VIII.
Phẩm Ngàn
1.
Tên Ðao Phủ
Dù
nói năng ngàn lời ...
Thế
Tôn đã dạy câu trên tại Trúc Lâm, về chuyện tên đao phủ
răng đồng.
Một
bọn bốn trăm chín mươi chín tên cướp sống bằng nghề
cướp bóc các thôn làng và những nghề bạo động khác. Bấy
giờ, có một gã răng màu đồng, da ngâm đen, mình đầy sẹo,
đến xin nhập bọn với chúng. Chúa đảng nhìn gã thấy tánh
tình tàn bạo quá đỗi, có thể ăn thịt mẹ và uống máu
cha, nên từ chối. Dù thế gã vẫn tìm cách nịnh để mua
chuộc cảm tình một lâu la hầu cận, kết quả gã được
thâu nhận.
Ðến
một lúc nào đó hết thời, bọn cướp bị dân chúng hợp
lực với lính nhà vua bắt được, đưa hết ra tòa. Quan tòa
ra lệnh chặt đầu bọn chúng bằng rìu. Dân chúng bối rối
không tìm ra người bằng lòng làm đao phủ. Cuối cùng họ
bảo tên chúa đảng nếu chịu giết hết bọn sẽ được
tha mạng và còn được thưởng nhiều. Nhưng đã từng chung
sống với nhau, hắn cũng không nỡ. Họ hỏi đến tên răng
đồng, da ngâm đen, mình sẹo nọ, gã đồng ý. Rồi gã giết
hết cả bọn, được tha mạng và lãnh thưởng.
Cũng
thế họ đem năm trăm tên cướp trong xứ từ phía nam đến
xét xử, và kết án tử hình. Không tìm được đao phủ, họ
nhớ đến gã, tìm đến, gã bằng lòng. Họ cho gã là người
xuất sắc và phong làm đao phủ thường trực. Sau đó họ
đem năm trăm kẻ cướp từ phương tây, rồi từ phương bắc
đến, và gã giết hết tổng cộng hai ngàn người từ bốn
hướng. Từ đó mỗi ngày gã giết một hay hai người. Trong
suốt năm mươi lăm năm, gã hành nghề đao phủ công cộng.
Về
già, gã không thể chặt đầu người một nhát, mà phải hai
đến ba nhát, gây thêm đau đớn vô ích cho nạn nhân; vì thế
dân chúng muốn kiếm người khác và cho gã nghỉ việc, tức
về sau gã sẽ mất bốn bổng lộc là quần áo cũ, cháo sữa
nấu từ bơ tươi, hoa nhài và dầu thơm để trang điểm. Do
đó ngày bị bãi chức, gã ra lệnh nấu cháo sữa sẵn, rồi
ra bờ sông tắm. Xong, gã mặc quần áo cũ, đeo vòng hoa nhài,
xức dầu thơm vào tay chân, về nhà ngồi xuống thì cháo sữa
đặt trước mặt với nước rửa tay.
Vào
lúc đó Trưởng lão Xá-lợi-phất xả thiền, nhìn trước
lối sẽ đi khất thực, thấy cháo sữa trong nhà tên đao phủ
cũ, Ngài biết rằng người đặc biệt này sẽ đối xử tử
tế, do đó ông sẽ được phước báo lớn. Thấy Trưởng
lão khoát y ôm bát đứng trước cửa nhà, ông sanh tâm hoan
hỷ, và nghĩ đến biết bao mạng người chết dưới lưỡi
đao của mình, ông phát tâm cúng dường. Ông cất tô cháo
đặt trước mặt mình, bước ra đảnh lễ và mời Trưởng
lão vào nhà ngồi, trút cháo vào bình bát, rưới mật tươi
lên, và đứng quạt một bên. Ðã lâu không nếm cháo sữa,
ông thèm ghê gớm. Trưởng lão đọc được ý ông bèn bảo
ông hãy ăn đi. Ông đưa quạt cho người khác quạt Trưởng
lão, còn ông thì ăn cháo. Trưởng lão bảo người quạt hãy
qua quạt cho ông đao phủ cũ. Thế là có người quạt hầu,
ông ăn một bữa cháo no bụng rồi lấy quạt lại, quạt cho
Trưởng lão. Ngài thọ thực xong, ông đỡ lấy bình bát, và
Trưởng lão bắt đầu hồi hướng công đức. Nhưng ông chẳng
thể để tâm nghe được, vì lâu nay làm việc tàn bạo giết
hại nhiều người, giờ đây nhớ lại tâm trí quá rối loạn,
ông không chú tâm được. Do đó Trưởng lão tìm lời khéo
để giúp ông:
-
Ông làm việc tự ý mình hay theo lệnh người khác?
-
Vua sai con làm, bạch Tôn giả.
-
Nếu thế, ông đâu có lỗi gì, cư sĩ.
Ông
hoang mang, vì theo lời Trưởng lão ông không có lỗi gì. Ông
xin Trưởng lão nói tiếp bài hồi hướng. Tâm ông trở nên
tĩnh lặng, nhẫn lực được khai mở ông tiến đến quả
Dự lưu.
Trưởng
lão ra về, ồng tiễn Ngài một đoạn đường. Trên đường
về ông bị quỷ Dạ-xoa dưới lốt con bò cái húc chết. Ông
tái sanh vào cõi trời Ðâu Suất.
Các
Tỳ-kheo bàn tán trong Pháp đường về tên đao phủ, và thắc
mắc không biết ông ta sanh về đâu. Phật đến, nghe thấy
liền dạy:
-
Các Tỳ-kheo! Ông ta sanh lên cõi trời Ðâu Suất. Ông ta đã
được đại thiện tri thức thuyết pháp cho, nhờ đó ông
mở mang tri kiến, nên được sanh thiên.
Xong,
Phật nói kệ:
Người
đao phủ trong thành,
Nghe
những lời khéo nói,
Ðược
nhẫn và sau đó,
Lên
cõi trời hưởng vui.
Các
Tỳ-kheo vẫn còn ngạc nhiên, hỏi tiếp:
-
Bạch Thế Tôn, trong lời hồi hướng thật ra đâu có năng
lực gì ghê gớm. Vả lại, người này đã lầm lỗi rất
nhiều, làm sao ông ta chứng đạt với ít lời như thế?
Thế
Tôn đáp:
-
Các Tỳ-kheo, đừng đo lường giáo pháp của Ta nhiều hay ít
lời. Một câu đầy đủ đạo lý vẫn có công đức siêu
việt.
Và
Ngài nói Pháp Cú:
(100)
Dầu nói năng ngàn lời,
Nhưng
không gì lợi ích
Tốt
hơn một câu nghĩa
Nghe
xong, được tịnh lạc.
2.
Sự Chuyển Hóa Của Bàhiya
Dàrucìriya
Dầu
nói ngàn câu kệ ...
Câu
này Thế Tôn đã dạy khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến
Trưởng lão Bàhiya Dàrucìriya.
Một
nhóm người ra biển, không may thuyền bị thủng. Ai cũng làm
mồi cho cá, trừ một người vớ được miếng ván, cố hết
sức lội vào bờ, gần cảng Suppàraka.
Mất hết y phục, ông quấn vỏ cây quanh mình, luôn cả nhánh
non, và được một gia chủ cho một mảnh sành, ông đến cảng Suppàraka.
Người ta cho ông súp, cháo và các món ăn khác. Họ tôn kính
ông, cho đó là một vị A-la-hán. Nếu mặc vải tốt chắc
không được danh lợi như thế, nên ông vẫn che thân với
vỏ cây. Nhiều người thường chào mừng gọi ông là A-la-hán,
nên ông nghĩ có lẽ mình thật là một trong những A-la-hán
trên thế gian này, hay ít ra cũng đang thú hướng đến quả
vị A-la-hán. Ông đã làm động tâm một vị trời thời xưa
là thân tộc của ông.
2A.
