CHƯƠNG HAI
TRÍCH DỊCH
VỀ LỜI DẠY CỦA ÐỨC PHẬT
PHẨM 1 : ÐẤU
TRANH VÀ HÒA HỢP
Thế Tôn chỉ
cho chúng ta rõ các dục là nguồn gốc của đấu tranh, kháng
tranh, xung đột và chiến tranh.
"Một nguyên nhân
nữa của đấu tranh và xung đột là sự so sánh giữa mình
và người, xem các người khác là bằng mình, hay hơn mình
hay thua mình".
Một phương pháp
làm lắng dịu các tranh luận là sự ý thức, chính tại đây,
"trong tranh luận này, chúng ta đều tàn hại".
Có một trường
hợp này thật là bẽ bàng, như đức Phật đã nêu rõ, là
một người đến phỉ báng người không có phỉ báng, nhiếc
mắng người không có nhiếc mắng, gây sự với người không
có gây sự. Tất cả sự phỉ báng, nhiếc mắng ấy tự nhiên
trở lui lại cho người đã nhiếc mắng. Cũng như đồ ăn
được đưa mời mà người được mời không chấp nhận,
thời món ăn sẽ trở lại với người chủ của nó.
Thái độ đức
Phật đối với tranh luận rất rõ ràng. Ngài không có tranh
luận với ai ở đời. Ngài thuyết pháp chỉ với mục đích
nêu lên con đường chấm dứt khổ đau. Ngài không bao giờ
tự cho chỉ có Pháp của Ngài là sự thật, ngoài ra đều
là hư vọng. Ngài giải thích Pháp của Ngài rõ ràng cho mọi
người đến để xem để thấy và để tự mình phê phán.
Phương pháp hay
nhất để tránh xa các tranh luận và xung đột, đức Phật
khuyên chúng ta, là đừng có khởi lên các hý luận, vọng
tưởng, các tà kiến. Và trong trường hợp chúng có khởi
lên, thời thái độ tốt nhất là chớ hoan hỷ, đón mừng
và chấp thủ chúng. Thái độ này sẽ chấm dứt đấu tranh,
xung đột, chiến tranh và các pháp bất thiện.
Chiến tranh nào
cũng đem đến đau khổ vô lượng vô biên. Chiến thắng sanh
thù oán, bại trận nếm khổ đau. Cho nên phương pháp hay nhất
là đừng dùng chiến tranh để giải quyết các xung đột,
nhưng phải tìm mọi phương tiện hòa bình để chấm dứt
các bất đồng ý kiến và các xung đột.
Do vậy các bậc
Thánh đã từ bỏ gia đình, sẽ không tạo nên các trói buộc
mới. Các vị này chấm dứt mọi tranh luận, bất cứ với
một ai.
* * *
"Lại nữa, này
các Tỷ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm
nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua,
Sát-đế-lỵ tranh đoạt với Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn tranh
đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ; mẹ
tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ; cha tranh đoạt
với con, con tranh đoạt với cha; anh em tranh đoạt với anh
em; anh tranh đoạt với chị; chị tranh đoạt với anh; bạn
bè tranh đoạt với bạn bè. Khi chúng dấn mình vào tranh chấp,
tranh luận, tranh đoạt, chúng tấn công nhau bằng tay, chúng
tấn công nhau bằng gạch đá, chúng tấn công nhau bằng gậy
gộc, chúng tấn công nhau bằng đao kiếm. Ở đây, chúng đi
đến tử vong, đi đến đau khổ gần như tử vong". (Trung Bộ
I. 87)
"Lại nữa, này
các Tỷ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm
nguyên nhân, do chính dục làm nhân, chúng cầm mâu và thuẫn,
chúng đeo cung và tên, chúng dàn trận hai mặt và tên được
nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung
chém nhau. Chúng bắn, đâm nhau bằng tên, chúng quăng, đâm
nhau bằng đao, chúng chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây, chúng
đi đến tử vong, đi đến đau khổ gần như tử vong". (Trung
Bộ I. 87A)
"Bằng, thắng
hay thua Ta,
Nghĩ vậy đấu
tranh khởi,
Cả ba không dao
động,
Bằng, thắng
không khởi lên". (Tương Ưng I. 15)
"Người khác không
hiểu biết,
Chúng ta đây
(Trong tranh luận này) suy vong.
