MỤC LỤC
I.
Lời đầu sách
II.
Cuộc Đời Của Thân Loan
II.1
Thân Thế Và Xuất Gia
II.2
Tham Cứu Nơi Nhà Lục Giác
II.3
Sự Hồi Tâm Của Thân Loan
II.4
"Tuyển Chọn Bổn Nguyện Niệm Phật"
II.5
Pháp Nạn Thừa Nguyên Và Lưu Đày Ở Việt Hậu
II.6
Phi Tăng Phi Tục
II.7
Sự Hành Hóa Ở Kanto (Quan Đông)
II.8
Những Năm Về Già Của Thân Loan
III.
Những Trước Tác Chính Yếu
III.1
Tịnh Độ Thật “Giáo Hạnh Chứng Văn Loại”
III.2
Tịnh Độ Văn Loại Tụ Sao (1 quyển)
III.3
Ngu Ngốc Sao (2 quyển)
III.4
Nhập Xuất Nhị Môn Kệ
III.5
Tam Thiếp Hòa Tán
III.6
Ba Kinh Tịnh Độ Vãng Sanh Văn Loại
III.7
Tôn Hiệu Chơn Tượng Minh Văn
III.8
Nhứt Niệm Đa Niệm Văn Ý
III.9
Duy Tín Sao Văn Ý (1 quyển)
III.10
Thân Loan Thánh Nhơn Ngự Tiêu Tức
III.11
Huệ Tín Ni (Eshinni) Tiêu Tức
III.12
Thán Dị Sao (1 quyển)
IV.
Lời Dạy Của Thân Loan
IV.1
Ngôn Ngữ Của “Thán Dị Sao”
IV.1.1
Lời Thệ Nguyện Của Phật A Di Đà
IV.1.2
Cứu Độ Bình Đẳng
IV.1.3
Lành Cũng Không Cầu, Ác Cũng Không Sợ
IV.1.4
Con Đường Vãng Sanh Cực Lạc
IV.1.5
Chỉ riêng niệm Phật
IV.1.6
Biến Đổi Kẻ Ngu
IV.1.7
Niệm Phật Phát xuất Từ Truyền Thống
IV.1.8
Cơ Duyên của Người Ác
IV.1.9
Không Mang Theo Một Đệ Tử Nào
IV.1.10
Qua Sự Từ Bi
IV.1.11
Tâm Hoan Hỷ Lành Mạnh
IV.1.12
Biết Rõ Sự Liên Hệ Với Phật
IV.1.13
Không Lưu Luyến Nơi Tịnh Độ
IV.1.14
Lòng Tin Được Chở Che
IV.1.15
Một Người Như Thân Loan.
IV.1.16
Phê Phán Về Thiện Ác
IV.1.17
Niệm Phật Là Suối Nguồn
IV.2
Lời Dạy Về “Tam Thiếp Hòa Tán”
IV.2.1
An Dưỡng Tịnh Độ
IV.2.2
Là Cõi (Báo Độ) Nguyện Lực Thành Tựu
IV.2.3
Đức Phật A Di Đà
IV.2.4
Phật A Di Đà Thành Phật từ lâu xa
IV.2.5
Nhiếp Thủ Bất Xả
IV.2.6
Đức Phật Thích Ca Và Đức Phật A Di Đà
IV.2.7
Tha Lực Bất Tư Nghì
IV.2.8
Tín Tâm Chánh Nhân
IV.2.9
Trí Tuệ của Lòng Tin
IV.2.10
Sự Chướng Ngại Nương Vào Nơi Đức
IV.3
LỜI DẠY CỦA HÒA NGỮ THÁNH GIÁO
IV.3.1
Pháp Tánh, Pháp Thân Và Phương Tiện Pháp Thân
IV.3.2
Lắng Nghe Danh Hiệu
IV.3.3
Lòng Tin Là Gì?
IV.3.4
Hiện Sanh Chánh Định Tụ
IV.3.5
Giống Như Đức Như Lai
IV.3.6
Trừ Những Kẻ Ngũ Nghịch Hủy Báng Chánh Pháp
IV.3.7
Thang Thuốc của Đức Phật A Di Đà
IV.3.8
Pháp Tự Nhiên Như Thế
IV.4
Lời dạy về “Giáo Hành Chứng Văn Loại”
IV.4.1
Pháp Tạng Bồ Tát
IV.4.2
Vãng Tướng Hồi Hướng và Hoàn Tướng Hồi Hướng
IV.4.3
Lời Dạy Chân Thật
IV.4.4
Hạnh Chân Thật
IV.4.5
Sắc Mệnh của Bổn Nguyện Mời Gọi
IV.4.6
Sự Thực Hành Một Niệm
IV.4.7
Lòng Tin Nhứt Niệm
IV.4.8
Lòng Tin Chân Thật
IV.4.9
Hai Loại Tin Sâu
IV.4.10
Sự Chứng Quả Chân Thật
IV.4.11
Chuyển Nhập Tam Nguyện
IV.4.12
Vui Mừng Khi Gặp Pháp
IV.4.13
Sự Thệ Nguyện Sâu Dày Của Tâm
IV.4.14
Buồn Thay!