Ngoài Ðề - Chuyện Quá Khứ
Thân
tộc này, tức là người đã hành thiền với ông trong kiếp
trước. Vào thời Phật Ca-diếp lúc đạo pháp suy vi, có bảy
Tỳ-kheo buồn tiếc về đức hạnh lui sụt của các tân Tỳ-kheo,
Sa-di và những người khác, bảo nhau:
-
Trong lúc giáo pháp còn, chúng ta hãy tự độ mình thật chắc
chắn.
Rồi
sau khi lễ đền vàng, họ vào rừng, gặp ngọn núi, họ tuyên
bố ai còn đắm trước đời sống thế gian hãy trở lại,
ai hết ràng buộc hãy lên núi. Họ đặt thang và mọi người
đều lên núi, xong họ đá cho thang ngã xuống, và dốc sức
thiền định. Chỉ sau một đêm thôi, Trưởng lão dẫn đầu
chứng A-la-hán.
Ðại
Trưởng lão này nhai một cuống trầu ở hồ A-nậu-đạt,
súc miệng và đem thức ăn lấy từ Bắc Câu Lô Châu đến
nói với các Tỳ-kheo kia:
-
Chư huynh đệ! Hãy nhai cuống trầu này, súc miệng và dùng
thức ăn này.
Nhưng
họ từ chối, viện lý do chỉ dùng thức ăn do chính mình
mang về sau khi đã chứng A-la-hán như Ðại Trưởng lão. Vào
ngày thứ hai, Ðệ nhị Trưởng lão chứng Tam quả, và cũng
đem thức ăn đến mời, nhưng họ từ chối, vì không lẽ
đã khước từ thức ăn của Ðại Trưởng lão mà bây giờ
nhận thức ăn của Ðệ nhị Trưởng lão.
Sau
đó, Ðại Trưởng lão nhập Niết-bàn, Ðệ nhị Trưởng lão
sanh về cõi Phạm thiên, còn năm vị kia không khai mở được
Minh-sát-tuệ, héo mòn dần, qua đời vào ngày thứ bảy và
được sanh thiên. Ðến thời Phật hiện đời, họ sanh vào
những gia đình khác nhau. Một người là vua Pukkusàtì,
người là Kumàra Kassapa,
người là Dàrucìriya,
người khác là Dabba Malla,
và một người là Tỳ-kheo Sabhiya.
"Vị thân quyến trước đây" ám chỉ vị Tỳ-kheo đã sanh
vào cõi Phạm thiên.
2B.
Ðoạn Kết Sự Chuyển Hóa Của Bàhiya
Dàrucìraya
Vị
Phạm thiên thấy bạn mình là Bàhiya đang
theo tà kiến, có thể bị trầm luân rất nguy hiểm, nên tìm
cách kích động ông ta:
-
Này Bàhiya, anh
không phải là A-la-hán, cũng chưa thú hướng đến quả vị
A-la-hán, và con đường anh đang theo cũng không đưa đến quả
vị A-la-hán.
Bàhiya
rất hoang mang không biết mình ra sao, liền hỏi:
-
Thiên nhân! Có lẽ có A-la-hán hay những vị thú hướng A-la-hán
trên thế gian hiện nay?
- Bàhiya,
hướng bắc có một thành tên Xá-vệ, có đức Thế Tôn, bậc
A-la-hán của những A-la-hán, bậc Chánh Ðẳng Giác đang thuyết
pháp đưa đến quả vị A-la-hán.
Lúc
đó đang đêm, tâm tư Bàhiya
xao động mãnh liệt, ông tức tốc rời Suppàraka
lên đường đi Xá-vệ suốt đêm, nuốt hết một trăm hai
mươi dặm, nhờ thần lực của vị phạm thiên (có chỗ bảo
của Phật). Bàhiya đến
nơi thì Phật đã vào thành khất thực. Thọ thực xong, ông
thấy các Tỳ-kheo đi kinh thành ngoài trời liền hỏi thăm
Thế Tôn. Biết ông đến từ rất xa, các Tỳ-kheo khuyên ông
ngồi xuống rửa chân, xức dầu và nghỉ ngơi, khi Thế Tôn
trở về ông sẽ gặp Ngài. Ông không thể chờ đợi, toàn
thân run lên, ông bảo các Tỳ-kheo:
-
Bạch Tôn giả! Tôi không biết khi nào Thế Tôn có thể qua
đời, hay tôi sẽ qua đời. Tôi vừa vượt qua một đoạn
đường dài một trăm hai mươi dặm chỉ trong một đêm, không
dừng lại cũng không dám ngồi xuống nghỉ bất kỳ ở đâu.
Ngay khi gặp Thế Tôn tôi sẽ nghỉ ngơi.
Ông
vào Xá-vệ gặp Thế Tôn đang khất thực, dáng dấp vô cùng
trang nghiêm của một vị Phật. Bao lâu nay, bây giờ ông mới
gặp được Ngài Cồ-đàm, đấng Toàn Giác. Và tại chỗ ông
vừa mới thấy Phật, ông cung kính cúi mình tiến đến gần
Phật và đảnh lễ Ngài ở giữa đường, ôm mắt cá chân
Ngài và thưa:
-
Xin đức Thế Tôn thuyết pháp cho con, đấng An Lạc hãy thuyết
pháp cho con, để con được lợi lạc lâu dài và được giải
thoát an lạc.
Phật
đuổi ông đi bảo:
-
Ông đến phi thời, Bàhiya!
Ta đang vào nhà người khất thực.
Bàhiya
lòng vẫn nôn nóng thưa tiếp:
-
Bạch Thế Tôn, trước đây con đã không chịu nhận thức
ăn vật chất, và con đã mãi trôi lăn mãi trong vòng luân hồi.
Con không biết khi nào Thế Tôn hay con sẽ qua đời, xin thuyết
pháp cho con.
Lần
thứ hai, Thế Tôn từ chối. (Thấy được Phật ông quá vui
mừng, và tâm còn kích động, ngoài ra thân cũng còn mệt,
do đó nếu có giảng pháp, Phật chắc ông sẽ khó lĩnh hội).
Lần thứ ba, Thế Tôn vẫn đứng ở giữa đường, dạy:
-
Vậy thì, Bàhiya,
ông phải học thế này: "Trong cái thấy chỉ có cái bị thấy,
trong cái nghe chỉ có cái bị nghe, trong cái nghĩ chỉ có cái
bị nghĩ, trong cái hiểu chỉ có cái bị hiểu"; do đó, này Bàhiya,
ông không ở đây. Này Bàhiya,
vì ông không ở đây, do đó ông không ở đời này, cũng chẳng
ở đời sau, không ở cả hai đời. Chỉ có thế mới chấm
dứt đau khổ.
Ngay
khi Bàhiya nghe xong
bài pháp, ông dứt trừ lậu hoặc, chứng A-la-hán cùng các
thần thông. Liền đó ông xin Phật được nhận vào Tăng đoàn.
Phật hỏi ông có y bát chưa, ông đáp chưa có. Phật bảo
hãy tự tìm lấy, rồi Ngài quay đi.
Trong
hai mươi ngàn năm hành thiền, Bàhiya
chưa hề cúng dường y bát cho một Tỳ-kheo nào, trái lại
ông thường nói một Tỳ-kheo phải tự lo lấy vật dụng cho
mình, kể cả thức ăn, không nên nhờ ai khác. Thế Tôn biết
thế, và cũng biết vì thế ông sẽ không nhận được y bát
từ thần lực, do đó Ngài không nhận ông vào Tăng đoàn với
câu: "Hãy đến, Tỳ-kheo" như thường lệ.
Bàhiya
đang đi tìm y bát thì quỷ Dạ-xoa dưới lốt con bò cái đến
húc ông chết. Khất thực xong, Thế Tôn với chúng Tăng đến
nơi thấy xác ông nằm sóng soài trên đống rác. Ngài liền
bảo các Tỳ-kheo lấy cáng đang dựng tại cửa nhà nọ, khiêng
xác ra khỏi thành, thiêu và đắp đất chôn. Làm xong họ về
tinh xá thưa lại với Phật và hỏi về đời sau của ông.
