Sáng
ngày mùng một Tết năm Bính Dần (1986), trời còn tối, cảnh
vật còn lờ mờ ẩn hiện dưới ánh sao đêm. Gió núi lành
lạnh từng cơn thổi nhẹ. Tất cả tăng ni Phật tử y áo
chỉnh tề chuẩn bị đến thất của Thầy để làm lễ chúc
thọ. Thất của Thầy nằm trên mỏm núi khác và cao hơn thiền
đường chừng 20 thước.
Ði
đầu là thầy Phước Hảo trụ trì của tu viện. Ðoàn người
lần bước trên những bậc thang bằng đá, tuy gồ ghề nhưng
cũng dễ đi. Quang cảnh trên đây rất đẹp mắt và nên thơ,
từ chỗ thất nhìn xuống thấy rõ khuôn viên của thiền viện.
Xa xa phía dưới là thị xã Vũng tầu. Xa hơn nữa là biển
cả với một bầu trời mênh mông bát ngát. Những ngọn đèn
li ti của ghe thuyền đánh cá long lanh trong đêm chẳng khác
nào hạt chuỗi kim cương.
Xin
mời quý vị nghe bài giảng.
Nam
Mô Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật.
Ðể
nhắc nhở quý vị năm mới về sự tu hành thì tôi sẽ nói
một câu chuyện. Qua năm Bính Dần này quý vị tinh tấn tu
hành đúng theo tinh thần Thiền Tông. Cho nên tôi sẽ nhắc
và nói rõ về cái "Tín Tâm". Bởi vì tất cả người tu chúng
ta, phần nhiều tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, mà ít có tin cái
tâm của mình. Bởi vậy nên hôm này tôi nói thẳng về cái
phương pháp hay là đường lối để làm sao mình nhận hiểu,
tin được cái tâm của mình.
Vậy
muốn "Tín Tâm", hỏi tâm là cái gì? Bởi vì xưa nay ai cũng
hay nói: "Tôi không cần đi chùa, tôi chỉ tu tâm cũng được
rồi." Nhưng mà tâm là gì để mà tu? Ðó là điều mà nhiều
người muốn biết, nhưng không biết rõ. Hoặc trong lúc nói
chuyện với nhau, người này bảo người kia rằng: "Tâm tôi
nghĩ thế này, tâm tôi tính thế kia." Thì như vậy tâm là
cái "nghĩ", "tính" hay là cái gì khác nữa? Ðúng ra chữ tâm
theo nhà Phật có nghĩa là để chỉ cho cái "biết". Bởi vì
biết nghĩ, biết tính, biết tốt, biết xấu, biết dở, biết
hay, tóm lại mọi cái thuộc về lãnh vực biết đó đều
gọi là tâm. Bởi vậy nếu mà chúng ta không phân biệt rành
rẽ thì chúng ta chỉ thấy tâm là cái biết phân biệt mà
quên tâm còn là cái biết thầm lặng, sáng suốt không có
phân biệt. Do đó nên trong nhà Phật chia tâm ra làm nhiều
thứ để giải thích. Ở đây, tôi tổng quát chia ra làm hai
loại: Loại thứ nhất là Tâm Vọng, loại thứ hai là Tâm
Chân.
Tâm
Vọng là cái gì? Tức là những cái biết thuộc về suy nghĩ,
thuộc về phân biệt. Ðó gọi là Tâm Vọng. Tâm là cái biết,
mà cái biết có suy tính, cái biết phân biệt đó là động.
Cho nên gọi là vọng. Vọng là dối chứ không có thật. Nó
có rồi mất. Sinh rồi diệt, chứ không lâu cho nên mới là
vọng. Còn cái biết mà thường hằng có, không đổi thay,
bất sinh bất diệt (tức không động), không có tướng trạng
thì gọi là Tâm Chân hay Chân Tâm. Thì như vậy, cái Tâm Chân
thật đó là chỉ cho cái biết không bao giờ đổi thay, không
bao giờ sinh diệt. Mà người đời chúng ta ai cũng chỉ nhận
được cái biết, tức là cái biết suy tính về phân biệt,
mà ít ai nhận được cái biết thầm lặng hằng còn mà không
có sinh diệt. Bởi không nhận được điều đó nên chỉ biết
cái tâm hư dối, cho là tâm thật; còn cái tâm chân thật lại
quên đi.
Vì
vậy cho nên trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Ðức Phật có
dậy: "Này các Tỳ Kheo, các ông chớ nên tin cái tâm của
các ông. Chỉ khi nào chứng A La Hán mới nên tin." Như vậy
quý vị thấy, cái tâm đó là cái tâm hư dối, mà tin nó là
không được. Bởi vì nó đổi thay, tức là sinh diệt. Mà
tin cái đổi thay sinh diệt thì thế nào mình cũng bị biến
đổi, bị sinh diệt. Khi chứng A La Hán thì cái tâm mới là
cái biết. Cái biết đó không còn sinh diệt nữa. Vì vậy
cho nên lúc đó mới đáng tin.