V.
Lời Cuối Sách
VI.
Tiểu Sử Kakehashi Jitsuen
VII.
Nhà Xuất Bản
LỜI
ĐẦU SÁCH
Đã
từ lâu người Phật Tử Việt Nam chúng ta làm quen với Tịnh
Độ Tông Việt Nam và Tịnh Độ Tông Trung Hoa; nhưng Tịnh
Độ Tông Nhật Bản dường như rất ít người lưu tâm đến.
Có lẽ nhiều người nghĩ rằng, đã là Tịnh Độ thì Phật
Giáo nước nào cũng giống nhau thôi. Điều đó không sai nhưng
nói như thế không hoàn toàn đúng. Vì lẽ cây giác ngộ có
thể chung cùng một gốc; nhưng cành lá giác ngộ có thể không
giống nhau. Vì qua việc truyền thừa của Chư Tổ khi tiếp
nhận cũng như tiêu hóa giáo lý phải kinh qua văn hóa, phong
tục, tập quán cũng như ngôn ngữ của nước mình. Do vậy,
hôm nay chúng tôi muốn giới thiệu đến quý vị một cuốn
sách viết về cuộc đời và sự tu chứng cũng như những
trước tác của Ngài Thân Loan (Shinran) người Nhật Bản sanh
vào cuối thế kỷ thứ 12 và sách này do tác giả Kakehashi
Jitsuen đặc biệt trình bày về quan điểm của Tịnh Độ
Tông theo lối nhìn của người Nhật và biết đâu các Phật
tử Việt Nam chúng ta sẽ có tài liệu để tham cứu một tông
phái vốn chiếm 2 phần 3 trong các Tông phái Phật Giáo Nhật
Bản ngày nay.
Người
Nhật khi nghe đến Shinran Shonin (Thân Loan Thánh Nhân) họ liền
hiểu ngay gần như là Giáo Tổ của Tịnh Độ Tông Nhật Bản,
nhưng thật ra Tịnh Độ Tông Nhật Bản không phải bắt đầu
từ thế kỷ thứ 12 mà trước đó đã có Shotoku Taishi (Thánh
Đức Thái Tử) đã tu học pháp môn này từ thế kỷ thứ
6,7 (ông sinh năm 574, băng hà năm 622) rồi sau đó đến Ngài
Nguyên Tín, Pháp Nhiên[1],
tiếp theo sau mới đến Thân Loan. Thân Loan là đệ tử của
Pháp Nhiên nhưng hầu như người ta ít lưu tâm đến Pháp Nhiên
hơn là Thân Loan. Do vậy chúng ta thử duyệt qua những điểm
chính về cuộc đời, sự tu học, tư tưởng, những trước
tác v.v…, để từ đó chúng ta rõ hơn về con người của
Thân Loan mà người Nhật đã tôn Ngài là bậc Thánh.
Thân
Loan sinh năm 1173 và viên tịch năm 1262. Ngài có một cuộc
đời dài đằng đẳng gần một thế kỷ như thế để làm
người và được làm Thánh sau khi viên tịch. Năm lên 9 tuổi
đã xuất gia tại núi Tỷ Duệ thuộc Tông Thiên Thai. Ngài
ở đó tu học 20 năm trường và vẫn tu học theo môn phái
này, đồng thời cũng hành trì theo pháp môn niệm Phật và
chuyên tu về lời nguyện thứ 19 cũng như 20 của Đức Phật
A Di Đà. Sau 20 năm như thế vẫn chưa rõ được sự sanh tử,
nên năm 29 tuổi Ngài đã tìm đến Ngài Pháp Nhiên để tham
cứu về Tịnh Độ. Sau hơn 4 năm tu học với Ngài Pháp Nhiên,
Ngài đã tỏ ngộ được sanh tử và sự giải thoát như chuyên
tâm tu học theo lời nguyện thứ 18 của Đức Phật A Di Đà.
Đến năm 34 tuổi nhằm năm Nguyên Thừa Nguyên Niên, tức năm
1207 bị đày sang Etsugo vì lẽ có nhiều tông phái khác tại
Nara lúc bấy giờ không thích pháp môn Tịnh Độ và cho Pháp
Nhiên cũng như Thân Loan là đi sai lời dạy của Phật; nên
những giáo phái có thế lực với triều đình lúc bấy giờ
đã xin đày Ngài Thân Loan đi Việt Hậu (Etsugo). Đến năm
Kiến Lịch nguyên niên nhằm năm 1211, Thầy trò Thân Loan mới
được miễn tội. Lúc này ông ta đã 38 tuổi; nghĩa là thời
gian bị lưu đày 5 năm. Trong 5 năm ấy ông vẫn thực hành
pháp môn Niệm Phật. Đến năm 42 tuổi Thân Loan về Kanto để
hướng dẫn cho nhiều người tu pháp môn Niệm Phật nầy.