Phật cho biết ông đã nhập Niết-bàn, và trong các đệ tử
cư sĩ và xuất gia, Bàhiya
là đệ nhất về học tập Phật pháp mau chóng. Các Tỳ-kheo
hỏi tiếp:
-
Bạch Thế Tôn, Bàhiya
đã chứng A-la-hán khi nào?
-
Các Tỳ-kheo, chính là vào lúc nghe Ta thuyết pháp.
-
Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài thuyết pháp cho ông ta lúc nào?
-
Khi Ta đang đi khất thự, đứng ở giữa đường.
-
Một bài pháp quá ngắn ở giữa đường như thế, Bạch Thế
Tôn, ông ta khai mở được Minh sát tuệ với ít lời như thế
sao?
-
Các Tỳ-kheo! Chớ đo lường pháp của ta là ít là nhiều.
Nói ngàn câu kệ không hiệu quả, cũng không bằng chỉ một
câu đầy đủ đạo lý.
Và
Phật đọc Pháp Cú:
(101)
Dầu nói ngàn câu kệ,
Nhưng
không gì lợi ích,
Tốt
hơn nói một câu,
Nghe
xong, được tịnh lạc.
3.
Cô Gái Lấy Tên Cướp
Dầu
nói trăm câu kệ ...
Phật
dạy câu này tại Kỳ Viên, liên quan đến Kundalakesì
Một
thương gia giàu có tại Vương Xá, có duy nhất một cô con
gái mười sáu tuổi tuyệt đẹp và khả ái. Cha mẹ cho cô
ở trên tầng chót tòa lâu đài bảy tầng, trong một phòng
lộng lẫy, với một nàng hầu.
Một
hôm, một chàng trai gia thế bị bắt vì tội trộm. Người
ta trói ké tay anh ra sau lưng, dẫn ra pháp trường, và tại
ngã tư họ hành hạ anh với biết bao lời mắng nhiếc. Con
gái thương gia nghe đám đông la hét, chạy ra ngoài nhìn xuống
thấy tên trộm bỗng đem lòng yêu thương, tương tư đến
nỗi bỏ ăn nằm liệt giường. Mẹ cô hỏi thăm, biết chuyện
nên khuyên con gái đừng dại dột như thế, bà sẽ tìm người
môn đăng hộ đối gả chồng cho cô. Nhưng cô không chịu,
thề chết nếu không lấy được tên trộm này. Bà bèn kể
cho chồng nghe, nhưng ông cha cũng không dỗ dành con gái được,
túng thế đem một ngàn đồng tới quan lo lót để chuộc mạng
tên trộm. Quan nhận tiền thả hắn ra, giết người khác rồi
tâu lên vua tên trộm đã bị xử tử.
Thương
gia gả con gái cho tên trộm. Cô dâu mới muốn chiếm trọn
vẹn tình cảm của đức lang quân nên chìu chuộng hết sức,
trang điểm đẹp đẽ, nấu nướng ngon lành. Tuy thế tên trộm
vẫn nuôi ý đồ bất lương: giết vợ lấy châu báu, vào
quán nhậu. Anh cho đó là diệu kế duy nhất, nên lên giường
bỏ ăn. Cô vợ hốt hoảng hỏi thăm chồng:
-
Anh đau làm sao?
-
Không sao, em ạ.
-
Hay cha mẹ làm anh phiền?
-
Không đâu, em ạ.
-
Vậy thì chuyện gì?
-
Em ạ! Ngày tôi bị trói dẫn đi tôi đã nguyện dâng một
phẩm vật lên vị thần ở trên "Bờ Vực Của Kẻ Trộm"
xin cứu mạng. Và nhờ thần lực của Ngài mà tôi được
cưới em làm vợ. Tôi bối rối không biết làm sao giữ trọn
lời thề này.
-
Xin anh đừng lo. Em sẽ lo phẩm vật, anh cần gì?
-
Cháo ngon, nêm với mật, và năm loại hoa trong đó phải có
hoa làja.
-
Vâng, em sẽ lo đủ.
Rồi
để thân quyến ở nhà, hai vợ chồng cùng đám gia nhân lên
đường vui vẻ, tươi cười với cả gia tài quí báu trên
mình cô vợ, đúng như ý ông chồng. Ðến chân núi tên trộm
cho đám tùy tùng ở lại, bảo vợ mang phẩm vật, rồi anh
nắm tay trèo lên đỉnh núi "Vực Kẻ Trộm" (bên này có thể
trèo lên nhưng bên kia là vách đá dốc ngược, bọn trộm
từ đỉnh bị xô xuống vực nát thây trước khi đến đáy,
nên có tên như thế).
Ðứng
trên đỉnh núi, cô bảo chồng dâng lễ vật. Tên trộm lặng
thinh. Cô lại hỏi tại sao hắn không nói. Cuối cùng hắn
phải thú thật là gạt cô lên đây để giết cô lấy châu
báu. Khủng khiếp vì sợ chết, cô năn nỉ hắn tha mạng:
-
Cả châu báu và thân em đây đều không thuộc anh hay sao? Anh
được lợi gì mà phải giết em? Hãy tha chết cho em. Kể từ
đây xin coi em như mẹ của anh, hay cho em làm kẻ hầu hạ cũng
được.
Rồi
cô đọc bài kệ:
Hãy
lấy vòng vàng này,
Ðược
gắn những ngọc quí.
Lấy
hết và tự nhiên,
Xem
tôi như tỳ nữ.
Tên
trộm vẫn không chịu, vì sợ cô ta về sẽ kể lại hết
với cha mẹ. Hắn cũng đáp bằng kệ:
Ðừng
than vãn quá nhiều,
Gỏi
của cải mau lên!
Mi
không còn sống thêm,
Của
cải mi ta lấy!
Cô
thấy rõ hắn tàn bạo quá mức, nghĩ rằng trí tuệ không
phải dùng để nấu lên ăn, mà để giúp người ta có thể
tính toán trước hành động của mình. Vi vậy cô tìm cách
đối phó với hắn. Cô bảo nhờ cô mà hắn được cứu mạng,
nên xin hắn cho cô là ân nhân của hắn, được đảnh lễ
hắn. Rồi cô đi nhiễu quanh hắn ba vòng, rồi để hắn đứng
ở vị trí bên phải của cô, đảnh lễ hắn bốn phía, xong
kể lể:
-
Ðây là lần cuối cùng em trông thấy anh, và từ đây anh cũng
không còn thấy em nữa!
Cô
ôm hôn hắn trước mặt rồi ôm từ sau lưng, và từ phía
sau nhắm lúc hắn quên đề phòng đứng ngay miệng vực, một
tay cô đẩy trên vai hắn, tay kia đẩy ngang thắt lưng, cô
xô hắn xuống vực, tan xương nát thịt trước khi tới đáy.
Vị thần tại đó hoan hô cô với bài kệ:
Trí
tuệ không phải luôn luôn,
Chỉ
dành cho bọn đàn ông.
Ðàn
bà đôi khi cũng vậy,
Tỏ
ra khôn khéo vô cùng.
Nếu
về nhà, cha mẹ hỏi, chẳng lẽ không khai thật, miệng lưỡi
hai người chắc chắn không tha ta: "Ðã tốn một ngàn đồng
chuộc mạng tên vô lại, sao mi lại giết hắn?". Và nếu ta
nói thật lý do vì hắn muốn giết ta trước, chưa chắc hai
người đã tin. Gia đình ôi sao chán quá!" Nghĩ như thế cô
ném hết châu báu, vào rừng đến chỗ ẩn dật của các nữ
tu, chào cung kính xin được vào Ni chúng.