Ðức
Phật muốn cho chúng ta đừng lầm lẫn hai cái tâm: tâm phân
biệt hư dối và tâm lặng lẽ chân thật. Nếu mà chúng ta
lấy cái hư dối mà cho là thật thì tự chúng ta bị lầm,
bị mê, rồi đi trong sinh tử. Muốn biết rõ cái tâm chân
thật thì phải làm sao? Bởi vì những vị tu ngộ đạo thì
tự nhiên họ thấy, họ nhận ra. Còn nếu mà chưa ngộ đạo
thì khó mà nhận ra, khó mà biết được. Thì giờ đây tôi
chỉ y theo những lời dậy của Phật, của Tổ, để quý vị
khả dĩ có thể nhận thấy được phần nào.
Trong
Kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật thường dùng hình ảnh, Ngài nói
rằng có một cái gọi là "Nhất tinh minh sinh lục hòa hợp".
Tinh là ròng rặt, Minh là sáng suốt. Tức là cái sáng suốt
một cách thuần túy đó, sinh ra sáu cái hòa hợp. Sáu cái
hòa hợp là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Tại sao gọi
là sáu cái hòa hợp? Vì mắt mà muốn thấy thì phải có con
mắt và có cảnh bên ngoài. Rồi cái thức theo đó mà phân
biệt. Vì vậy cái biết của mắt phải do đủ duyên hòa hợp
mới có. Còn cái ý suy nghĩ thì cũng có cái cảnh bên ngoài,
có danh có tướng, rồi theo đó mà suy nghĩ. Ðó cũng là chạy
theo duyên, theo cảnh. Nhưng mà trong cái chạy theo duyên theo
cảnh đó, lại có cái ngầm ngầm, không theo mà chúng ta không
thấy. Vì vậy cho nên chư Phật, chư Tổ luôn luôn bảo chúng
ta phải khéo, đừng có lầm chạy theo cảnh mà phải thấy
có cái thật ngầm ở trong đó.
Vì
vậy cho nên chư thiền sư hay nói: Phải như con ngỗng chúa,
khi uống sữa hòa với nước, thì chỉ uống sữa mà chừa
nước lại. Chuyện đó là dễ hay khó? Cũng như vậy, ở sáu
căn của mình, trong cái chỗ hòa hợp đó, mình phải làm sao
nhận ra được cái thuần tuý, tinh anh mà đừng theo cái hư
dối phân biệt. Ðó là cái khôn ngoan khéo léo mà mình phải
làm. Cho nên người tu phải khéo nhận ra nơi mình có cái tinh
minh sáng suốt. Cái sáng suốt đó phát ra ở sáu căn của
mình gọi là sáu cái hòa hợp. Khi mắt nhìn cảnh, tai nghe
tiếng, thì đừng có lệ thuộc vào cái sinh diệt bên ngoài,
cái sinh diệt của vọng tâm. Mà nhờ sống được với cái
chân tâm. Ðó là cái khôn ngoan như con ngỗng chúa uống sữa
mà bỏ nước lại. Hình ảnh này trong kinh Lăng Nghiêm do các
thiền sư diễn tả lại bằng hình thức lạ lùng. Mới nghe
thì khó hiểu, nhưng đến lúc thâm nhập hiểu được thì
lại rất là hay.
Khi
ngài thiền sư Vân Nham đến với ngài Quy Sơn, ngài Quy Sơn
nói: "Nghe nói ông biết làm sư tử múa phải không?"
Ngài vân Nham nói: "Phải". Hỏi: "Múa được
mấy xuất?" Thì ngài nói: "Múa được sáu xuất".
Sau ngài Vân Nham được thầy là ngài Dược Sơn hỏi: "Ông
biết làm sư tử múa phải không?" Ngài nói: "Dạ phải."
Hỏi: "Múa được mấy xuất?" Ngài nói: "Con múa được
sáu xuất." Rồi ngài hỏi lại thầy: "Hòa Thượng biết
làm sư tử múa không?" Ngài Dược Sơn nói: "Biết."
Hỏi: "Hòa Thượng múa mấy xuất?" Ngài Dược Sơn trả
lời: "Ta múa một xuất." Thì ngài Vân Nham kết luận:
"Một tức là sáu, sáu tức là một." Vậy hai thầy trò
nói chuyện cho vui hay là đang nói chuyện trong kinh Lăng Nghiêm?