Ông ở tại đó, suốt trong vòng 20 năm. Nghĩa là cho đến
năm ông 62 tuổi và kể từ lúc ấy ông về lại Kyoto để
ở cũng như trước tác các tác phẩm khác và dạy đệ tử
cho đến năm Thân Loan 90 tuổi thì viên tịch.
Như
vậy cuộc đời của Ngài có thể chia ra làm những giai đoạn
như sau: Giai đoạn một từ khi sinh ra cho đến khi xuất gia
tu học tại núi Tỷ Duệ. Giai đoạn hai kể từ khi về với
Pháp Nhiên làm đệ tử. Giai đoạn ba là giai đoạn lưu đày.
Giai đoạn bốn tuy không nói rõ trong sách này nhưng cũng là
một giai đoạn quan trọng. Đó là giai đoạn Thân Loan lập
gia đình và sinh đến 6 người con, cả trai lẫn gái. Giai đoạn
năm là giai đoạn truyền bá pháp môn Tịnh Độ tại Kanto
và giai đoạn sáu từ khi về lại Kyoto lúc 62 tuổi đến năm
90 tuổi.
Trong
từng giai đoạn của cuộc đời Ngài, giai đoạn nào cũng
khá quan trọng, thiết nghĩ chúng tôi không bàn rộng ở đây
mà xin để cho độc giả lần vào trong từng trang sách một
sẽ biết rõ được điều ấy. Ở đây chúng tôi chỉ xin
muốn tuần tự điểm qua một số nét chính như vừa gợi
ý bên trên để độc giả có thể nắm bắt ý chính một
cách dễ dàng mà thôi.
Về
sự tu học của Thân Loan như chúng ta đã rõ, Người vẫn
hằng tin vào câu niệm Phật; nhưng ban đầu ông dùng tự lực
của mình để mong tỏ ngộ chân lý, nhưng cuối cùng không
được, ông đã chuyển sang niệm Phật theo Bổn Nguyện Tha
Lực của Đức Phật A Di Đà; nghĩa là khi niệm Phật tức
là lúc chúng ta tin tưởng và giao phó trọn vẹn thân tâm ta
cho Phật, để Phật sẽ dùng cái Đức mà đến cứu độ
ta và tự lực phải hoàn toàn buông bỏ. Đây cũng là một
điểm khác đối với Phật Tử Trung Quốc và Việt Nam. Trung
Quốc và Việt Nam chúng ta theo pháp tu Tín, Hạnh, Nguyện; nhưng
theo Ngài Thân Loan không tuần tự như thế mà qua Giáo, Hạnh,
Tín, Chứng. Đây cũng là một điểm khác nữa nổi bật trong
sự thực hành pháp môn Niệm Phật theo Thân Loan và theo người
Nhật trong hiện tại.
Ngày
xưa và nay cũng thế những người có thế và lực thường
hay dựa vào thế quyền để uy hiếp những kẻ yếu và Thân
Loan khi thực hành pháp môn Niệm Phật có lẽ vì có nhiều
người theo; nên những tông phái khác không thích chăng? Do
vậy mà mới cậy vào thế của Triều Đình để bắt ông
cùng đồ chúng phải bị lưu đày trong 5 năm như thế. Từ
năm 39 đến 42 tuổi không thấy đề cập đến nhiều; nhưng
có lẽ đây là thời gian ông lập gia đình và sống một cuộc
đời Phi Tăng Phi Tục. Đây cũng là một cái nhìn hơi khác
với Phật Giáo Việt Nam hay các nước Phật Giáo Đông Nam
Á Châu khác.
