họ có ai sở hữu bằng ngần này không. Họ nhìn nhận
không ai bằng ông nghèo, và đồng lòng cử cho ông làm chưởng
khố. Vua chỉ chỗ căn nhà vị chưởng khố trước đã ở,
bảo ông dọn sạch cây cỏ để xây nhà cho ông. Khi nền nhà
dọn sạch và bằng phẳng, lòi ra nhiều bình vàng bạc châu
báu chạm nhau leng keng. Vua được báo, xác nhận:
-
Lần trước, bảy báu từ trời mưa xuống đầy nhà là do
sự cúng dường chư Phật thật sự toàn hảo. Lần này châu
báu hiện ra cũng do công đức của ông. Vậy chỉ mình ông
được hưởng.
Cất
nhà xong, Mahàduggata cúng
dường Phật và Tăng chúng bảy ngày. Sau khi mạng chung, ông
sanh thiên. Hưởng hết phước lạc cõi trời suốt thời gian
giữa hai vị Phật, ông tái sanh thời Phật hiện tại vào
nhà một thương gia giàu có ở Xá-vệ, một cận sự của
Trưởng lão Xá-lợi-phất.
Chuyện
hiện tại
5B. Pandita, Sa
Di Bẩy Tuổi
Khi
mang thai ông hoàng nghèo, bà mẹ mơ ước được dâng cúng
năm trăm Tỳ-kheo do Trưởng lão Xá-lợi-phất dẫn đầu, đồng
thời đắp y vàng, ngồi vòng ngoài hội chúng và nhận thức
ăn thừa của Tỳ-kheo. Ước mơ được thành tựu, bà chiêu
đãi Tăng chúng bảy lần nữa. (Tương tự như truyện Tissa).
Ðến
ngày đặt tên, bà xin Trưởng lão truyền giới cho đứa bé.
Ðược bà cho biết trong nhà này ai khờ khạo, điếc câm đều
trở nên khôn ngoan từ ngày bà mang thai đứa bé, do đó Ngài
đặt tên là Pandita Dàraka,
nhà hiền trí.
Lên
bảy chú muốn đi tu. Và y hệt Tissa chú
được mẹ xin Trưởng lão dẫn đến tinh xá, rồi được
Trưởng lão cạo tóc dạy thiền quán trên năm yếu tố đầu
tiên của thân, đồng thời chú cũng được thu nhận vào Tăng
đoàn. Cha mẹ Tissa
ở lại bảy ngày cúng dường trong tinh xá rồi mới đi về.
Ngày
thứ tám Trưởng lão dẫn chú vào làng, trễ hơn các Tỳ-kheo,
vì Trưởng lão còn phải đi quanh khắp tinh xá dọn dẹp, quét
tước, đổ đầy nước uống và nước rửa mặt, sửa lại
giường ghế cho đúng chỗ, cũng như đồ đạc vứt ném bừa
bãi mất trật tự. Vì Ngài không muốn cho ngoại đạo vào
tinh xá co dịp chê bai: "Hãy xem thói tật của đệ tử ẩn
sĩ Cồ-đàm kìa!" Chú bé chưa biết cách đắp y ôm bát nên
phải theo sát thầy, sau khi đã được thầy chỉ dạy.
Trên
đường đi, chú thấy một rãnh nước dẫn vào ruộng, thắc
mắc hỏi thầy. Thầy giải thích đó là vật vô tri nhưng
con người có thể điều khiển, dẫn dắt đến bất cứ nơi
nào theo ý muốn. Chú lại băn khoăn: Thế sao con người có
trí lại không kiểm soát, điều phục tâm mình để chứng
quả A-la-hán?
Ði
thêm một quãng nữa, chú thấy người làm tên đang hơ mũi
tên và gậy trên lửa và nheo mắt để uốn thẳng. Chú lại
hỏi thầy và cũng băn khoăn sao những mũi tên vô tri có thể
uốn thẳng được bằng cách hơ lửa, trong khi con người có
trí lại không thể kiểm soát và điều phục tâm mình để
đạt quả A-la-hán?