Ông thầy nói một xuất tức là Nhất Tinh Minh. Mà đệ tử
nói múa sáu xuất tức là Lục Hòa Hợp. Lấy hình ảnh sư
tử, vì sư tử là chúa loài thú, nó làm cho mọi loài thú
đều phải kinh hoàng. Bởi vậy cho nên cái chân thật này
ví như con sư tử. Còn những cái khác, những cái mộng tưởng
phân biệt thì ví như các loài thú khác. Vì vậy biết làm
sư tử múa là chỉ cho biết được cái thể Nhất Tinh Minh.
Một xuất là Nhất Tinh Minh, mà sáu xuất là sáu cái hòa hợp.
Hiểu
như vậy mình mới thấy rằng từ Phật tới Tổ đều thấy
rõ nơi mình có một cái chân thật. Rồi từ cái chân thật
đó theo duyên mà phát ra sáu cửa. Bởi vậy cho nên có đủ
tâm chân thật mà mình không nhận, không biết, lại tưởng
như là không có.
Ðến
chuyện một tổ sư Ấn Ðộ là ngài Ba la Ðề. Vua diện kiến
hỏi ngài về Phậr Tánh. Ngài trả lời: "Nơi thai gọi là
thân. Ở đời gọi là người. Nơi mắt gọi là thấy. Nơi
tai gọi là nghe. Nơi mũi phân biệt các mùi. Nơi lưỡi đàm
luận. Nơi tay nắm bắt. Nơi chân chạy nhẩy. Biến hiện thì
khắp thế giới, thu lại thì chỉ trong hạt bụi. Người hiểu
cho là Phật Tánh, người không hiểu gọi là tinh hồn."
Quý vị thấy Ngài có dấu diếm không? Như vậy thì ở nơi
tay, nơi mũi, nơi lưỡi ... đều có mang tính chất Phật. Nên
trong kinh Pháp Hoa mới nói là "Tri Kiến Phật". Hiểu
thì như con ngỗng chúa biết lọc sữa uống mà chừa nước
lại. Không hiểu thì như mình uống luôn cả nước, lọc không
được.
Chư
Tổ đã trình bầy thật rõ ràng, không dấu diếm một chút
nào. Nhưng vì chúng ta mê muội nhiều đơì nên nghe dường
như hiểu, mà không sống theo được. Ðó là cái mê lầm muôn
đời của chúng ta. Thiền sư Ðại An còn nói rất rõ là:
"Cả thẩy các ngươi, mọi người đều có viên ngọc lớn
vô giá. Từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ.
Từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh tất cả âm thanh. Sáu
cửa ngày đêm phóng quang sáng, cũng gọi là phóng quang tam
muội. Các ngươi không biết lại nhận bóng trong thân tứ
đại."
Nói
chung là mình có một hòn ngọc quý. Nhà thiền gọi là hòn
ngọc quý. Kinh Lăng Nghiêm gọi là Nhất Tinh Minh. Nhất Tinh
Minh hay là hòn ngọc quý là một, nhưng tuỳ theo cái duyên
mà phóng ra sáu cửa. Khi nó phóng ra sáu cửa thì ở tai nhận
lãnh âm thanh, ở mũi nhận lãnh mùi hương. Thì như vậy nó
hằng phóng quang ra sáu cửa mà mình không biết. Bởi không
biết cho nên mình nhận cái bóng trong thân tứ đại. Cái bóng
tức là những cái vọng tưởng suy nghĩ. Khi suy nghĩ, chúng
ta chỉ suy nghĩ được những cái đã nghe tên, đã thấy tướng.
Còn những cái chưa nghe tên chưa thấy tướng thì suy nghĩ
không được. Như vậy có danh có tướng là có cái bóng reo
rắc vào tâm hồn mình, rồi từ cái bóng đó mình duyên theo
đó mà khởi ra suy nghĩ. Như vậy nó là cái duyên cái bóng
mà ta suy nghĩ chứ không phải thật.
Còn
cái hằng nghe thấy thì có lúc nào vắng hay không? Cái thấy
cái nghe bao giờ mà vắng mất. Nhưng suy nghĩ thì chỉ có khi
nào duyên theo bóng của sự vật bên ngoài mới có cái nghĩ.
Vì vậy cho nên nơi mình quên đi, mình không nhận được cái
chân thật phóng ra từ sáu cửa đó. Mà chỉ nhận cái bóng
ở trong thân tứ đại, tức là cái vọng tưởng của mình.
Thì như vậy, tất cả chúng ta bây giờ sống bằng cái tinh
thần hay cái tâm của mình? Nếu là cái tâm thì là cái tâm
nào? Là cái tâm duyên theo bóng. Mà đã chạy theo bóng, duyên
theo bóng thì đó không phải là thật. Mà mình cả ngày cứ
sống theo cái bóng đó. Sống theo cái bóng không thật thì
sẽ bị dẫn đi trong cái không thật, tức là đi trong sinh
tử luân hồi, như mộng huyễn. Còn nếu mình sống chân thật
thì cái vòng sinh tử luân hồi mộng huyễn không còn nữa.