Khi
bị tù đày, chắc chắn khó có người đến để chăm nom
săn sóc; nên lúc ở Việt Hậu có người con gái của Binh
Bộ Đại Bổ lấy ông làm chồng và sau đó người này cũng
xuất gia với pháp danh là Huệ Tín. Có thể nói rằng lúc
ông đang ở trong tù tức từ năm 34 tuổi cho đến sau 5 năm
ở tù năm ông 39 tuổi và kéo dài thời gian 3 năm nữa cho
đến năm ông 42 tuổi, khi rời Việt Hậu để đi Kanto là
thời gian có những mối tình đẹp với người con gái con
quan như thế. Đây có thể là mối tình công khai chứ không
phải là một mối tình vụng trộm nơi cửa Thiền và cũng
bắt đầu từ đó trở đi hầu như 90 phần trăm Tu sĩ Tịnh
Độ Tông của Nhật Bản lập gia đình. Nếu kể cho đúng
năm tháng ngày giờ phải nói từ năm 1215 cho đến bây giờ
(2006) đã gần 800 năm rồi. Ngoài ra tất cả những Tăng sĩ
khác đã bị bắt buộc phải lập gia đình qua sắc lệnh của
Minh Trị Thiên Hoàng (Meiji Tenno) vào năm 1868. Nghĩa là cách
nay cũng đã 130 năm. Trong khi đó Việt Nam chúng ta nằm cách
Nhật Bản không xa mấy về địa lý; nhưng hoàn toàn không
rõ về vấn đề này. Ở đây chúng tôi không nói, việc lập
gia đình đối với Tăng sĩ là tốt hay xấu, nên hay không
nên; nhưng việc này tùy theo quan niệm, cũng như tập quán
của từng dân tộc mà thôi. Có lẽ chúng ta sẽ rõ hơn việc
này khi điểm qua về tư tưởng của Thân Loan như dưới đây:
Thân
Loan vẫn tin là niệm Phật được vãng sanh; nhưng không tin
vào tự lực. Chỉ tin vào tha lực và sự vãng sanh theo chủ
trương của Ngài là trực tiếp vãng sanh thành Phật, không
cần trải qua các giai đoạn khác để hành Bồ Tát Đạo qua
Thập Địa và Cửu Phẩm Liên Hoa, do sự tu nhơn tích đức
ở đời này như các Tông phái Nhiếp Luận, Tam Luận Tông
và Chơn Ngôn Tông hằng chủ trương. Nghĩa là “Hiện Sanh
Thành Phật” có nghĩa là chỉ một đời tu niệm Phật sẽ
được thành Phật ngay sau khi lâm chung, do nhờ cái Đức nhiếp
hóa và sự chở che của Đức Phật A Di Đà và đó là “Tha
Lực Bổn Nguyện”. Có lẽ vì quan niệm như thế cho nên Tăng
hay Tục; người có gia đình hay không có gia đình, tất cả
đều giống nhau. Nếu một lòng chuyên niệm Nam mô A Di Đà
Phật và thực hành theo nguyện thứ 18 đó là: “Ta thề sẽ
không giữ ngôi chánh giác, nếu có một chúng sanh nào đó
trong 10 phương quốc độ, niệm đến danh hiệu ta mà không
được cứu độ thì quyết không thành Phật. Duy chỉ trừ
những kẻ mang tội ngũ nghịch và không tin theo chánh pháp”.
Ở
đây theo lời nguyện này Phật sẽ cứu độ không bỏ một
ai, chỉ trừ những người như đã nêu trên, nhưng nếu những
người như thế mà có tâm hối cải thì cũng vẫn được
độ như thường. Theo tinh thần của kinh Di Đà nội dung rõ
ràng là như thế. Bước qua lãnh vực Kinh Báo Ân Phụ Mẫu
thì Phật dạy Ngài Mục Kiền Liên phải nhờ vào năng lực
của Chư Tăng sau 3 tháng An Cư Kiết Hạ mới cứu người mất
được siêu thoát. Nhưng tiến xa hơn nữa là Kinh Đại Bát
Niết Bàn, Phẩm Phạm Hạnh, Đức Phật đã khẳng định rằng:
Nhứt Xiển Đề và những người phạm tội ngũ nghịch cũng
có khả năng thành Phật; nếu họ biết ăn năn sám hối. Vì
sao vậy? Vì tất cả các pháp đều có tính cách bất định;
nên Nhứt Xiển Đề cũng bất định. Ngày hôm qua có thể
là Nhứt Xiển Đề; nhưng ngày hôm nay và ngày mai nếu những
người phạm tội ngũ nghịch và Nhứt Xiển Đề ấy sám hối,
ăn năn tội lỗi xưa của mình thì chắc chắn cũng sẽ thành
Phật. Đây chính là tư tưởng của Giáo Lý Tối Thượng Thừa.
Có lẽ Thân Loan căn cứ theo đây mà cho rằng: Chỉ cần một
đời niệm Phật theo Bổn Nguyện Tha Lực của Đức Phật
A Di Đà chắc chắn sẽ thành Phật. Điều này cũng khác với
quan niệm của Phật Tử Việt Nam và Trung Quốc là cõi Cực
Lạc chính là cõi Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ, chứ không
phải nơi ấy chỉ toàn là bậc Thánh.
Quan
niệm về Vãng tướng và Hoàn Tướng cũng khác với quan niệm
của người Phật Tử Việt Nam chúng ta. Vãng tướng có nghĩa
là sau khi lâm chung sẽ được vãng sanh về Cực Lạc rồi
thành Phật. Còn Hoàn Tướng có nghĩa là sau khi vãng sanh về
thế giới Cực Lạc thành Phật; nhưng sau khi thành Phật thấy
chúng sanh còn đau khổ nơi thế giới Ta Bà này nên phát nguyện
về đây để độ sanh.