Thành
ni cô, và sau khi được giải thích hai lối tu: thiền quán
trên mười đề mục hoặc tụng niệm một ngàn tín pháp,
cô chọn cách thứ hai. Thấy cô thuần thục, chư ni bảo cô
đi khắp vùng Diêm Phù Ðề tìm thiện hữu tri thức có thể
đối pháp được với cô. Ðặt một nhánh đào trong tay cô,
họ dặn dò:
-
Ði đi, đạo hữu! Gặp cư sĩ đối đáp được chi hãy xin
hầu hạ; gặp Tỳ-kheo đối đáp được, chị hãy xin gia nhập
Tăng đoàn.
Mang
tên ni cô Hồng Táo, cô du hành mọi nơi, đặt câu hỏi với
bất cứ ai gặp được, không ai đối đáp lại. Cô nổi danh
đến nỗi nghe tin cô đến, người ta bỏ chạy hết. Trước
khi vào thành hay vào làng khất thực, cô gom một đống cát
trước cổng chánh, trồng nhánh đào lên và thách thức ai
đối đáp được hãy giẫm lên nhánh đào này. Không ai dám
qua chỗ ấy, nhánh cây này héo, cô tìm nhánh khác tươi hơn,
cứ du hành như thế, cô đến Xá-vệ. Trẻ con xúm quanh nhánh
cây cô đã trồng như thường lệ xem việc gì đã xảy ra,
vừa đúng lúc Trưởng lão Xá-lợi-phất thọ thực xong bước
ra khỏi thành. Ngài ngạc nhiên hỏi lũ trẻ, biết chuyện,
Ngài bảo chúng hãy giẫm lên nhánh cây. Ban đầu chúng sợ
không dám; nhưng được Trưởng lão bảo đảm sẽ trả lời
câu hỏi, chúng nhào lên nhánh cây hò hét, đá sụp đống
cát.
Ði
khất thực xong trở về, thấy thế cô trách mắng lũ trẻ:
-
Ta không định đối đáp với chúng mày, sao chúng mày phá
phách như thế?
Chúng
đáp là làm theo lời Trưởng lão. Ðược Ngài xác nhận, cô
xin vấn đáp và cũng được Ngài nhận lời.
Chiều
xuống, cô đến chỗ Trưởng lão đặt câu hỏi. Cả thành
xôn xao muốn đi nghe. Họ cùng đi với cô, cúi chào Trưởng
lão và cung kính ngồi một bên. Cô hỏi Ngài một ngàn đề
mục về tín pháp, Ngài trả lời đúng hết. Và Ngài hỏi
lại:
-
Cô chỉ hỏi có bấy nhiêu thôi à? Còn câu nào khác không?
-
Dạ đã hết, thưa Tôn giả!
-
Cô đã hỏi tôi nhiều câu, bây giờ tôi hỏi lại cô một
câu thôi!
-
Xin tôn giả cứ hỏi.
-
Cái gì là Một?
Cô
rất muốn trả lời nhưng không trả lời được, bèn hỏi
lại Tôn giả. Ngài đáp:
-
Ðó là câu hỏi của Phật.
-
Vậy xin nói cho con biết, thưa Tôn giả.
-
Nếu cô vào Tăng đoàn, ta sẽ cho biết câu trả lời.
Cô
bằng lòng xin nhập vào Tăng đoàn, Trưởng lão nhắn ni chúng
lo mọi việc. Sau khi làm đầy đủ bổn phận, cô được đặt
tên là Kundalakesì,
và chỉ vài ngày chứng A-la-hán cùng các thần thông.
Trong
Pháp đường các Tỳ-kheo bàn tán về chuyện của cô, cho rằng
cô chỉ nghe chút ít pháp rồi được nhận vào Tăng đoàn,
hơn nữa cô đã đến đây sau khi chiến đấu dữ dội với
một tên trộm và đánh bại hắn. Phật đi đến nghe được,
bèn bảo:
-
Các Tỳ-kheo, đừng đo lường giáo pháp ta nói là ít hay nhiều.
Với một trăm câu vô nghĩa thì chẳng có công đức gì so
với một câu có đạo lý. Chiến thắng nhiều tên trộm chẳng
đáng gì so với chiến thắng tên trộm Dục lạc của chính
mình. Ðó mới thực sự là chiến thắng.
Và
Phật đọc Pháp Cú:
(102)
Dầu nói trăm câu kệ,
Nhưng
không gì lợi ích.
Tốt
hơn một câu pháp,
Nghe
xong, được tịnh lạc.
(103)
Dầu tại bãi chiến trường,
Thắng
ngàn ngàn quân dịch,
Tự
thắng mình tốt hơn,
Thật
chiến thắng tối thượng.
4.
Ðược Và Mất
Tự
thắng tốt đẹp hơn ...
Câu
này Phật dạy khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến một Bà-la-môn
đã hỏi về được và mất. Một Bà-la-môn, thắc mắc chắc
là Thế Tôn chỉ biết có được chứ không biết mất. Và
ông ta đi hỏi Phật, được Phật trả lời:
-
Bà-la-môn! Ta biết cả hai được và mất.
-
Vậy thì xin Ngài nói cho con về mất.
Phật
nói kệ sau:
Những
thứ không ích lợi
Gồm:
thứ nhất, ngủ muộn,
Biếng
lười chiếm thứ hai,
Thứ
ba, ánh trăng soi,
Thứ
tư giàu sang mãi,
Thứ
năm, hay đi lại,
Sáu,
vụng trộm vợ người.
Chạy
theo những việc ấy,
Hỡi
này, Bà-la-môn,
Ngươi
sẽ được những thứ,
Không
ích lợi cho mình.
Bà-la-môn
nghe xong ca ngợi Thế Tôn:
-
Hay thay! hay thay! Ðấng Ðạo sư của mọi người! Bậc lãnh
đạo của mọi người! Ngài thật biết cả hai được và
mất.
-
Thật thế Bà-la-môn! Không ai biết rành hơn ta về mất.
Rồi
Thế Tôn xét xem làm cách nào chuyển hóa được ông Bà-la-môn,
Ngài hỏi:
-
Bà-la-môn, ông sống bằng nghề gì?
-
Bằng nghề cờ bạc, ngài Cồ-đàm ạ.
-
Thế ai được, ông hay người kia?
-
Khi thì con, khi thì người kia.
-
Bà-la-môn, chiến thắng kẻ khác là một việc tầm thường,
chiến thắng như thế đâu có lợi lạc gì. Nhưng người nào
thắng lướt Dục lạc và tự thắng mình, thì chiến thắng
như thế lợi lạc hơn, không ai có thể đánh bại mình.
Và
Phật đọc Pháp Cú:
(104)
Tự thắng, tốt đẹp hơn,
Hơn
chiến thắng người khác.
Người
khéo điều phục mình,
Thường
sống tự chế ngự.
(105)
Dầu thiên thần, Thát bà,
Dầu
Ma vương, Phạm thiên,
Không
ai chiến thắng nổi,
Người
tự thắng như vậy.
5.
Chú Của Xá Lợi Phất
Tháng
tháng bỏ ngàn vàng ...
Thế
Tôn dạy câu này khi ngụ tại Trúc Lâm, liên quan đến chú
của Xá-lợi-phất.
Một
hôm Trưởng lão Xá-lợi-phất đến thăm chú, Ngài hỏi:
-
Bà-la-môn, ông có bao giờ làm việc thiện chưa?
Ông
chú đáp:
-
Dạ có, thưa Tôn giả! Mỗi tháng tôi cúng một ngàn đồng.
-
Cho ai vậy?
-
Các đạo sĩ lõa thể, thưa Tôn giả.
-
Ðể mong được gì?
-
Ðể lên cõi Phạm thiên.
-
Ai bảo ông thế?
-
Các đạo sĩ, các thầy tôi.
-
Này Bà-la-môn, cả ông và thầy ông đều không biết con đường
đưa đến cõi Phạm thiên. Chỉ có Phật mới biết con đường
đó. Hãy đi với tôi, tôi sẽ thỉnh Phật chỉ cho ông.