Ðó chính là cái gốc của sự tu.
Khi
tổ Huệ Khả nhận được pháp tu từ tổ Bồ Ðề Ðạt Ma,
một hôm ngài bạch với tổ Bồ Ðề Ðạt Ma rằng: "Từ
đây về sau, con dứt hết các duyên." Tổ Bồ Ðề Ðạt
Ma mới nói: "Chớ rơi vào đoạn diệt." Ngài thưa: "Không
rơi." Tổ hỏi: "Con làm thế nào?" Ngài trả lời:
"Con rõ ràng thường biết, nói không thể đến." Tổ
nói: "Ðây là chỗ truyền của chư Phật, chớ có hoài nghi."
Như vậy, Tổ đã chỉ cho chúng ta cái chân thật đó. Cái
đó nói ai cũng có, chỉ vì mình không khéo nhận mà chỉ nhận
cái bóng của sáu trần. Khi ngài nói:
"Dứt hết các duyên",
tức là cái tâm duyên theo cảnh theo bóng dáng sáu trần.
Khi
quý Phật Tử tập ngồi thiền, có những lúc mà tâm mình
lặng, nếu không phải là mơ ngủ thì lúc đó mình có thấy,
có nghe và có biết mình đang lặng hay không? Mắt vẫn thấy,
tai vẫn nghe, và đang biết mình lặng thì đúng là "rõ ràng
thường biết". Ðâu phải đợi tới có cái động, tâm dấy
lên rồi mới biết. Vậy rõ ràng là chúng ta có cái thường
biết hiển nhiên ở nơi chúng ta. Nhưng mà khổ thay mọi người
cứ đợi vọng tâm dấy lên mới cho là tâm mình, mới cho
là biết. Thì đã quên mất cái rõ ràng thầm lặng ở trong
rồi. Vì vậy cho nên chúng ta phải nhận cho ra mình có cái
rõ ràng thường biết đó, thì đó mới là "tĩnh giác". Nhận
lầm cái bóng duyên theo ngoại cảnh đó làm tâm mình thì là
mê. Mà nhận chân được cái thật được gọi là giác. Trong
nhà thiền gọi đó là "Kiến Tánh", tức là thấy được bản
tánh bất sinh bất diệt của mình. Chữ "thấy" không phải
là mắt thấy mà là nhận ra rõ ràng như vậy.
Bây
giờ quý vị biết mình đã có cái tâm đó, thì phải tin cho
sâu, nhận cho kỹ. Ðể nhận cho sâu cho đúng, tôi dẫn lời
của tổ Bá Trượng. Khi ngài Thần Tán Học với tổ Bá Trượng
trở về chùa với thầy, thì ông thầy tu theo kinh, chỉ biết
tụng kinh thôi. Còn ông đệ tử ngộ được lý thiền, không
biết làm sao cho thầy mau tỉnh. Ông lấy giấy dán lên cửa.
Ở trong có con ong bay ra, thấy giấy trắng nó cứ chui đầu
vào miếng giấy mà không chịu bay ra cửa trống. Ông mới
làm bài thơ châm biếm ông thầy bằng hình ảnh con ong chui
đầu vào giấy. Ðại ý là cửa trống mà không chịu ra, chui
đầu vào giấy biết đời nào ra khỏi. Ông thầy nghe thì
hơi bực, nhưng cũng lấy làm lạ mới hỏi: "Chú mày đi
học đạo mấy năm nay được gì mà sao nói năng lạ vậy?"
Ngài Thần Tán nói rằng đã được tổ Bá Trượng chỉ cho
một con đường tu hành. Ông thầy cũng bỏ qua.
Ngày
kia ông thầy đi tắm, đệ tử mới kỳ lưng giùm. Trong lúc
kỳ lưng thì ông đệ tử vỗ vỗ sau lưng mà nói: "Ðiện
Phật đẹp mà Phật không có thánh!" (Không có thánh tức
là không có sáng.) Ông thầy ngó lại hỏi: "Chú mầy nói
cái gì?" Nói: "Tuy Phật không sáng mà biết phóng quang."
Ông thầy nói: "Ngày mai để hội chúng lại, để chú mày
lên giảng cho tôi nghe coi." Thì hôm sau, thầy làm thính
giả ngồi ở dưới, còn đệ tử lên trần tọa ngồi giảng.