Ði
xa thêm một chút, chú thấy thợ mộc đang đeo căm, vành trục
và những phần khác của bánh xe. Chú cũng thắc mắc y như
trước: Nếu ta có thể lấy những mãnh gỗ vô tình này làm
thành bánh xe chạy theo ý mình, thì tại sao ta cũng có trí
nhưng không điều phục tâm ý để đạt đến quả vị A-la-hán.
Do
đó chú thưa với Trưởng lão xin Ngài nhận lại y bát của
Ngài vì chú muốn trở về. Trưởng lão không cho phép mình
tự nghĩ "Chú nhỏ Sa-di này mới vào tăng đoàn mà đã nói
năng như thể ta là ông Phật nhỏ hơn". Ngược lại, Ngài
tùy thuận nhận lại y bát của mình, và còn đưa chìa khóa
thất vì sợ chú ở ngoài trời nguy hiểm. Chú còn dặn thầy
nếu mang thức ăn về cho chú, chỉ xin thứ chú ưa thích, nếu
do công đức của Ngài không được thì sẽ nhờ công đức
của chú.
Chú
Sa-di Pandita vâng
lời thầy mở cửa thất thầy vào tọa thiền, quán về thân,
điều phục tâm ý. Ngai Ðế Thích bỗng nói lên, Ngài hiểu
rõ mọi chuyện, bèn muốn đến đó giúp đỡ nên ra lệnh:
-
Tứ thiên vương, hãy đuổi chim đang làm tổ trong vườn tinh
xá, và gác bốn góc!
-
Thần mặt trăng hãy giữ mặt trăng lại!
-
Thần mặt trời hãy giữ mặt trời lại!
Rồi
Ðế Thích hiện hình người đi đến chỗ treo sợi dây mở
và đóng cửa, đứng gác. Không một tiếng động nào trong
tinh xá trừ tiếng lá rơi. Tâm chú Sa-di an tĩnh, và chỉ trong
khoảng bữa ăn, chú điều phục được tâm ý và chứng Tam
quả.
Trong
lúc đó, Trưởng lão đến nhà thí chủ Ngài biết rõ là rất
kính mến Ngài để khất thực. Họ dâng thức ăn đúng món
chú Sa-di thích và xin Ngài thọ thực xong sẽ mang thức ăn
về cho Sa-di. Trưởng lão nghĩ đệ tử mình chắc đói lắm,
nên độ xong vội vàng về tinh xá.
Sáng
sớm, Thế Tôn dùng điểm tâm xong đến tinh xá. Ngài thấy
hết diễn biến về Sa-di Pandita,
và cũng biết là chú sẽ chứng A-la-hán trước bữa ăn. Như
thế, nếu Trưởng lão về đến tinh xá đưa thức ăn, sẽ
gây trở ngại trong lúc chú đang thiền quán. Vì vậy, Thế
Tôn đến chờ Trưởng lão tại thất, và hỏi Ngài bốn câu:
-
Xá-lợi-phất, ông mang gì thế?
-
Bạch Thế Tôn, thức ăn.
-
Thức ăn mang lại cái gì?
-
Bạch Thế Tôn cảm thọ.
-
Cảm thọ mang lại cái gì?
-
Sắc chất, bạch Thế Tôn.
-
Sắc chất mang lại cái gì?
-
Bạch Thế Tôn, xúc.
Ý
nghĩa như thế này: Một người đói được ăn, thức ăn sẽ
làm hết đói và mang thọ lạc. Từ thọ lạc thân sẽ đẹp,
tốt thêm, nên nói rằng từ thọ sinh sắc. Ðược sắc thân
như thế, người đó sanh tâm hoan hỉ, do đó khi ngồi hoặc
nằm đều được xúc hoan hỉ.