Và
Trưởng lão dẫn chú đến gặp Phật. Thưa thỉnh xong được
Phật dạy:
-
Bà-la-môn, dù ông bố thí như thế này trong một trăm năm
cũng không bằng phước báo của một người có lòng tin, dù
trong giây lát biết tôn trọng đệ tử của Ta, hay cúng dường
đệ tử Ta dù chỉ một muỗng cơm.
Và
Phật nói Pháp Cú:
(106)
Tháng tháng bỏ ngàn vàng,
Tế
tự cả trăm năm,
Chẳng
bằng trong giây lát,
Cúng
dường bậc tự tu.
Cúng
dường
vậy tốt hơn,
Cả
trăm năm tế tự.
6.
Cháu Của Xá Lợi Phất
Dầu
trải một trăm năm ...
Khi
ngụ tại Trúc Lâm, Phật đã dạy câu trên vì chuyện cháu
của Trưởng lão Xá-lợi-phất.
Trưởng
lão cũng đến người cháu hỏi thăm có từng làm việc thiện
không. Hằng tháng anh ta giết một con thú để tế lửa, vì
tin rằng sẽ được lên cõi Phạm thiên như thầy anh ta bảo.
Trưởng lão cũng khuyên anh đến gặp và thỉnh Phật dạy
cho. Phật thuyết như sau:
-
Bà-la-môn, dù ông thờ lửa một trăm năm như thế, công đức
cũng chưa bằng giá trị lễ kính đệ tử Ta trong một khoảnh
khắc.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(107)
Dầu trải một trăm năm,
Thờ
lửa tại rừng sâu,
Chẳng
bằng trong giây lát,
Cúng
dường bậc tự tu.
Cúng
dường vậy tốt hơn,
Hơn
trăm năm tế tự.
7.
Bạn Của Xá Lợi Phất
Suốt
năm, cúng tế vật ...
Ðó
là câu Phật dạy tại Trúc Lâm, liên quan đến bạn của Trưởng
lão Xá-lợi-phất.
Trưởng
lão cũng đến hỏi bạn mình như đối với chú và cháu của
mình trước đây. Việc thiện của anh bạn từng làm là mổ
vật tế lễ để được sanh thiên. Ngài cũng khuyên và dẫn
bạn đến gặp Phật, thưa thỉnh và được chỉ dạy như
sau:
-
Bà-la-môn, dù ông có dâng tế vật một năm, cũng không công
đức bằng một phần tư công đức của một thiện tín bố
thí cho dân chúng, hay người biết tôn kính đệ tử Ta.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(108)
Suốt năm cúng tế vật,
Ðể
cầu phước ở đời,
Không
bằng một phần tư,
Kính
lễ bậc chánh trực.
8.
Chàng Trai Tăng Tuổi Thọ
Thường
tôn trọng, kính lễ...
Phật
dạy câu này khi ngụ tại Arannakutikà
gần Dìghalambika,
liên quan đến chàng trai Dighàyu.
Có
hai Bà-la-môn sống ở thành Dìghalambika,
tu theo ngoại đạo và khổ hạnh suốt bốn mươi tám năm.
Một người sợ giòng giống bị diệt vong nên hoàn tục. Ông
bán công đức của mình cho người khác, và với một trăm
trâu bò, một trăm đồng, cưới vợ sống đời gia chủ. Chẳng
bao lâu ông được mụn con trai. Tu sĩ kia, bạn cũ của ông,
đi nơi khác, một hôm trở về thăm. Họ chào mừng lẫn nhau.
Tu sĩ chúc cả hai vợ chồng sống lâu, nhưng khi đứa bé được
trình diện thì tu sĩ lặng thinh. Ông cha thắc mắc và được
tu sĩ giải thích có một tai họa đang chờ đứa bé, và nó
sẽ chết trong bảy ngày. Cả hai ông bà hoảng hốt không biết
tính sao. Tu sĩ khuyên nên đến cầu cứu với Sa-môn Cồ-đàm.
Họ ngần ngừ vì sợ mang tiếng bỏ những ẩn sĩ của mình,
nhưng lòng thương con mãnh liệt khiến họ rồi cũng đến
Thế Tôn. Họ đến chào Thế Tôn, được Phật chúc sống
lâu, nhưng đến phiên đứa bé Phật cũng lặng thinh, cùng
lý do như tu sĩ đã nói. Ông cha thỉnh cầu Phật ngăn đừng
cho tai họa cướp mất đứa bé. Phật dạy:
-
Nếu ông dựng trước cửa nhà một cái lều, đặt một ghế
ở giữa, sắp tám hay mười sáu chỗ ngồi vòng quanh cho đệ
tử của Ta; và nếu ông cho tụng những bài kinh cầu an và
ngăn ngừa tai họa suốt bảy ngày liên tục, thì con ông sẽ
tránh được hiểm họa.
Bà-la-môn
làm đúng theo lời Phật, và các Tỳ-kheo đã đọc tụng đúng
bảy ngày đêm liên tiếp. Ðến ngày thứ bảy Thế Tôn đến,
chư thiên các cõi cũng tụ hội. Có một quỷ Dạ-xoa phụng
sự cho Vessavana
tên là Avarudhaka suốt
mười hai năm, được ân huệ là bảy ngày nữa sẽ nhận
được đứa bé, đi đến đứng đợi. Nhưng có mặt Thế
Tôn và thiên thần đầy quyền lực, các vị khác yếu hơn
đều phải thối lui mười hai dặm nhường chỗ, cả Avarudhaka cũng
thế.
Phật
đọc kinh cầu an suốt đêm, kết quả sau bảy ngày Dạ-xoa
không bắt được đứa bé. Bình minh ngày thứ tám, đứa bé
được đặt trước Thế Tôn và được chúc sống lâu, đến
một trăm hai mươi tuổi theo lời Phật, do đó có tên là "Chàng
trai tăng tuổi thọ" Ayuvaddhana.
Lớn lên chú có năm trăm đệ tử cư sĩ đi theo.
Một
hôm các Tỳ-kheo thảo luận trong Pháp đường về Ayuvaddhana,
và không hiểu tại sao mạng sống của chúng sanh được gia
tăng ở thế gian này. Phật nghe được liền bảo:
-
Các Tỳ-kheo! Không phải chỉ có tuổi thọ mà thôi. Ở thế
gian này chúng sanh biết tôn kính và lễ trọng những vị đạo
đức, sẽ được tăng trưởng bốn pháp, thoát khỏi nguy hiểm
và sống an toàn suốt đời.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(109)
Thường tôn trọng, kính lễ,
Bậc
kỳ lão trưởng thượng,
Bốn
pháp được tăng trưởng,
Thọ,
sắc, lạc, sức mạnh.
9.
Sa-Di Samkicca
Dầu
sống một trăm năm....
Do
chuyện Sa-di Samkicca,
Thế Tôn đã dạy câu trên khi ngụ tại Kỳ Viên.
Có
ba mươi vị vọng tộc sống ở Xá-vệ nghe Phật thuyết pháp,
quy phục và đi tu. Sau năm năm làm tròn bổn phận, họ đến
gặp Phật nghe dạy về pháp học và pháp thiền. Vì lớn tuổi
mới xuất gia, họ không thể theo nổi pháp học, mà muốn
tu tập thiền quán, và được Phật giao đề mục thiền quán
hướng đến quả vị A-la-hán, họ xin vào rừng ẩn tu. Phật
biết trước họ sẽ bị nguy hiểm vì một người ăn thịt
vụng, nhưng nếu có Sa-di Samkicca đi
theo thì sẽ được an ổn, và đạt đến cứu cánh của đời
tu.