Bài giảng đầu tiên của ông là dẫn lời ngài Bá Trượng:
Linh
quang độc chiếu
Siêu
xuất căn trần
Thể
hiện chân thường
Bất
câu văn tự
Tâm
tánh vô nhiễm
Bổn
tự viên thành
Ðản
ly vọng duyên
Tức
như như Phật
Qua
câu đó rồi ông thầy giác ngộ. Ông nói: "Tôi chưa bao
giờ được nghe giáo lý tuyệt vời như vậy." Linh quang
độc chiếu nghĩa là cái sáng suốt long lanh chiếu rọi,
có khác gì nói có hòn ngọc báu ở trong. Siêu xuất căn
trần tức là vượt khỏi sáu căn trần, sáu căn thuộc
về cái thân, là tướng sinh diệt, sáu trần thuộc về duyên
hợp, mà duyên hợp cũng là tướng sinh diệt. Cho nên cái này
vượt khỏi cả căn và trần vì nó không phải sinh diệt.
Thể hiện chân thường nghĩa là ở trong đó hiện bầy
cái chân thường. Bất câu văn tự là nó không thuộc
về chữ nghĩa. Tâm tánh vô nhiễm là cái tánh của tâm
không bị nhiễm, nói cái tánh của tâm để chỉ cái tâm chân
thật, không phải chỉ cái tâm phân biệt hư dối. Tâm chân
thật không nhiễm vì vậy mà Lục Tổ khi giác ngộ có nói
bài kệ sau đây:
Bản
lai vô nhất vật
Hà
xứ nhạ trần ai
Nghĩa
là xưa nay nó không phải một vật nào, thì chỗ nào mà dính
bụi bậm? Tức là không nhiễm.
Bổn
tự viên thành, vốn tự tròn đủ nghĩa là nó tự tròn
đủ chứ không thiếu thốn gì hết. Ðản ly vọng duyên
và Tức như như Phật, hai câu này có nghĩa là muốn
sống với tâm tánh không nhiễm đó thì lìa các vọng duyên
(tức là cái tâm hư dối), lúc đó gọi là "như như Phật".
Phật là giác, như như là lặng lẽ, tức là cái biết lặng
lẽ, hay là chân tâm.
Như
vậy, ngài Bá Trượng chỉ cho thấy mọi người chúng ta có
cái chân thật. Cái chân thật đó sáng suốt, siêu xuất cả
sáu căn trần, luôn luôn hiển bầy tướng chân thật mà không
vướng kẹt trong văn hay chữ. Bản tính đó lại không ô nhiễm.
Nó tự tròn đủ. Muốn sống với nó chỉ cầm lìa các vọng
duyên thì tự nó như như Phật. Như vậy thì tìm Phật khó
hay dễ? Chỉ chịu khó lìa vọng duyên là được. Nói như
vậy thì đường tu không phải xa mà cũng không phải khó.
Xa hay khó là tại ta chưa chịu lìa vọng duyên, chứ lìa được
thì như như Phật.
Ðể
cho quý vị thấy rõ hơn, tôi sẽ dẫn một đoạn trong Tín
Tâm Minh, Tổ Tăng Xáng có dạy:
Nhãn
nhược bất thụy
Chư
mộng tự trừ
Tâm
nhược bất dị
Vạn
pháp nhất như
Nhãn
nhược bất thụy, mắt mà nếu không ngủ, thì chư mộng
tự trừ, tức là mộng không hiện ra. Tâm nhược bất
dị và vạn pháp nhất như là tâm mà không có khác
nghĩa là không có dấy niệm thứ hai hoặc thứ ba nào, chỉ
có một cái "rõ ràng thường biết" mà không có dấy niệm
nào khác thì muôn pháp là nhất, là như. Không khởi niệm
là ví dụ cho con mắt không ngủ, mà mắt không ngủ thì đâu
có thấy mộng. Mà nếu dấy niệm như con mắt ngủ thì muôn
pháp thiên thai vạn biệt, là mộng này hết tới mộng kia.
Như vậy, muốn hết mộng thì chịu khó mở mắt. Muốn cho
tâm cảnh nhất như thì đừng khởi niệm. Không có niệm khác
thì là nhất như. Thí dụ khi ngồi nhìn trời nhìn mây mà
không có một niệm nào hết, thì trời mây có phân biệt cái
này đẹp cái kia xấu, hay cái này tên A cái kia tên B gì không?
Vì
vậy chủ yếu của người tu là phải biết rõ làm sao biết
rõ cái chân thật, đừng chạy theo vọng tưởng. Vọng tưởng
lặng rồi thì muôn pháp nhất như. Chứ không phải nhồi uốn
muôn pháp để trở thành một khối nhất như. Do đó ở đây
nói "Tâm nhược bất dị, vạn pháp nhất như" thì chẳng khác
ở trên tổ Bá Trượng nói "Ðản ly vọng duyên, tức như
như Phật."