Trong
thời gian bốn câu hỏi và đáp liên tục thì chú Sa-di chứng
A-la-hán cùng các thần thông. Thế Tôn lúc đó mới bảo Trưởng
lão đưa thức ăn cho Sa-di. Trưởng lão vâng lệnh đến thất
gõ cửa. Chú bước ra bưng lấy bình bát để qua một bên,
cầm quạt lá cọ quạt cho Trưởng lão. Ðược thầy bảo
ăn, chú mới ăn. Thế là chú bé bảy tuổi, đã là Sa-môn
vào ngày thứ tám, như một bông huệ nở tươi mát, ngồi
xuống thực hành các pháp quán chiếu tự tâm, rồi thọ thực.
Rửa
và cất bát xong, hai vị thần trả tự do cho mặt trời và
mặt trăng. Tứ thiên vương thôi không gác bốn góc, Ðế Thích
cũng ngưng gác cửa, và mặt trời đang giữa trưa bỗng lặn
mất.
Các
Tỳ-kheo bàn tán:
-
Bóng đêm bất thường trùm xuống, mặt trời lặn giữa trưa,
chú Sa-di mới vừa ăn sáng xong, vậy là sao nhỉ?
Phật
đến, nghe họ kể lại, đáp rằng:
-
Ðúng vậy, các Tỳ-kheo! Khi chú Sa-di cố gắng đạt quả A-la-hán
thì các vị thần giữ mặt trời, mặt trăng lại, đứng gác
bốn góc tinh xá hay gác tại cửa; chính Ta, dù là Phật cũng
không thể nghỉ ngơi, nên phải đến với đệ tử của Ta;
người trí thấy người trị thủy dẫn nước, thợ làm tên
uốn tên, thợ mộc đẽo gỗ, đã thiền quán trên các đề
mục đó, và tự thắng mình chứng A-la-hán.
Và
Phật đọc Pháp Cú:
(80)
Người trị thủy dẫn nước,
Kẻ
làm tên nắn tên,
Người
thợ mộc uốn gỗ,
Bậc
trí nhiếp tự thân.
6.
Vững Vàng Như Ðá Tảng
Như
đá tảng kiên cố ...
Tại
Kỳ Viên, Thế Tôn đã dạy như thế, liên quan đến Trưởng
lão Lakuntaka Bhaddiya.
Các
Sa-di và những người khác chưa biết Trưởng lão nên thường
kéo tóc, nắm tai, bẹo mũi, hỏi đố:
-
Chú ơi! Chú không mỏi mệt vì đạo à? Ðạo làm chú vui thích
không?
Trưởng
lão không bực bội, cũng không mích lòng. Các Tỳ-kheo thấy
vậy xì xào với nhau, Thế Tôn nghe được liền bảo:
-
Ðúng thế các Tỳ-kheo! Người trừ hết lậu hoặc, không
giận dữ hay bực bội, nhưng bình thản, không lay động như
tảng đá kiên cố.
Và
đọc Pháp Cú:
(81)
Như đá tảng kiên cố,
Không
gió nào lay động,
Cũng
vậy, giữa khen chê,
Người
trí không giao động.
7.
Yên Lặng Sau Cơn Bão
Như
hồ nước sâu thẳm ...
Thế
Tôn đã dạy như thế tại Kỳ Viên, liên quan đến mẹ của Kànà.
Mẹ
của Kànà, một
tín nữ đã chứng quả Dự lưu, gả con gái cho một người
ở làng khác. Kànà
có dịp về thăm mẹ được ít ngày thì chồng cô nhắn về.
Cô chào mẹ, được mẹ cầm lại, bảo rằng:
-
Con đã ở đây lây, sao lại về tay không?
Rồi
bà làm bánh, ý cho cô có ít quà cáp đối với nhà chồng.