Samkicca là
Sa-di của Trưởng lão Xá-lợi-phất chỉ mới bảy tuổi. Mẹ
chú thuộc gia đình giàu có ở Xá-vệ. Khi mang thai chú, bà
lâm bệnh chết đột ngột. Từ giàn hỏa toàn thân bà cháy
hết, còn đứa bé chưa sinh không cháy. Nhưng khi dùng cây khiêng
đứa bé ra khỏi giàn hỏa, chú bé bị các cây đó đâm vào
thịt hai ba chỗ, một mũi đâm trúng vào con ngươi chú, rồi
chú lại bị ném vào đống than, thịt chú cháy hết. Nhưng
trên đống than đó lại xuất hiện một chú bé như một tượng
vàng đang ngồi trên đài sen. Ðây là kiếp cuối của chú
trước khi chứng Niết-bàn, và vì chưa thành tựu quả vị
A-la-hán nên không gì có thể hoại diệt chú, ngay cả núi
Tu Di rơi xuống.
Ngày
kế, họ đến dập tắt lửa, ngạc nhiên thấy chú còn sống.
Họ đem chú về làng thỉnh ý thầy bói; và biết được nếu
chú sống đời gia chủ, thân quyến sẽ không nghèo suốt bảy
đời, nếu đi tu sẽ có năm trăm người tùy tùng. Vì mắt
bị gậy (Samku) đâm,
họ đặt tên chú là Samkicca.
Lên
bảy tuổi, chú nghe bè bạn nói về thân thế của mình, hỏi
lại bà con quả đúng như thế, chú quyết định đi tu. Bà
con cũng đã có ý đó khi nghe lời thầy bói, nên hoan hỷ dẫn
chú đến giao cho Trưởng lão Xá-lợi-phất xin nhận chú vào
Tăng đoàn. Trưởng lão ưng thuận và dạy chú thiền quán
trên năm yếu tố đầu tiên của thân. Ngay lúc dao cạo vừa
chạm tóc, chú chứng A-la-hán. Ðó là chuyện Sa-di Samkicca.
Do
đó khi ba mươi vị vọng tộc xin vào rừng, Phật bảo hãy
đến gặp Trưởng lão Xá-lợi-phất. Suy xét sự việc. Ngài
hiểu ý Phật nên bảo họ để Sa-di Samkicca đi
theo. Ban đầu họ từ chối vì nghĩ rằng không cần đến
đứa bé bảy tuổi, nhưng được Trưởng lão giải thích chính
họ mới là chướng ngại của Sa-di và đó là ý của Phật,
họ bằng lòng.
Ba
mươi mốt người từ giã Trưởng lão rời tinh xá. Họ du
hành từ nơi này đến nơi khác và sau một trăm hai mươi dặm
đường họ đến một làng có ngàn gia đình cư trú. Dân cư
thấy họ hoan hỷ, hết lòng phục vụ những thứ cần dùng.
Ðược biết họ đi tìm nơi thích hợp để tu, dân chúng quỳ
lạy dưới chân xin họ ở lại đây hết mùa mưa, họ sẽ
giữ năm giới và làm tròn bổn phận ngày chay. Ðược nhận
lời, dân chúng sửa soạn chỗ ở ban ngày và ban đêm, lối
đi có mái che và lều cỏ. Họ chia bổn phận hàng ngày cho
nhiều nhóm. Ai cũng làm phần mình không quá sức, tận tình
phục vụ những thứ cần dùng.
Ðầu
mùa mưa các Trưởng lão thỏa thuận như sau:
-
Chư huynh đệ! Chúng ta đã nhận đề mục thiền quá từ Ðức
Phật và muốn nhận được ân huệ của chư Phật không làm
gì khác hơn là tinh tấn tu tập. Cửa khổ não vẫn đang mở
rộng trước mặt; do đó chỉ trừ sáng sớm đi khất thực,
buổi tối hầu hạ Ðại Trưởng lão, các giờ khác không
được tụ họp từ hai người trở lên. Ai có đau ốm, hãy
đánh chuông, chúng ta sẽ đến lo thuốc men. Từ bây giờ trở
đi bất luận ngày đêm, chúng ta hãy chú tâm chuyên cần vào
đề mục thiền quán.
Rồi
mọi người trở về chỗ của mình.
Lúc
đó có một người nghèo sống nhờ vào đứa cháu gái, nhưng
nó hất hủi nên ông phải đi tìm đứa cháu khác nương náu.
Ông đến chỗ các Tỳ-kheo đang ngồi trên bãi cát thọ thực
sau khi khất thực trong làng về và kính cẩn đứng một bên.
Các Tỳ-kheo hỏi thăm, thương hại ông và chia phần cơm trộn
với xúp và cà ri trên một chiếc lá. (Ðúng theo luật là
khi có người đến vào giờ cơm, nếu không có món ngon nhất
thì chia món đang ăn dù ít nhiều cũng được). Ăn xong ông
hỏi thăm và khi biết các Tỳ-kheo không nhận lời mời ăn
của ai cả mà đi khất thực hàng ngày trong khi ông phải làm
quần quật cả ngày mà chưa bao giờ được ăn như thế, do
đó ông có ý định đi theo các Tỳ-kheo hầu hạ.
Hai
tháng trôi qua, vì tận tụy làm việc, ông được cảm tình
của các Tỳ-kheo. Muốn thăm cháu, nhưng sợ các Tỳ-kheo không
cho, ông bỏ trốn.
Ông
đến một khu rừng có năm trăm tên cướp đã sống ở đó.
Chúng cầu nguyện với thần sống ở đó, nếu có ai vào trong
rừng sẽ giết để tế thần. Và chúng gặp ngay ông lão,
vây bắt, trói lại thật chặt rồi chất củi, đốt lửa,
vót cọc gỗ nhọn. Ông lão ngạc nhiên hỏi, hóa ra chúng chuẩn
bị làm thịt ông để tế thần. Sợ chết khủng khiếp, ông
quên hết lòng tốt của các Tỳ-kheo đối với ông mà chỉ
làm mọi cách để cứu mạng mình. Do đó ông chỉ cho bọn
cướp chỗ ở của ba mươi mốt Tỳ-kheo để chúng bắt làm
vật tế thần, chắc chắn thần sẽ vui mừng hơn. Còn ông
thì già cả, chỉ ăn đồ thừa. Bọn cướp nghe ông nói có
lý, bèn bảo ông dẫn đường đến tinh xá. Ðến nơi chẳng
thấy ai, ông lão bảo thủ lãnh đánh chuông, thế là các Tỳ-kheo
tụ đến và ngồi xuống ghế đá thẳng hàng đặt sẵn ở
đó. Ðại Trưởng lão của hội chúng thấy bọn cướp liền
hỏi ai đánh chuông và lý do gì. Chúng bảo cần một Tỳ-kheo
để tế thần. Ðại Trưởng lão lấy quyền huynh trưởng
quyết định rằng ông sẽ đi nạp mạng, đừng để số phận
của tất cả phải chết, hãy ở lại tu tập. Nhưng Ðệ nhị
Trưởng lão cũng lên tiếng. Bổn phận của huynh trưởng người
thứ hai phải gánh lấy, tức là tôi sẽ ra đi, những người
ở lại phải chuyên tâm chánh niệm.
Cứ
thế cả ba mươi Tỳ-kheo xếp hàng đòi đi, dù không cùng
cha cùng mẹ nhưng đã thoát khỏi mọi trói buộc nên ai cũng
muốn hy sinh mình vì người khác.
Sa-di Samkicca nghe
các Tỳ-kheo nói như thế cũng quyết định xin đi, nhưng các
Tỳ-kheo không cho vì sợ Trưởng lão Xá-lợi-phất trách cứ
sao nỡ giao đệ tử của Ngài cho bọn cướp. Tuy thế Sa-di
vẫn nhất quyết bảo rằng chính vì lý do này mà Trưởng
lão thầy mình bảo đi theo các Tỳ-kheo, và chú còn xin được
tha thứ nếu có lầm lỗi điều chi. Rồi chú Sa-di ra đi, các
Tỳ-kheo mắt đẫm lệ, lòng xốn xang. Ðại Trưởng lão bảo
bọn cướp khi sửa soạn lửa, cọc nhọn, trải lá, đừng
để cho chú thấy kẻo sợ. Bọn chúng mang chú Sa-di đi, đến
chỗ hành lễ. Khi mọi việc đã xong chú ngồi xuống, nhập
định. Tên thủ lãnh vung kiếm chém xuống vai chú. Nhưng lưỡi
kiếm cong làm hai, lưỡi chạm lưỡi. Tên cướp uốn thẳng
lưỡi kiếm chém nhát nữa. Lần này lưỡi kiếm bị mẻ nứt
từ cán đến mũi như một lá cỏ.