Cũng
trong Tín Tâm Minh có đoạn ngài nói:
Viên
đồng thái hư
Vô
khiếm vô dư
Nhân
do thủ xả
Sở
dĩ bất như
Nghĩa
là mình có thể tánh, tánh đó tròn bằng hư không (thái hư
là trùm cả hư không.) Vô khiếm vô dư tức là không thừa
không thiếu. Hư không tới đâu thì tâm thể mình tới đó.
Vì tâm thể mình không tướng mà hư không cũng không tướng.
Nhân do thủ xả, sở dĩ bất như; thủ là lấy, xả là bỏ,
bởi mình có lấy có bỏ nên không được như. Nếu có lấy
có bỏ, tức là tâm có khác, có "dị" rồi. Mà tâm đã "dị"
thì vạn pháp đâu có "nhất như." Nếu bỏ cái "thủ xả"
thì sẽ được "như". Thì ta thấy tất cả niệm khởi lên
là theo hai bên - thủ hoặc xả, khen hoặc chê, có hay không.
Vì vậy cho nên còn chấp hai bên là tâm không như. Vừa dấy
niệm là đều nằm trong cái "hai bên", nếu niệm lặng xuống
thì là không hai. Ðo là chỗ thìết yếu phải thấy cho thật
rõ.
Khi
kết thúc Tín tâm Minh, tổ có nói: "Tín tâm bất nhị, bất
nhị tín tâm". Tín tâm thì không hai, không hai là tín tâm.
Thì ta tin tâm chưa? Nếu còn thấy hai là chưa tin. Chữ tin
ở đây không phải tin là biết có cái đó. Chữ tin này là
tin nhận là mình nhận được cái tâm chân thật. Mà muốn
nhận được tâm chân thật là tin tâm không còn thấy hai.
Còn có hai là không bao giờ nhận được tâm chân thật.
Vì
vậy nên ngài kết luận là "Tín tâm bất nhị, bất nhị
tín tâm." Bởi vì cái tâm chân thật đó là không có niệm.
Mà dấy niệm tức là hai. Muốn nhận nó thì phải đừng dấy
niệm. Cho nên các chư tổ ngày xưa, khi mình dấy niệm hỏi
cái gì có tính cách đối đãi thì đều bị ăn đòn. Chính
là để tập cho mình đặng thấy đó là cái lỗi, đừng chạy
theo nó nữa. Nếu không theo hai nữa thì mới tin được tâm,
tâm đó là tâm Phật. Nếu tin được tâm đó tức là tin được
ông Phật của mình. Tin được Phật mình, nhận được Phật
mình thì sớm muộn cũng thành Phật. Cho nên nói Kiến Tánh
Thành Phật, mà ai tu lại không muốn thành Phật. Mà muốn
được thành Phật thì phải tin nhận cái tâm của mình, thì
phải đừng bị cái vọng tưởng dẫn dắt.
Bây
giờ tôi dẫn trong kinh Chứng Ðạo Ca một đoạn cho quý vị
thấy cũng y như vậy.
Thể
nhược hư không vô nhai ngạn
Bất
ly đương xứ thường trạm nhiên
Mịch
tức trí quân bất khả kiến
Nghĩa
là cái tâm thể đó giống như hư không, không có bờ bến.
Làm sao sống được cái thể đó và làm sao mà biết được
cái thể đó? "Bất ly đương xứ thường trạm nhiên" nghĩa
là không rời ngay chỗ này, mà nó thường lặng lẽ. Ngay chỗ
này tức là chỗ ta đang ngồi có cái lặng lẽ, tức là có
ông Phật hiện lên. Thì như vậy đâu có phải chạy đi tìm
ở đâu, mà ngay ở đây có ông Phật hiện tiền rồi. "Mịch
tức tri quân bất khả kiến" là khởi cái niệm tìm thì mất
tiêu, không bao giờ thấy ông Phật đó. Lặng lẽ ngồi yên
như vậy thì ông Phật hiện tiền, giờ dấy niệm tìm thì
mất tiêu. Mới thấy cái tâm thể của mình là trùm khắp
mà cái vọng tưởng của mình lại giới hạn trong con người.
Khi ta nghĩ về cái cây thì vọng tưởng chỉ duyên theo bóng
của cái câỵ Nó có giới hạn, nghĩ cái đó rồi nó mất.