Lúc đó có một Tỳ-kheo đến khất thực. Bà mời ngồi và
cúng dường đầy bát. Vị ấy ra đi kể lại cho người khác
nghe. Rồi người thứ hai, thứ ba, thứ tư đến khất thực,
cả bốn người đều được cúng dường bánh, nên hết bánh.
Kaanaa phải ở lại. Chồng cô nhắn hai, ba lần, và cũng vì
lý do đó cô không về được. Chồng cô không chờ nữa, lấy
vợ khác. Nghe tin, Kànà
cho rằng các Tỳ-kheo đã hại hạnh phúc của cô, do đó cô
chửi bới, nhục mạ mọi Tỳ-kheo cô thấy. Các Tỳ-kheo không
dám đi qua nhà cô nữa. Thế Tôn biết chuyện liền đến đó.
Bà mẹ mời ngồi và cúng dường cháo và thức ăn cứng. Rồi
Thế Tôn hỏi thăm Kànà,
bảo gọi đến và hỏi:
- Kànà,
tại sao thấy Ta con lại phiền não và khóc lóc?
Bà
mẹ kể cho Thế Tôn biết việc nàng đã làm. Phật quay về
phía cô, hỏi tiếp:
- Kànà,
Ta nghe rằng đệ tử Ta tới nhà con khất thực và mẹ con
cho họ bánh, vậy họ có lỗi gì?
Cô
sụt sùi đáp:
-
Các Tỳ-kheo ấy không có lỗi, bạch Thế Tôn, chỉ có con
có lỗi.
Rồi
cô đảnh lễ Thế Tôn xin được tha thứ. Phật thuyết pháp
cho cô và cô chứng quả Dự lưu. Thế Tôn trở về tinh xá,
vua trông thấy khi Ngài đi ngang qua hoàng cung, nên xin được
đảnh lễ. Vua hỏi thăm về Kànà
va sau đó hỏi Phật:
-
Bạch Thế Tôn, Ngài có làm ngưng được sự nhiếc móc của
cô ta đối với các Tỳ-kheo hay không?
Phật
đáp:
-
Ðược, Ðại vương! Cô ta đã hết nhiếc móc, và đã làm
chủ tài sản xuất thế gian.
-
Bạch Thế Tôn, tốt lắm. Vậy con sẽ cho cô ta tài sản thế
gian.
Ðảnh
lễ Thế Tôn xong, vua quay về cung, gởi cho cô một kiệu lớn,
cho cô trang điểm lộng lẫy, nhận cô làm công chúa và thông
báo kén phò mã. Một đại quý tộc cưới cô. Từ đó cô
đặt người tại bốn cửa và cho phục vụ tất cả các Tỳ-kheo
và Tỳ-kheo Ni. Cô còn muốn kiếm nhiều Sa-môn hơn nữa để
phục vụ cúng dường nhưng không có. Thực phẩm cúng dường
thì dồi dào, cả cứng lẫn mềm, luôn luôn có sẵn tại nhà
và tuôn ra cửa như một trận lụt lớn.
Các
Tỳ-kheo lại bàn tán tại Pháp đường về cô. Thế Tôn đến,
nghe họ kể lại, bèn đáp:
-
Các Tỳ-kheo! Ðây không phải lần đầu mà trong tiền kiếp
bốn Trưởng lão ấy cũng đã làm phiền Kànà.
Cũng không phải lần đầu Ta thuyết phục cô ta mà trong tiền
kiếp cũng đã như thế.
Các
Tỳ-kheo xin Phật kể lại chuyện quá khứ, Thế Tôn bèn kể
chuyện Bổn Sanh Babbu
Một
con mèo tìm được,
Con
thứ hai xuất hiện.
Con
thứ ba, thứ tư,
Hang
này chúng tìm đến.
Bốn
con mèo lúc đó là bốn Tỳ-kheo. Con chuột là Kànà
và người thợ châu báu là Thế Tôn. Và Ngài nói Pháp Cú:
(82)
Như hồ nước sâu thẳm,
Trong
sáng, không khuấy đục.