Ai hiểu biết
chỗ ấy,
Tranh luận được
lắng êm". (Pháp Cú. 6)
"Phẫn nộ, không
hoan hỷ, Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja đi đến Thế Tôn, sau
khi đến nói những lời không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng
và nhiếc mắng Thế Tôn. Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói
với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja: -"Này Bà-la-môn, Ông nghĩ
thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến
viếng thăm Ông không?" - "Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng
các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng
thăm tôi" - "Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa
soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại
đồ nếm không?" - "Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi
sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các
loại đồ nếm". - "Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu
nhận, thời các món ăn ấy về ai?" - "Thưa Tôn giả Gotama,
nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng
tôi".
"Cũng vậy, này
Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ
báng, nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng, xỉ
vả chúng tôi là người không xỉ vả, chúng tôi không thâu
nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc
ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại
Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc
mắng lại khi bị nhiếc mắng, xỉ vả lại khi bị xỉ vả,
thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã
hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng
hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ việc
ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, tất cả sự việc ấy về
lại với Ông và tất cả sự việc ấy chỉ về lại Ông
mà thôi". (Tương Ưng I. 199)
"Này Hiền giả,
theo lời dạy của Ta, trong thế giới với chư Thiên, Mara và
Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và
loài Người, không có tranh luận với ai ở đời". (Trung Bộ
I. 109A)
"Này Tỷ-kheo,
do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám
ảnh một người, nếu ở đây không có gì đáng hoan hỷ,
đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn
tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn
tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn
tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu ái tùy miên, sự đoạn
tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng chấp kiếm,
đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ,
vọng ngữ. Chính ở nơi đây, những ác bất thiện pháp này
đều được tiêu diệt, không còn dư tàn". (Trung Bộ I. 110)
"Thắng trận sanh
thù oán,
Bại trận nếm
khổ đau,
Ai bỏ thắng,
bỏ bại,
Tịch tịnh hưởng
an lạc". (Tương Ưng I. 102)
"Bậc Thánh bỏ
gia đình,
Du hành không
trú xứ;
Ðối với dân
trong làng,
Không tác thành
hệ lụy.
Tuyệt không các
dục vọng,
Không ước vọng
hão huyền,
Chấm dứt mọi
tranh luận,
Bất cứ với
một ai". (Tương Ưng III. 14)
PHẨM 2 : SÂN
HẬN VÀ NHU HÒA
Sân hận hành
động như một cái kềm siết chặt những ai rơi vào sự chi
phối của sân hận, và được xem là gây tai hại cho người
đời.
Cho nên, tốt hơn
là đừng nói lời thô ác đối với bất cứ ai, vì lời nói
thô ác đem lại những lời thù hận và cho đến đao trượng
chạm người.
Cho đến thiên
chủ Ðế Thích cũng khuyên chớ nên phẫn nộ, vì phẫn nộ
nghiền người ác, như núi đá nghiền người.
Do vậy, bậc có
trí "nhiếp phục giận với không giận".
Những ai xứng
đáng với danh xưng Bà-la-môn, phải thân thiện giữa thù địch,
ôn hòa giữa hung hăng.
Ai chận được
cơn giận đang nổi lên mới xứng đáng là bậc đánh xe, còn
kẻ khác không làm được vậy, chỉ đáng gọi là người
cầm cương hờ.
Thiên chủ Ðế
Thích khuyên chư Thiên chớ để phẫn nộ nhiếp phục, chớ
để lòng sân chống đối sân hận, vì không phẫn nộ thì
không làm hại mình, hại người, hại cả hai.
Bậc trí đã nhổ
tận gốc phẫn nộ xứng đáng được tôn xưng là bậc Hiền
thiện.
Người không phẫn
nộ thật sự là người hòa bình. Tệ hơn cả hai là người
bị mắng, lại mắng trả. Vị chiến thắng cả hai, chiến
thắng mình và chiến thắng người, khi vị ấy tự chế, không
mắng lại.
* * *
"Lửa nào bằng lửa
tham,
Chấp nào bằng
sân hận,
Lưới nào bằng
lưới si,
Sông nào bằng
sông ái". (Pháp Cú. 251)
"Cỏ làm hại
ruộng vườn,
Sân hận hại
người đời,
Bố thí người
lìa sân,
Do vậy được
quả lớn". (Pháp Cú. 357)
"Chớ nói lời
ác độc,
Nói ác, bị nói
lại,
Khổ thay lời
phẫn nộ,
Ðao trượng phải
chạm người". (Pháp Cú. 133)
"Này các Tỷ-kheo,
thuở xưa, thiên chủ Ðế Thích tại Thiện pháp đường, muốn
làm lắng dịu chư Thiên ở cõi Ba mươi ba, lúc ấy nói lên
bài kệ này:
"Hãy nhiếp phục
phẫn nộ,
Giữ tình bạn
không phai,
Không đáng mắng,
chớ mắng,
Không nên nói
hai lưỡi,
Phẫn nộ nghiền
người ác,
Như núi đá nghiền
người". (Tương Ưng I. 305)
"Lấy không giận
thắng giận,
Lấy thiện thắng
không thiện,
Lấy thí thắng
xan tham,
Lấy chơn thắng
hư ngụy". (Pháp Cú. 223)
"Thân thiện giữa
thù địch,
Ôn hòa giữa
hung hăng,
Không nhiễm giữa
nhiễm trước,
Ta gọi Bà-la-môn".