Tên
thủ lãnh giật mình thấy sự kỳ diệu. "Thanh kiếm này trước
đây chém trụ đá hay gốc keo như chém chồi non, nay bị cong
và nứt. Một vật vô hình như thanh kiếm mà còn biết đức
hạnh của thiếu niên này, huống hồ một người có lý trí
là ta". Nghĩ thế nên hắn quăng kiếm, phủ phục xuống chân
Sa-di thưa:
-
Tôn giả! Chúng tôi đã ở trong rừng này, dù cả ngàn người
mà thấy chúng tôi từ xa, ai cũng đều run rẩy, còn hai hay
ba người thì chẳng dám thốt một lời. Nhưng Ngaì chẳng
mảy may run sợ. Khuôn mặt Ngài rạng ngời như vàng ròng trong
lò hay đóa hoa Kanikàra nở
to, vì sao thế?
Và
hắn lặp lại câu hỏi bằng bài kệ:
Ngài
không run, không sợ.
Hơn
nữa, thật an tĩnh.
Tại
sao Ngài không khóc,
Lúc
khủng khiếp như vậy?
Sa-di
xuất định, thuyết pháp cho bọn cướp:
-
Này thủ lãnh! Người nào thoát khỏi dục lậu thì xem cuộc
đời như gánh nặng trên đầu, và nếu bị hoại diệt, chỉ
có vui chứ không sợ.
Và
chú nói kệ tiếp:
Này
thủ lãnh!
Người
thoát khỏi tham dục
Sẽ
không còn khổ nữa.
Này,
người chứng kiến!
Kẻ
đã thoát buộc ràng,
Sẽ
chẳng còn sợ chi.
Nhân
luân hồi tử sanh,
Nếu
đời này diệt được,
Chết
không còn đáng sợ,
Như
gánh nặng quẳng đi.
Tên
thủ lãnh lắng nghe Sa-di xong, nhìn năm trăm tên cướp hỏi
chúng có ý định gì. Chúng hỏi lại hắn, hắn đáp:
-
Ta quá ngạc nhiên về sự kỳ diệu này, và giờ đây không
còn muốn sống đời gia đình nữa. Ta sẽ đi tu với Sa-di.
Cả
bọn nhao nhao lên đòi đi tu theo, và chúng cúi mình trước
Sa-di xin gia nhập Tăng đoàn. Dùng gươm, tên, chúng cạo đầu,
cắt vạt áo, và nhuộm với đất nâu. Sa-di bảo chúng khoác
y vàng và truyền mười giới cho. Rồi thầy trò ra đi đến
các Trưởng lão để các Ngài yên tâm hành thiền. Quả thế,
trông thấy chú, các Ngài nhẹ nhõm chào mừng. Chú xin phép
dẫn các tân tu sĩ đến gặp Phật và thầy của chú. Trưởng
lão Xá-lợi-phất và cả Phật đều hỏi thăm năm trăm đệ
tử của Sa-di. Và Phật bảo họ:
-
Này các Tỳ-kheo, dù chỉ sống một ngày an trụ trong đức
hạnh như các ông đang sống, còn hơn sống trăm năm đắm
sâu trong tội ác cướp bóc.
Xong,
Ngài đọc Pháp Cú:
(110)
Dầu sống một trăm năm,
Ác
giới, không thiền định,
Tốt
hơn sống một ngày,
Trì
giới, tu thiền định.
Sau
thời gian làm tròn bổn phận, Sa-di Samkicca thành
Tỳ-kheo. Ðược mười năm, chú độ con của người chị làm
Sa-di tên Atimuttaka.
Ðến đúng tuổi chú Sa-di được Trưởng lão Samkicca
gởi về nhà hỏi lại cha mẹ tuổi chính xác. Trên đường
đi chú bị năm trăm tên cướp bắt định tế thần. Chú thuyết
pháp cải hóa chúng, và được chúng thả ra với điều kiện
không được nói với ai về sự có mặt của chúng. Sa-di giữ
lời hứa, nên khi thấy cha mẹ đi ngược chiều về phía bọn
cướp chú vẫn nín thinh. Cha mẹ chú bị ngược đãi trong
tay bọn cướp, khóc lóc trách móc chú đã thông đồng với
bọn cướp, nên không thông tin cho biết trước. Bọn cướp
nghe được lời trách móc, biết chú bé đã giữ lời hứa,
nên phát lòng tin, xin được gia nhập Tăng đoàn. Giống như
thầy của chú trước kia, chú thu nhận hết và dẫn đến
Trưởng lão Samkicca
rồi đến gặp Thế Tôn. Phật nghe chuyện bèn dạy câu Pháp
Cú như trên (110).
10.
Tỳ Kheo Và Kẻ Cướp
Ai
sống một trăm năm ...
Phật
đã dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Khànu
Kondanna.
Trưởng
lão này nhận đề mục thiền quán từ Thế Tôn, vào rừng
ẩn tu và chứng A-la-hán. Muốn trình với Phật sở chứng
của mình, Ngài rời rừng trở về. Ðường dài mệt mỏi,
Ngài ngồi trên một tảng đá nhập định. Bấy giờ một
bọn cướp năm trăm tên đang đánh phá một ngôi làng. Chiến
lợi phẩm được gói trong nhiều bao tùy theo sức mỗi người.
Và chúng đội lên đầu đi xa. Mệt quá chúng đến nghỉ tại
một mỏm đá. Lầm tưởng Trưởng lão là cội cây, chúng
đặt các bao quanh Ngài, có một bao kê ngay đỉnh đầu, rồi
lăn xuống ngủ.
Hừng
đông chúng thức dậy ôm bao bị lên, thấy Trưởng lão tưởng
là ác thần nên vụt bỏ chạy. Trưởng lão vội kêu họ lại:
-
Cư sĩ, đừng sợ. Tôi là Sa-môn.
Họ
đồng thanh thưa:
-
Xin tha lỗi cho chúng con, Tôn giả. Chúng con lầm Ngài với
một gốc cây.
Riêng
tên chúa đảng lên tiếng đi tu theo Trưởng lão. Và cả bọn
đều đồng lòng, y như chuyện Sa-di Samkicca.
Trưởng lão chấp thuận, và từ đó người ta gọi Ngài là kondanna
Gốc Cây, Khànu Kondanna.
Ngài
dẫn họ đến Thế Tôn, và được Phật dạy:
-
Các Tỳ-kheo, dù chỉ sống một ngày có tu tập trí quán còn
hơn sống trăm năm tạo nghiệp điên cuồng như thế.
Xong
Phật đọc Pháp Cú:
(111)
Ai sống một trăm năm,
Ác
tuệ, không thiền định,
Tốt
hơn sống một ngày,
Có
tuệ, tu thiền định.
11.
Lưỡi Dao Cạo
Ai
sống một trăm năm ...
Tại
Kỳ Viên, Phật đã dạy như thế, liên quan đến Trưởng lão Sappadàsa.
Tại
Xá-vệ, một chàng trai gia thế nghe Phật thuyết pháp, đi tu
và được nhận vào Tăng đoàn. Sau một thời gian bất mãn,
chàng tìm cách tự sát vì nghĩ rằng thà chết hơn làm một
tu sĩ.