Cũng
vậy nghe chánh pháp,
Người
trí hưởng tịnh lạc.
8.
Một Lũ Lang Thang.
Do
chuyện năm trăm Tỳ-kheo, Thế Tôn đã dạy như trên tại Kỳ
Viên. Truyện bắt đầu ở Veranjà.
Thế
Tôn nhận lời mời của Bà-la-môn Veranjà
đến Veranjà nhập
hạ với năm trăm Tỳ-kheo. Nhưng Bà-la-môn bị Ma vương mê
hoặc đến nỗi không hề nghĩ đến Phật, dù chỉ một ngày.
Hơn nữa tại đây lại xảy ra nạn đói. Các Tỳ-kheo ra ngoài
khất thực nhưng không nhận được gì và đói lả. Các nhà
buôn ngựa sau đó có cho họ lúa ngựa. Trưởng lão Mục-kiền-liên
thấy họ đói quá, xin phép đến Uttarakuru
khất thực nhưng Thế Tôn không cho. Tuy thế các Tỳ-kheo không
hề lo âu đến lương thực một ngày nào, mà chỉ lo tu để
diệt trừ tham ái dục lậu.
Sau
ba tháng, Thế Tôn báo cho Bà-la-môn Ngài ra đi, ông lễ kính
Phật và được quy y. Xong, Phật và các Tỳ-kheo trở về Kỳ
Viên. Dân Xá-vệ dâng đầy đủ thức ăn chào mừng Ngài trở
về.
Thuở
đó do lòng tốt của các Tỳ-kheo mà năm trăm ăn mày sống
trong vòng rào tinh xá. Ăn xong thức ăn thừa của các Tỳ-kheo
rồi họ nằm lăn ra ngủ. Thức dậy, họ chạy ra bờ sông
la hét, nhảy nhót, vật lộn đùa giỡn. Khi ở bên trong hang,
ở bên ngoài tinh xá, họ đều chẳng được tích sự gì,
chỉ có bê bối.
Trong
Pháp đường, các Tỳ-kheo bàn tán, có vẻ không bằng lòng.
Lúc gặp nạn đói ở Veranjà họ
đây có lôi thôi, nhưng bây giờ ăn uống đủ thứ họ lại
buông lung phóng túng, đủ kiểu tai hại. Còn các Tỳ-kheo thì
ở Veranjà và
ở đây đều sống yên bình, và tĩnh lặng.
Thế
Tôn vào Pháp đường hỏi các Tỳ-kheo, nghe kể lại, bèn bảo:
-
Trong những kiếp trước họ cũng hành động như thế. Họ
vốn là năm trăm con lừa uống cặn nước nho thừa của năm
trăm ngựa giống Sindh,
nước đó đã pha thêm với nước lã rồi lọc qua một cái
khăn, một thứ nước tồi tàn, nhạt nhẽo không còn mùi vị
gì. Uống xong, chúng say sưa, la hí vang rân.
Một
miếng rượu nhạt thừa,
Làm
lừa say nghiêng ngửa.
Ngựa
Sindh chẳng chuếch choáng,
Dù
uống rượu tốt ngon.
Tây
đại vương, cũng thế!
Người
ngu dễ dàng say,
Người
trí luôn điềm đạm,
Rượu
ngon chẳng chuyển lay.
Và
Thế Tôn nói tiếp:
-
Như thế, này các Tỳ-kheo! Người hiền từ bỏ tham dục xấu
ác, và không giao động dù vui hay buồn.
Rồi
Ngài đọc Pháp Cú:
(83)
Người hiền bỏ tất cả,
Người
lành không bàn dục,
Dầu
cảm thọ lạc khổ,
Bậc
trí không vui buồn.
9.
Chồng Và Vợ
Không
vì mình, vì người ...
Thế
Tôn đã dạy câu này tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng
lão Dhammika.