(Pháp Cú. 406)
"Ai chận được
cơn giận,
Như dừng xe đang
lăn,
Ta gọi người
đánh xe,
Kẻ khác, cầm
cương hờ". (Pháp Cú. 222)
Này các Tỷ-kheo,
thuở xưa thiên chủ Ðế Thích, tại Thiện pháp đường, muốn
làm lắng dịu chư Thiên ở cõi Ba mươi ba, lúc ấy nói lên
bài kệ này:
"Chớ để lòng
phẫn nộ,
Nhiếp phục chi
phối ông.
Chớ để lòng
sân hận,
Ðối trị với
sân hận.
Không phẫn nộ,
vô hại,
Bậc Thánh thường
an trú.
Phẫn nộ nghiền
người ác,
Như núi đá nghiền
người". (Tương Ưng I. 305)
"Chỉ ai đã cắt
tiệt,
Nhổ tận gốc,
đoạn trừ,
Người trí ấy
diệt sân,
Ðược gọi người
Hiền thiện". (Pháp Cú. 263)
"Với vị không
phẫn nộ,
Phẫn nộ từ
đâu đến?
Sống chế ngự,
chánh mạng,
Giải thoát nhờ
chánh trí,
Vị ấy sống
như vậy,
Ðời sống được
tịch tịnh.
Bị mắng phỉ
báng lại,
Tệ hơn cả hai
người,
Những ai bị
phỉ báng,
Không phỉ báng
chống lại,
Người ấy đủ
thắng trận,
Thắng cho mình,
cho người
Vị ấy tìm lợi
ích,
Cho cả mình và
người.
Và kẻ đã phỉ
báng,
Tự hiểu, lắng
nguôi đầu". (Tương Ưng I, 200)
PHẨM 3: LÀM
HẠI VÀ KHÔNG LÀM HẠI
Hại người không
làm hại ai, chẳng khác ngược gió tung bụi, với kết quả
là tự mình phải chịu kết quả hành động của mình.
Ðức Phật trong
khi quan sát tâm trí của mọi loài chúng sanh đã tuyên bố
rằng, mọi loài thương tự ngã của mình là tối thượng.
Nếu chúng ta thương tự ngã của chúng ta, chớ có làm hại
tự ngã của người. Mọi loài cầu an lạc. Hại người để
cầu an lạc cho mình thật là hạ sách. Ðừng hại người
mới là thượng sách đem lại hạnh phúc cho mình. Ðối với
đức Phật, chỉ những ai thật sự không làm hại một ai,
mới xứng danh là vị "Bất hại".
Bậc Thánh, bậc
có trí không hại một chúng sanh nào. Hành động các vị ấy,
thân nghiệp, khẩu nghiệp hay ý nghiệp hoàn toàn bất hại.
Ðó là lý do tại sao các vị ấy được gọi là các bậc
Thánh.
* * *
"Vì nghĩ đến tư
lợi,
Nên mới cướp
hại người,
Khi người khác
cướp hại;
Bị hại, lại
hại người.
Người ngu nghĩ
như vậy,
Khi ác chưa chín
muồi;
Khi ác đã chín
muồi,
Người ngu chịu
khổ đau.
Sát người bị
người sát;
Thắng người
bị người thắng;
Mắng người,
người mắng lại;
Não người, người
não lại.
Do nghiệp lực
diễn tiến,
Bị hại, lại
hại người". (Tương Ưng I. 103)
"Không xúc, không
có chạm,
Có xúc thời
có chạm,
Nếu hại người
không hại,
Tức có xúc,
có chạm.
Ai hại người
không hại,
Người tịnh
không ô nhiễm,
Kẻ ngu hái quả
ác,
Như ngược gió
tung bụi". (Tương Ưng I. 16)
"Tâm ta đi cùng
khắp.
Tất cả mọi
phương trời,
Cũng không tìm
thấy được,
Ai thân hơn tự
ngã.