Thân
Loan quan niệm rằng Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn là hiện
thân qua Pháp Thân Phương Tiện của Đức Phật A Di Đà để
thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề tại Ấn Độ và ông ta
quan niệm rằng từ Thế Thân, Long Thọ (Ấn Độ), Đàm Loan,
Đạo Xước, Thiện Đạo (Trung Quốc), Nguyên Tín, Pháp Nhiên
(Nhật Bản) đều là những Hóa Thân Phương Tiện của Đức
Phật A Di Đà. Ông còn đi xa hơn nữa là những loài bò bay,
máy cựa vi tế côn trùng cũng là Hóa Thân của Đức A Di Đà
thảy. Như thế tư tưởng này khó đọc thấy nơi những tác
phẩm khác của Tịnh Độ Tông Việt Nam chúng ta.
Với
những trước tác của ông rất quan trọng, mà quan trọng nhất
có lẽ là “Giáo Hành Chứng Văn Loại”. Theo tác giả Kakehashi
Jitsuen cho rằng ông ta viết tác phẩm này cho chính mình; nhưng
trên thực tế người đời sau lấy đó làm Kim Chỉ Nam cho
sự tu hành của mỗi người. Điều đặc biệt trong những
trước tác ấy mà nội dung có điểm qua trong phần đầu của
sách này, mãi cho đến năm Thân Loan 85, 87 tuổi vẫn còn cho
rằng những tư tưởng ấy là của Thầy ông, Pháp Nhiên, chứ
không phải của ông. Ông khiêm nhường và tự trọng nên cho
mình là kẻ ngu ngốc; nhưng trên thật tế ông chả ngu ngốc
chút nào. Ông cho rằng mình chưa nhập vào Chánh Định Tụ;
nhưng trên thực tế Ông đã vào Chánh Định Tụ từ lâu rồi.
Ông tự bảo rằng Ông là người vẫn còn tham dục, lợi danh,
bị ái dục sai sử, nhưng ông đã vãng sanh từ lâu rồi.
Chính
ông không tự đưa mình vào chỗ giác ngộ, nhưng người đời
sau đã chứng minh rằng ông đã giác ngộ qua những sự tôn
kính của đệ tử mình. Lẽ ra Thầy mình là Pháp Nhiên phải
được nhắc nhở nhiều hơn như khi Thân Loan còn tại thế,
nhưng hình ảnh của Pháp Nhiên mờ nhạt sau tư tưởng của
Thân Loan quả là việc: “Con hơn cha, nhà có phước và học
trò hơn Thầy vẫn là điều đáng ca ngợi cũng như đáng tán
dương biết bao”. Hình ảnh này cũng ít thấy nơi Phật Giáo
Việt Nam bao nhiêu.
Tịnh
Độ Tông Trung Quốc gồm có 13 vị Tổ. Bắt đầu từ Ngài
Huệ Viễn ở Lô Sơn đời nhà Tấn vào thế kỷ thứ 4 và
cuối cùng là Ngài Ấn Quang Đại Sư ở thế kỷ thứ 20. Thật
ra Thầy của Ngài Huệ Viễn là Ngài Đạo An nhưng vẫn không
nổi tiếng bằng đệ tử và thật ra Tịnh Độ Tông Trung
Quốc bắt đầu từ Ngài Bồ Đề Lưu Chi đến Ngài Lạc Dương
vào thời nhà Ngụy và đã truyền Tâm Tịnh Độ cho Ngài Đàm
Loan; nhưng cả những vị này đều ít được đề cập đến
như những đệ tử của mình sau nầy.