Thì
như vậy, cái tưởng giới hạn và tạm bợ mà ta cho nó là
mình. Còn cái tâm thể trùm cả hư không chưa bao giờ sinh
diệt mình đã lại quên. Ðó là điều thật đáng thương
cho chúng ta. Bỏ cái chân thật, chạy theo cái hư dối để
rồi lẫn lộn trong vòng luân hồi sinh tử. Bởi vậy cho nên
chư Phật, chư Tổ thương xót ra đời chỉ cho mình điều
đó. Nhưng mình không chịu làm theo lời Phật dạy. Như vậy
Phật, Tổ phụ mình hay là mình phụ Phật, Tổ? Như vậy mới
thấy chúng ta là người quý kính Phật, mà vô tình chúng ta
bỏ rơi Phật. Công ơn Phật chỉ cho chúng ta, chúng ta không
cố gắng thực hiện mà chúng ta đành bỏ qua để rồi sống
với cái cuồng loạn của chúng ta. Bởi vậy cho nên mình hiếu
đạo để mà tu, chớ không phải để mà nói.
Chúng
ta làm sao ứng dụng được những điều Phật tổ dậy dỗ
để mình trở lại cái tâm chân thật của mình. Hãy nhớ
cái thân này là tứ đại hòa hợp, cái tâm vọng tưởng đó
là duyên theo bóng dáng sáu trần. Mà cái gì hợp thì cái đó
phải tan, cái duyên theo bóng dáng là cái hư dối, cái sẽ
tan và cái hư dối lại chấp thiệt là mình. Còn cái chưa
bao giờ sinh diệt trùm cả hư không mà mình lại bỏ quên.
Như vậy có chăng đúng như trong kinh Pháp Hoa mà nói chàng
Cùng Tử lẽ ra nhận mình là con ông trưởng giả thì kho báu
đầy nhà, mà lại không chịu nhận, đi hốt phân sống qua
ngày. Hình ảnh đó mới nói lên cái tâm điên khùng của chúng
ta. Có cái chân thật chúng ta có quyền hưởng trọn vẹn mà
không chịu hưởng để rồi đi nhận một cái rất là tầm
thường mà hài lòng, mà hãnh diện.
Như
vậy những người chạy theo cái tầm thường mà lại hãnh
diện thì ta thấy họ thật là đáng thương. Nếu họ ngồi
ăn một mân cơm đầy những thứ cao lương mỹ vị thì khi
mới nhìn thấy họ sang, họ ăn ngon. Nhưng mà lúc đầy bụng
khó tiêu rồi mới thấy khổ, rồi một lát ra hôi hám, có
gì đâu! Vậy mà hài lòng, vậy mà quý kính. Ðó thật là
khờ dại. Còn cái chân thật thanh tịnh sẵn sàng đó mà lại
bỏ quên. Như vậy chúng ta tu cốt là phải trở về cái chân
thật đó, sống được với cái chân thật đó mới là biết
đạo, mới thật là người tu. Chứ còn chạy theo cái bóng
dáng bên ngoài, dù được bao nhiêu, dù hay bao nhiêu cũng là
ảo ảnh mà thôị cái chân thật đó gọi là chân tâm hay
là Phật Tánh.
Ðể
kết luận, tôi sẽ nhắc lại bài kệ của cư sĩ Bàng Long
Uẩn:
Ðản
tự vô tâm ủ vạn vật
Hà
phóng vạn vật thường vi nhiễu
Thiết
ngưu bất hạ sư tử hống
Kháp
tỏ mộc nhân khán họa điểu
Mộc
nhân bản thể tự vô tình
Họa
điểu phùng nhân diệc bất kinh
Tâm
cảnh như như chỉ giá thị
Hà
lư bồ đề đạo bất thành
Tôi
tạm dịch:
Chỉ
tự vô tâm cùng vạn vật;
ngại
gì vạn vật thường quấy nhiễu;
trâu
sắt sợ gì sư tử rống;
giống
như người gỗ xem chim vẽ;
người
gỗ bản thể tự vô tình;
chim
vẽ gặp người cũng chẳng kinh;
tâm
cảnh như như chỉ thể ấy;
nào
sợ bồ đề đạo chẳng thành.
Mở
đầu bằng câu "Chỉ tự vô tâm cùng vạn vật", vô
tâm đó là vô cái tâm mà Ðức Phật bảo các Tỳ Kheo "Ðừng
tin tâm các ông." Vô tâm đó là vô cái "tâm vọng tưởng
điên đảo", thì chỉ tự vô tâm cùng vạn vật, tức là không
có cái tâm điên đảo chạy theo muôn vật. Thì ngại gì vạn
vật thường quấy nhiễu. Thì ngại gì nói rằng cái này cái
kia nó vây quanh tôi làm tôi tu không được. Thí dụ trước
mình có một món đồ quý, món đồ quý người ta để trước
mắt mình thì nó là nó, mình là mình. Chứ đâu phải tại
cái món đồ quý này mà tôi tu không được. Lại nói tại
tôi thấy nó tôi tham, tôi tham nên tôi tu không được. Chứ
đồ quý là đồ quý, mình là mình, đừng có dấy niệm tham
thì có gì đâu mà tu không được. Rồi qua những tiếng khen
tiếng chê, thì tiếng khen tiếng chê qua rồi nó mất, mình
đừng thèm quan trọng nó, đừng thèm dính tới nó thì có
gì đâu mà tu không được. Nhưng mà được người ta khen
thì cứ nhớ hoài, bị người ta chê thì cứ giận hoài thì
như vậy tu không được. Tu không được là tại mình giữ
nó lại, mình duyên nó mãi thì tu không được. Chứ nếu nó
qua rồi thì qua như gió thổi, như những tiếng pháo nổ. Qua
rồi thì có gì đâu mà tu không được.