Tại
Xá-vệ, một cư sĩ sống đời chánh trực, muốn đi tu, một
hôm thân mật báo cho vợ biết. Bà vợ xin chồng đợi sinh
con xong. Ðợi đến khi đứa bé biết đi, ông lại nói nữa.
Bà vợ lại bảo đợi nó trưởng thành. Ðối với ông, cho
phép hay không, không thành vấn đề vì lòng ông đã giải
thoát đau khổ của chính mình.
Rồi
ông xuất gia, thành Sa-môn. Nhận đề tài thiền quán, ông
nỗ lực tu tập và đạt được tuyệt đích của đời tu.
Ông trở về Xá-vệ, tìm gia đình và thuyết pháp cho con. Anh
ta đi tu và cũng chứng A-la-hán. Bà vợ thấy ở nhà không
còn ai nữa, nên cũng phát tâm đi tu, và cũng chẳng bao lâu
chứng A-la-hán.
Tại
pháp đường các Tỳ-kheo thảo luận, và được Phật dạy:
-
Các Tỳ-kheo! Người trí không trông mong thành đạt dù cho
mình hay cho người khác. Người chơn chánh chỉ tìm đường
nương tựa vào giáo pháp.
Và
nói Pháp Cú:
(84)
Không vì mình, vì người.
Không
cầu được con cái,
Không
tài sản quốc độ,
Không
cầu mình thành tựu,
Với
việc làm phi pháp.
Vị
ấy thật trì giới,
Có
trí tuệ, đúng pháp.
10.
Ít Người Ðến Bờ Kia
Ít
người giữa nhân loại ...
Thế
Tôn đã dạy như thế khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến
vấn đề nghe pháp.
Dân
cư tại một con đường ở Xá-vệ rủ nhau đi cúng dường,
và quyết định ở lại suốt đêm nghe pháp, nhưng họ không
thể nghe cả đêm được. Vài người đã bị dục tình chi
phối và đã bỏ về nhà, một số thì lo hờn lo giận, những
người khác thì hôn trầm dã dượi, ngồi ngủ gà ngủ gật,
không một giọt pháp nào lọt vào tai.
Các
Tỳ-kheo bàn tán về chuyện trên trong pháp đường. Thế Tôn
nghe được liền dạy:
-
Các Tỳ-kheo! Chúng sanh trong thế gian hầu hết đều dính mắc
vào tam độc. Rất ít người qua được bờ bên kia.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(85)
Ít người giữa nhân loại
Ðến
được bờ bên kia.
Còn
số người ở lại
Xuôi
ngược chạy bờ này.
(86)
Những ai hành trì pháp
Theo
chánh pháp khéo dạy
Sẽ
đến bờ bên kia
Vượt
ma lực khó thoát.
11.
Từ Bỏ Ðen Tối
Kẻ
trí bỏ phép đen ...
Câu
này Thế Tôn dạy tại Kỳ Viên, liên quan đến năm mươi Tỳ-kheo
đến thăm.
Năm
mươi Tỳ-kheo đã nhập hạ tại nước Kosala xong,
giải hạ đến viếng Thế Tôn. Họ đảnh lễ Ngài và cung
kính ngồi một bên.
Thế
Tôn lắng nghe kinh nghiệm hành trì của họ và dạy họ Pháp
Cú:
(87)
Kẻ trí bỏ pháp đen
Tụ
tập theo pháp trắng
Bỏ
nhà, sống không nhà,
Sống
viễn ly khó lạc.
(88)
Hãy cầu vui Niết bàn
Bỏ
dục, không sở hữu,
Kẻ
trí tự rửa sạch
Cấu
uế từ nội tâm.
(89)
Những ai với chánh tâm,
Khéo
tu tập giác chi,
Từ
bỏ mọi ái nhiễm,
Hoan
hỷ không chấp thủ,
Không
lậu hoặc, sáng chói,
Sống
tịch tịnh ở đời.