Riêng
Việt Nam chúng ta, Tịnh Độ Tông trong thế kỷ thứ 20 và
21 chiếm đa số, mặc dầu vào những thế kỷ thứ 10 đến
thứ 18 Thiền Tông chiếm địa vị độc tôn, nhưng tiếc rằng
Tịnh Độ Tông Việt Nam không có sự truyền thừa rõ ràng
như Phật Giáo Trung Quốc và Phật Giáo Nhật Bản. Ở những
nước này có sự khai tông lập giáo. Còn Việt Nam chúng ta
ngoại trừ bên Thiền Tông có Vua Trần Thái Tông và vua Trần
Nhân Tông vào thế kỷ thứ 13 có lập nên phái Trúc Lâm Yên
Tử là đặc biệt Thiền của Việt Nam, còn hầu như 10 hay
13 Tông phái khác Việt Nam không có sự truyền thừa rõ ràng.
Mới
đây Thượng Tọa Trí Siêu Lê Mạnh Thát là một Giáo Sư học
giả của Phật Giáo Việt Nam đã soạn được bộ Lịch sử
Phật Giáo Việt Nam tập 1, 2 và 3 rất có giá trị. Trong tập
1 Thượng Tọa đã căn cứ theo Lục Độ Tập Kinh trong Đại
Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh để bình chú và cho biết thêm
theo tinh thần các văn bia còn sót lại tại các chùa ở miền
Bắc Việt Nam đã cho thấy rằng Đạo Phật đã được truyền
vào Việt Nam chúng ta từ thế kỷ thứ 1, thứ 2 trước Thiên
chúa; nghĩa là từ thời Hùng Vương thứ 18 và hai người Phật
Tử đầu tiên của Việt Nam chúng ta là Chữ Đồng Tử và
công chúa Tiên Dung.
Trong
quyển 1 tác giả có chứng minh việc có liên hệ đến Tịnh
Độ Tông Việt Nam rất quan trọng. Đó là Ngài Đàm Hoằng
tu theo pháp môn Tịnh Độ Thập Lục Quán của Kinh Quán Vô
Lượng Thọ ở núi Tiên Du Bắc Việt và cuối đời tự thiêu,
được vãng sanh. Như vậy kinh Quán Vô Lượng Thọ chắc chắn
phải bằng chữ Hán và Ngài Đàm Hoằng này có liên hệ gì
với Ngài Đàm Loan người Trung Quốc chăng? Dĩ nhiên trước
Ngài Đàm Hoằng phải còn những vị Tổ Sư Việt Nam tu theo
Tịnh Độ Tông nữa. Nếu không làm sao Ngài Đàm Hoằng có
thể tu chứng và quán thành tựu một cách dễ dàng như thế
và sau Ngài Đàm Hoằng là vị nào nữa của những thế kỷ
thứ 5, thứ 6 sau Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi vốn là Thiền Tông
từ Ấn Độ và Trung Quốc được truyền sang Việt Nam chúng
ta? Hy vọng Thượng Tọa học giả Trí Siêu Lê Mạnh Thát sẽ
còn dẫn chứng nhiều tài liệu khác độc đáo hơn, để chúng
ta còn hệ thống hóa được những vị Tổ Sư về Tịnh Độ
của Việt Nam.
Mãi
cho đến thế kỷ thứ 19, 20 và đầu thế kỷ thứ 21 Việt
Nam chúng ta mới quan tâm trở lại về Tịnh Độ; nhưng đoạn
đầu, khoảng giữa và ngay cả về sau này do sự không có
khai tông lập giáo rõ ràng như Trung Hoa và Nhật Bản; nên
Phật Tử Việt Nam tu theo Tịnh Độ Tông vốn có những khó
khăn nhất định về sự định nghĩa của việc truyền thừa.
Năm
nay là năm thứ 4, Thầy trò chúng tôi lại có cơ duyên đến
Úc để nhập thất, hành trì cũng như dịch sách đã được
thật nhiều an lạc nơi nội tâm và hoan hỷ với ngoại cảnh.
Năm đầu chúng tôi dịch tác phẩm Đại Đường Tây Vức
Ký của Ngài Huyền Trang từ chữ Hán sang tiếng Việt. Bản
dịch này đã được xuất bản tại Hoa Kỳ, Úc Châu và Âu
châu cũng như Việt Nam trong hiện tại với số lượng không
dưới 10.000 cuốn. Ngoài ra Đạo hữu Tâm Kiến Chánh ở Hoa
Kỳ qua CD, Đạo hữu cũng đã lồng âm vào đĩa và đã được
Phật Tử khắp nơi lắng nghe pháp âm của Đại Đường Tây
Vức Ký.
Năm
thứ 2 chúng tôi dịch Đại Thừa Bồ Tát Tập Học Luận của
Ngài Santideva; những người nghiên cứu thì rất thích, nhưng
ít có tính phổ thông hơn quyển trên.
Đến
năm thứ 3 chúng tôi dịch quyển Thiền Lâm Tế Nhật Bản
từ tiếng Nhật sang tiếng Việt, đã được nhiều người
trong cũng như ngoài nước đón nhận một cách hết sức chân
thành với mục đích nghiên cứu và học hỏi thêm Phật Giáo
của xứ người. Đồng thời cũng năm ấy chúng tôi phóng
tác quyển “Giai nhân và Hòa thượng”. Đây là một tiểu
thuyết Phật Giáo có tính cách tình cảm tâm lý, xã hội,
giáo dục cũng được các Phật Tử ở trong và ngoài nước
đón nhận một cách rất nồng nhiệt và hy vọng sách này
còn nhiều chuyển biến lớn hơn trong tương lai nữa.