Tự ngã đối
mọi người,
Quá thân ái như
vậy,
Vậy ai yêu tự
ngã,
Chớ hại tự
ngã người". (Tương Ưng I. 92)
"Chúng sanh cầu
an lạc,
Ai dùng trượng
hại người,
Tìm an lạc cho
mình,
Ðời sau không
được lạc". (Pháp Cú. 131)
"Chúng sanh cầu
an lạc,
Không dùng trượng
hại người,
Tìm an lạc cho
mình,
Ðời sau được
hưởng lạc". (Pháp Cú. 132)
Bà-la-môn Ahimsaka
thưa với đức Phật: "Con là Ahimsaka, thưa Tôn giả Gotama.
Con là Ahimsaka, thưa Tôn giả Gotama". Ðức Phật nói lên bài
kệ với Bà-la-môn:
"Danh phải tương
xứng người,
Người phải
là bất hại.
Ai với thân,
khẩu, ý,
Không làm hại
một ai.
Ai không hại
người khác,
Người ấy thật
Bất hại". (Tương Ưng I. 203)
"Còn sát hại
sinh linh,
Ðâu được gọi
Hiền Thánh.
Không hại mọi
chúng sanh,
Mới được gọi
Hiền Thánh". (Pháp Cú. 270)
"Ai sống tự trang
sức,
Nhưng an tịnh
nhiếp phục.
Sống kiên trì
Phạm hạnh,
Không hại mọi
sanh linh.
Vị ấy là Phạm
chí,
Hay Sa-môn, khất
sĩ". (Pháp Cú. 142)
"Bậc Hiền không
hại ai,
Thân thường
được chế ngự,
Ðạt được
cảnh bất tử,
Ðến đấy không
ưu sầu". (Pháp Cú. 225)
PHẨM 4 : HẬN
THÙ VÀ THÂN HỮU
Ðức Phật tuyên
bố rất rõ ràng rằng, một tâm đầy những hận thù và thù
địch, người như vậy không thể hiểu một cách tốt đẹp,
không thể nói một cách tốt đẹp. Một người ôm ấp nuôi
dưỡng sự bất mãn và uất hận sẽ không làm dịu bớt hận
thù của mình. Với niệm một mình, hận thù không có thể
trừ diệt. Chỉ với một tâm tư ngày đêm thích thú trong
bất hại và với lòng từ mẫn đối với tất cả loài hữu
tình, người như vậy mới có thể chấm dứt hận thù.
"Ðịnh luật ngàn
thu xác định hận thù không thể trừ diệt hận thù. Chỉ
có tình thương mới trừ diệt được hận thù. Do vậy, sung
sướng thay là đời sống của chúng ta, nếu chúng ta sống
không hận thù giữa những người thù hận".
Một người biết
cách tự nhiếp phục mình để chấm dứt mọi hận thù, mọi
thù địch, người như vậy đạt được Niết-bàn, vì rằng
ở Niết-bàn sẽ không có hận thù.
Ðức Phật, với
lòng từ thương tưởng mọi chúng sanh sẽ không thích thú
trong hận thù. Cho nên Ngài sẽ làm tất cả những gì có thể
làm được để làm vơi bớt, nhẹ bớt và chấm dứt mọi
thù địch và hận thù trong thế giới này.
* * *
"Tâm Ông thật
ô uế,
Và đầy những
thù hận,
Làm sao biết
tốt đẹp?
Làm sao nói tốt
đẹp?
Ai nhiếp phục
thù hận,
Nhiếp phục tâm
chống đối,
Từ bỏ mọi
hận tâm,
Vị ấy biết
tốt đẹp,
Vị ấy nói tốt
đẹp". (Tương Ưng I. 222)
"Nó thắng tôi,
đánh tôi,
Nó thắng tôi,
diệt tôi".
Ai ôm niềm hận
ấy,
Hận thù không
thể nguôi". (Pháp Cú. 3)
"Nó mắng tôi,
đánh tôi,
Nó thắng tôi,
diệt tôi".
Không ôm niềm
hận ấy,
Hận thù được
tự nguôi". (Pháp Cú. 4)
"Lành thay,
thường chánh niệm,
Nhờ niệm, lạc
tăng trưởng.
Có niệm, ngày
mai đẹp,
Hận thù được
giải thoát!"
(Thế Tôn) :
"Lành thay, thường
chánh niệm,
Nhờ niệm, lạc
tăng trưởng.
Có niệm, ngày
mai đẹp,
Hận thù chưa
giải thoát.
Với ai, trọn
ngày đêm,
Tâm ý lạc, bất
hại.