Một
hôm, sáng sớm, các Tỳ-kheo đến tinh xá sau khi thọ thực,
thấy một con rắn trong Pháp đường, nằm ở lò sưởi, liền
bỏ vào bình, đậy lại mang ra ngoài tinh xá. Tỳ-kheo bất
mãn thấy thế liền giành mang ném bình đựng rắn, cốt cho
rắn cắn để chết. Ông đến một chỗ vắng ngồi xuống,
thọc tay vào bình quậy tới quậy lui nhưng nó không cắn.
Thậm chí ông mở miệng rắn, chọt ngón tay vào nó cũng không
cắn, ông ném nó đi cho đó là rắn hiền, không phải là rắn
độc. Và ông kể lại cho các Tỳ-kheo ở nhà y như thế. Họ
không chịu là rắn hiền vì nó phùng mang, rít lên, bắt nó
phát mệt. Nhưng khi ông ta bảo là nó không chịu cắn dù làm
mọi cách, họ im luôn.
Tỳ-kheo
bất mãn vốn là người hớt tóc cho cả tinh xá. Một hôm
ông đến tinh xá cầm theo hai, ba dao cạo. Một để trên sàn,
một cạo tóc. Lần đó ông nghĩ sẽ lấy dao cắt đứt họng
tự tử. Rồi ông tựa cổ lên một cành cây, dí lưỡi dao
vào khí quản. Trong tư thế đó, ông phản quán về thái độ
cư xử của mình trong thời gian làm bổn phận của một Sa-di,
và nhận rằng hạnh kiểm của mình tốt đẹp như mặt trăng
sáng trong hay châu ngọc chiếu sáng. Ông vui mừng khắp toàn
thân. Nén vui, ông khai triển Minh-sát-tuệ và chứng A-la-hán
cùng các thần thông. Ông buông dao cạo và trở vào tinh xá.
Gặp các Tỳ-kheo khác hỏi chuyện, ông thưa thật, và kết
luận thay vì cứa cổ với dao cạo, ông đã cứa bỏ tham dục
với dao trí tuệ. Các Tỳ-kheo không tin, thưa chuyện với Thế
Tôn. Phật nghe kể, bảo:
-
Các Tỳ-kheo! Người đã thoát khỏi tham dục thì không thể
dứt mạng sống của chính mình.
Họ
hỏi Phật tiếp:
-
Bạch Thế Tôn! Ngài bảo người này đã trừ hết tham dục,
tại sao đã có khả năng chứng A-la-hán mà còn bất mãn? Sao
ông có đủ khả năng chứng quả? Sao ông không bị rắn cắn?
-
Các Tỳ-kheo! Chuyện đơn giản là con rắn đó là nô lệ của
ông ta ở kiếp trước, nên không dám cắn chủ.
Và
Ngài kể lại vắn tắt nguyên nhân. Do đó Tỳ-kheo này có
tên là Sappadàsa (Người
có rắn làm nô lệ).
Chuyện
quá khứ
11A.
Bất Mãn Và Tham Ðắm
Vào
thời Phật Ca-diếp, một chàng trai thế phiệt nghe Phật thuyết
pháp đi tu. Hết thời gian làm tròn bổn phận, ông bất mãn.
Tỳ-kheo bạn khuyên bảo và kể đời sống gia đình bất lợi
như thế nào. Ông nghe theo và tiếp tục tu.
Một
hôm, ngồi trên bờ hồ rửa pháp cụ bụi bám suốt thời
gian ông bất mãn, ông nói với Tỳ-kheo bạn định sẽ cho
pháp cụ khi có ý định hoàn tục. Ông kia nghe thế nổi lòng
tham nên giở giọng ta thán đời sống xuất gia: "Sống làm
chi mà cầm bình bát ăn mày từ nhà này sang nhà khác, còn
bị cấm chuyện trò với vợ con! Vả lại nếu anh bạn có
ở lại hay ra khỏi Tăng đoàn thì cũng chẳng hề hấn ai!"
Thế rồi ông này ca tụng thêm đời sống gia đình. Tỳ-kheo
trước đây bất mãn bây giờ trở lại bất mãn. Nhưng chợt
nghĩ tại sao ông bạn mình trước đây ta thán đời sống
gia đình, bây giờ lại ca tụng. Và ông cũng chợt hiểu là
ông bạn thèm muốn pháp cụ của mình.
(Hết
Chuyện Quá Khứ)
-
Như thế, này các Tỳ-kheo! Một Tỳ-kheo vì đã bất mãn thời
Phật Ca-diếp nên bất mãn thời hiện tại, và vì thiền định
suốt hai mươi ngàn năm nên bây giờ đủ duyên lành chứng
A-la-hán.
Các
Tỳ-kheo nghe xong, hỏi Phật tiếp một câu nữa:
-
Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo này bảo đã chứng A-la-hán ngay khi
lưỡi dao chạm cổ họng. Có thể nào chứng quả thời gian
ngắn như thế không?
Phật
bảo:
-
Ðúng vậy, các Tỳ-kheo. Một Tỳ-kheo phấn đấu hết sức
mình có thể chứng quả khi nhấc chân lên, khi đặt chân xuống
đất, hoặc cả ngay khi bàn chân chạm đất. Vì một người
phấn đấu hết sức mình dù chỉ một khắc còn hơn là sống
lười biếng cả trăm năm.
Và
Phật đọc Pháp Cú:
(112)
Ai sống một trăm năm,
Lười
nhác, không tinh tấn,
Tốt
hơn sống một ngày,
Tinh
tấn tận sức mình.
12. Patàcàrà Bị
Mất Cả Gia Ðình
Ai
sống một trăm năm ...
Phật
dạy như thế tại Kỳ Viên, do chuyện Tỳ-kheo-ni Patàcàrà.
Bà
là con gái một gia đình giàu có ở Xá-vệ, gia sản lên đến
bốn trăm triệu. Nhan sắc bà tuyệt đẹp, mười sáu tuổi
được cha mẹ cho ở tầng chót tòa nhà bảy tầng, canh gác
cẩn thận. Tuy vậy bà vẫn thông gian với gia đồng của mình.
Cha mẹ đã hứa gả cho một chàng trai đồng giai cấp và ngày
cưới gần kề, bà bảo tên gia đồng rằng hắn sẽ không
bao giờ có được quà cáp để đến thăm bà ở bên chồng,
do đó hắn hãy tìm cách mang bà đi khỏi nơi này, nếu thật
sự thương yêu bà. Và họ đồng ý trốn đi. Ðến ngày hẹn,
bà dậy sớm, ăn mặc dơ bẩn, tóc tai rối bù, còn bết thêm
bụi đỏ vào mình, cầm bình đựng nước, giả bộ ra ngoài
kiếm nước để đến chỗ hẹn. Rồi cả hai đi thật xa đến
một làng nọ sinh sống. Chồng trồng trọt gom củi và lá
trong rừng. Vợ xách nước, giã gạo, nấu ăn, làm việc nội
trợ. Bà lãnh quả báo của tội lỗi mình.
Khi
có mang, bà muốn về nhà cha mẹ sinh nở để được giúp
đỡ nhưng anh chồng không chịu, sợ họ bắt tội và hành
hạ mình. Bà đòi nhiều lần vẫn không được, nên khi chồng
vào rừng bà gởi nhà cho hàng xóm rồi về nhà cha mẹ. Anh
chồng trở về hay được, rượt theo bắt bà trở lại. Nhưng
đến một nơi bà chuyển bụng sinh được một bé trai. Cả
hai lại trở về nhà. Lần sau có mang, bà cũng bỏ về nhà
cha mẹ như trước. Anh chồng tìm theo cũng bắt bà trở lại.
Và trên đường về bất ngờ một cơn bão lớn thổi tới.
Mưa như trút, sấm sét không ngừng. Ðúng lúc đó bà chuyển
bụng. Anh chồng cầm rìu tìm cách che chòi cho bà lâm bồn.
Thấy bụi cây trên ụ mối, anh ta vừa chặt xuống thì rắn
độc trườn ra cắn chết, thân nóng như lửa, thịt tím ngắt.