Năm
nay 2006 chúng tôi quyết định chuyển dịch tác phẩm thứ
48 này từ tiếng Nhật sang tiếng Việt, nhan đề là Tịnh
Độ Tông Nhật Bản và nội dung như quý vị đã lược qua
như trên. Hy vọng cũng sẽ có được nhiều người đón nhận
như thế. Sách này dày 250 trang khổ A5. Giá bán ở Nhật là
2500 Yen chưa kể thuế. Tính ra chừng 20US Dollars. Tôi bắt đầu
đọc sách này lần đầu vào ngày 18.7.2006 và đọc xong sách
vào ngày 4 tháng 10 năm 2006 tại Hoa Kỳ. Tôi những tưởng
Tịnh Độ Tông tương đối dễ dịch hơn Thiền Tông. Vì lẽ
những danh từ Tịnh Độ và tư tưởng Tịnh Độ đã quá
quen thuộc, nhưng điều ấy tôi đã lầm và có lẽ quý độc
giả cũng như thế. Văn chương, tư tưởng của Tịnh Độ
không nghèo qua 6 chữ Nam mô A Di Đà Phật, mà có cả một
rừng công đức, ngay cả Ngài Phổ Hiền trong Pháp Hội Hoa
Nghiêm phẩm thứ 81 còn cầu nguyện vãng sanh về Tây phương
Tịnh Độ. Còn ta so ra với các Ngài chẳng là gì cả, không
bằng hạt cát trong đại dương.
Năm
nay 2006 Thầy trò chúng tôi đến Úc vào ngày 16 tháng 11 năm
2006 sau khi đã đi Ấn Độ tu học, lễ bái tại Bồ Đề Đạo
Tràng cũng như Trung tâm Tu học Viên Giác. Sau đó đến Thái
Lan tham dự lễ An Vị Phật Tây Phương Tam Thánh tại Cực
Lạc Cảnh Giới Tự ở Chaingmai của Thầy Hạnh Nguyện và
tiếp đó Thầy trò chúng tôi đi Miến Điện để đảnh lễ
8 sợi tóc của Đức Phật thờ tại chùa Schwedagon ở thủ
đô Rangon. Từ đó bay qua Úc vào ngày 16 tháng 11 đến chùa
Pháp Bảo ở Sydney và ngày 20 tháng 11 năm 2006 Thầy trò chúng
tôi lên núi cũng như bắt đầu phiên dịch sách này đến
ngày 15 tháng 12 năm 2006 thì xong. Như vậy sách này được
dịch ròng rã trong 4 tuần lễ, mỗi tuần 5 ngày và mỗi ngày
độ 6 tiếng đồng hồ. Tổng cộng 120 tiếng đồng hồ phiên
dịch như thế.
Tác
phẩm này có nhan đề “Thân Loan và những lời dạy của
Ngài”; nhưng tôi đặt cho tiêu đề mới là “Tịnh Độ
Tông Nhật Bản” cho có tính cách bao quát hơn. Vì gọi Thân
Loan thì chỉ có người Nhật biết rõ, trong khi đó người
Việt khó am tường. Lần đầu tiên sách này được xuất
bản vào năm 1999 và năm 2005 đã tái bản đến 4 lần. Mỗi
lần xuất bản số lượng không cho biết là bao nhiêu; nhưng
tôi tin rằng ở Nhật người đọc sách và nghiên cứu về
Tịnh Độ không ít. Sách này do nhà xuất bản Đại Pháp Luân
Các ở Shibuya, Tokyo ấn hành và năm rồi (2005) khi in tác phẩm
Thiền Lâm Tế Nhật Bản, tôi đã viết thư qua Nhật xin phép
tác giả và nhà xuất bản để in và ấn tống tại ngoại
quốc cho độc giả Việt Nam đọc. Tất cả đều được hoan
hỷ và cho phép. Năm nay cũng vậy, sau khi xong tác phẩm này
tôi sẽ biên thư bằng tiếng Nhật xin phép để được xuất
bản tiếp tục. Nếu không có gì thay đổi về sức khỏe
chúng tôi sẽ lần lượt đến Úc nhập thất và sẽ dịch
các tác phẩm bằng tiếng Nhật của các tông phái khác như
Pháp Hoa, Mật Tông, Thiền Tào Động v.v.., để các độc giả
Việt Nam sau này khi nghiên cứu đến Phật Giáo Nhật Bản
có tài liệu tra cứu.
Năm
nay chỉ có một mình Hạnh Bổn đánh máy nên chúng tôi đã
nhờ thêm Thầy Phổ Huân cũng như Cô Giác Anh tiếp tay với
chú để tác phẩm này hoàn chỉnh trước khi về lại Đức
để chuẩn bị in và ấn tống năm 2007. Ngoài ra chúng tôi
cũng đã nhờ Thượng Tọa Thích Đồng Văn gò lại câu văn
dịch một lần nữa để cho được Việt hóa hoàn toàn.