Như
vậy tu không được là tại cái nào? Tại hữu tâm với vạn
vật đó phải không? Hữu tâm, thế gian gọi là hữu tình.
Thấy cái gì cũng cột cũng níu ở trong đó cho nên rồi đổ
thừa cái này cái kia "mấy cái đó làm lăng xăng cho nên
tôi tu không được." Mà hỏi trên thế gian này đứng chỗ
nào mà không có cái lăng xăng? Thì chỗ nào cũng có lăng xăng.
Nếu mình đừng chạy theo nó thì hết lăng xăng. Cho nên ông
đưa ra hai câu: "Chỉ tự vô tâm cùng vạn vật" và "Ngại
gì vạn vật thường quấy nhiễu." Nó không quấy nhiễu mình
nếu mình không có tâm với nó. Còn nếu mình có tâm với
nó thì đổ thừa tại nó quấy nhiễu mình. Rồi ngài dùng
thí dụ "Con trâu sắt không sợ sư tử rống." Bởi vì khi
sư tử rống lên thì trâu hay voi cũng phải chạy hết. Bây
giờ gặp phải con trâu sắt, cho dầu sư tử rống tới đâu,
trâu sắt cũng không sợ. Ðó là thí dụ thứ nhất. Thí dụ
thứ nhì giống như người gỗ xem chim vẽ. Người gỗ mà
đứng nhìn con chim vẽ thì hai cái đó ra sao? Ở đây ngài
nói người gỗ bản thể tự vô tình. Người gỗ đâu có
tình, rồi chim vẽ gặp người cũng chẳng kinh. Nó thấy người
gỗ nó cũng chẳng sợ.
Ba
hình ảnh con trâu sắt, người gỗ và con chim vẽ, cả ba đều
không sợ ai hết. Không sợ là sao? Là tại nó vô tình vô
tâm. Mình nếu được vô tâm với vạn vật thì không có cái
gì, vật nào có thể quấy nhiễu mình được. Ngài kết thúc
bằng hai câu:
Tâm
cảnh như như chỉ thể ấy
Nào
sợ bồ đề đạo chẳng thành
Tức
là đối với cảnh, tâm mình nó như như không có chạy theo,
thì nào sợ bồ đề đạo chẳng thành! Nếu tâm mình không
chạy theo cảnh, thì đừng có lo không thành đạo bồ đề,
mai chiều sẽ thành chứ không có lo gì hết. Sở dĩ mình không
thành đạo bồ đề là tại cái tâm mình chạy theo cảnh.
Nếu tâm không chạy theo cảnh thì tâm cảnh dều như như.
Tâm cảnh như như thì đạo bồ đề hiện tiền chứ không
phải kiếm đâu nữa hết.
Như
vậy để thấy rằng chư Phật, chư Tổ đều chỉ rõ chỗ
yếu điểm tu hành cho mình đó. Cái yếu điểm đó là tâm
đừng chạy theo cảnh. Tâm không chạy theo cảnh thì tâm
cảnh như như. Mà tâm cảnh như như thì đó là đạo bồ đề
hiện tiền. Như vậy khi muốn thành Phật, Phật cũng hiện
ra trước mắt. Còn mình nóng tìm kiếm mà tâm cứ động hoài
thì không bao giờ thấy Phật. Vì vậy cho nên mong rằng qua
năm mới tất cả tăng ni phật tử chúng ta, kể cả tôi nữa,
đều nỗ lực cố gắng tu hành. Mà tu hành ở đây không có
nghĩa là chúng ta phải lậy một ngày vạn Phật hay là sám
hối ngày mười thời, mà chúng ta phải đừng để tâm chạy
theo cảnh. Tâm và cảnh được như như đó là yếu tố chúng
ta không có phụ công ơn Phật, Tổ và các vị Thiện Trí Thức
đã chỉ dậy chúng ta. Như vậy mới xứng đáng con giòng họ
Thích, mới không hổ thẹn xưng ta là Thích Tử. Chứ còn để
tâm rong ruổi theo vọng cảnh thì dẫu chúng ta thương Phật
thế mấy cũng không gặp được Phật.
Thiền
viện Chân Không, Vũng Tầu
Xuân
Bính Dần, 1986.
Thích
Thanh Từ