Điều
vô cùng quan trọng là cần phải có sự giảo chánh lại cho
suông sẻ câu văn và ý tưởng; nếu không chúng ta sẽ bị
Nhật hóa lúc nào không hay biết. Việc này tôi cần đến
sự giúp đỡ tận tình của Hòa Thượng Thích Bảo Lạc vốn
là bào huynh của tôi, trước đây đã tốt nghiệp Đại Học
Phật Giáo Komazawa ở Nhật, xem lại lần cuối và đối chiếu
cả tiếng Nhật lẫn tiếng Việt để còn ít lỗi chừng nào
càng hay chừng ấy. Nhất là không phụ lòng những người
trông đợi một tác phẩm như thế này.
Năm
nay cũng là năm Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đã đến Úc được
25 năm (1981-2006) và sau khi kiến tạo ngôi chùa Pháp Bảo được
trang nghiêm cũng như hướng dẫn hàng ngàn người đi vào nẽo
đạo. Đồng thời Hòa Thượng cũng muốn tiếp tục nhập
thất và dịch kinh viết sách tiếp theo của gần 40 tác phẩm
đã trước tác; nên vào ngày 24 tháng 12 năm 2006 Hòa Thượng
nhân lễ Kỵ Tổ Minh Hải khai sơn Thiền phái Lâm Tế Chúc
Thánh tại Hội An, Quảng Nam đã trở về ngôi Phương Trượng
và làm lễ truyền thừa cho Đại Đức Thích Phổ Huân lên
trụ trì chùa Pháp Bảo kế tục đời thứ 44 của phái Lâm
Tế. Đây là một hình ảnh đẹp tuyệt vời của Phật Giáo
Việt Nam ở Hải Ngoại ngày hôm nay. Vì lẽ “Thừa Ân Pháp
Nhũ” để nối lại giòng pháp vốn dĩ linh thiêng từ Chư
Tổ như thế chúng ta chỉ có bổn phận tiếp nối, giống
như “Y Bát Chơn Truyền” của “Tổ Đức Lưu Phương”
mà bao đời nay chúng ta vẫn còn gìn giữ.
Sinh
ngữ được gọi là một ngôn ngữ sống và tử ngữ được
gọi là ngôn ngữ đã chết. Tuy tiếng Nhật là một sinh ngữ,
nhưng tôi xa Nhật từ năm 1977 cho đến nay 2006, kể cũng đã
gần 30 năm; nhưng tôi vẫn còn tự tin để dịch ra tiếng
Việt như thế là nhờ suốt trong những năm ở Nhật từ năm
1972 đến năm 1977 tôi ở chùa Nhật, tụng kinh bằng tiếng
Nhật và thực hành ngôn ngữ ấy hằng ngày và dùng nó gần
như tiếng mẹ đẻ; nên tôi có thể tự tin để dịch như
thế như ngày hôm nay. Ơn ấy xin hồi hướng lên Tam Bảo chứng
tri và cảm tạ thâm ân Thầy Trụ Trì Oikawa chùa Bổn Lập
ở Hachioji, vốn là Giáo Sư tiếng Pali tại Đại Học Risso,
người đã cưu mang cho tôi ở chùa và ăn học tại Nhật trong
thời gian lưu học.
Chùa
Pháp Bảo tại Sydney nơi có quý Cô Giác Thủy, Giác Trí, Giác
Duyên, Giác Anh đang tu học dưới sự hướng dẫn của Hòa
Thượng Thích Bảo Lạc cùng với gia đình Đạo hữu Chúc
Liêm, Thiện Minh, Diệu Mai, Chúc Hương và còn nhiều đạo
hữu khác nữa đã trợ duyên phần ẩm thực cũng như các
phương tiện khác để Thầy trò chúng tôi hoàn thành một
việc nhỏ trong bao nhiêu việc lớn khác của Tam Bảo. Quả
là ơn này nói không bao giờ cùng tận. Cũng hy vọng rằng
các vị Tịnh Hạnh Nhơn Chúc Nhận và Chúc Cang được xuất
gia trong ngày truyền thừa cũng sẽ tinh tấn hơn trong cuộc
đời tăng sĩ của mình.
Lời
cuối xin niệm ơn tất cả và xin cầu nguyện cho thế giới
hòa bình, nhân sinh an lạc.
Viết
lời tựa xong ngày 24 tháng 12 năm 2006 tại núi đồi Đa Bảo
nhân lần nhập thất thứ 4 tại đây và hôm nay cũng là ngày
Kỵ Tổ Chúc Thánh và lễ truyền thừa cho Đại đức Thích
Phổ Huân trụ trì chùa Pháp Bảo Sydney đời thứ 44.
Dịch
giả Thích Như Điển
(Tu
Viện Quảng Đức)
[1]
Thế danh của Ngài Pháp Nhiên là Phòng Nguyên Không
05-26-2008
04:12:34