Từ tâm, mọi
hữu tình,
Vị ấy không
thù hận". (Tương Ưng I. 260)
"Hận thù diệt
hận thù,
Ðời này không
có được,
Không hận diệt
hận thù
Là định luật
ngàn thu". (Pháp Cú. 5)
"Vui thay, chúng
ta sống,
Không hận giữa
hận thù,
Giữa những người
thù hận,
Ta sống, không
hận thù". (Pháp Cú. 197)
"Không hận, hết
bổn phận,
Trì giới, không
tham ái,
Nhiếp phục thân
cuối cùng,
Ta gọi Bà-la-môn".
(Pháp Cú. 400)
"Nếu tự mình
yên lặng,
Như chiếc chuông
bị bể,
Ông đã chứng
Niết-bàn,
Ông không còn
sân hận". (Pháp Cú. 134)
PHẨM 5: SÁT
SANH VÀ TÔN TRỌNG SỰ SỐNG
Thế Tôn kính
trọng sự sống, bất cứ sự sống nào, cho đến sự sống
của côn trùng và sự sống của cỏ cây. Ngài tự mình thực
hành, không đổ các đồ ăn dư thừa của mình trên đám cỏ
xanh, hay nhận chìm trong nước có các loại côn trùng nhỏ.
Ðức Phật khuyên các đệ tử chớ có sát sanh để cúng dường
đức Phật và các đệ tử của Ngài, vì nếu làm vậy, chúng
tích lũy nhiều phi công đức.
Ngài trình bày
rõ ràng rằng, sát sanh đưa tới tái sanh trong địa ngục,
súc sanh, ngạ quỷ và quả báo nhẹ nhất của sát sanh là
sanh ra làm người với tuổi thọ ngắn. Lại nữa, sát hại
chúng sanh đem đến sự sợ hãi và hận thù trong hiện tại
và trong tương lai và làm sanh khởi tâm khổ, tâm ưu.
Do vậy, đức
Phật khuyên chớ nên sát sanh vì rằng mọi chúng sanh sợ hãi
hình phạt, đối với mọi loài hữu tình sự sống là quý
nhất trên đời. Giới thứ nhất của một cư sĩ phải thọ
trì là kính trọng sự sống, không sát hại chúng sanh. Và
một Bà-la-môn xứng đáng với danh xưng, một vị Thánh xứng
đáng với Thánh vị, phải thực hiện sự kính trọng đời
sống này một cách toàn diện và đầy đủ.
* * *
"Và còn lại đồ
ăn thừa này của Ta cần phải quăng bỏ. Nếu các Ông muốn,
hãy ăn. Nếu các Ông không muốn ăn; Ta sẽ quăng bỏ đồ
ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay Ta sẽ nhận chìm trong
nước không có các loại côn trùng". (Trung Bộ I. 13-13A)
"Này Jìvaka, nếu
người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai, giết hại sinh
vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm
nguyên nhân. Khi người ấy nói như sau: "Hãy đi và dắt con
thú này đến" đó là nguyên nhân thứ nhất, người ấy chất
chứa nhiều phi công đức. Con thú ấy khi bị bắt đi, vì
bị lôi kéo nơi cổ, nên cảm thọ khổ ưu, đó là nguyên
nhân thứ hai, người ấy chất chứa nhiều phi công đức.
Khi nó nói như sau: "Hãy đi và giết con thú này", đó là nguyên
nhân thứ ba, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi
con thú ấy bị giết cảm thọ khổ ưu, đây là nguyên nhân
thứ tư, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người
ấy cúng dường Như Lai hay đệ tử Như Lai một cách phi pháp,
đó là nguyên nhân thứ năm, người ấy chất chứa nhiều
phi công đức. Này Jìvaka nếu người nào vì Như Lai hay đệ
tử Như Lai giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa
nhiều phi công đức do năm nguyên nhân này". (Trung Bộ II. 371A)
"Này các Tỷ-kheo,
nếu sát sanh được thực hiện, được luyện tập, được
làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, sẽ đưa đến loài
bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức
nhẹ (sabbalahuso) của sát sinh, là được làm người với tuổi
thọ ngắn". (Tăng Chi III A. 230)
"Này Jìvaka, những
ai nói như sau: "Vì Sa-môn Gotama, chúng giết hại các sinh vật.
Và Sa-môn Gotama, tuy biết vẫn dùng các loại thịt được
giết vì mình, được làm cho mình", những người ấy không
nói chính lời của Ta, chúng xuyên tạc Ta, không như chân,
không như thật. Này Jìvaka Ta nói trong ba trường hợp, thịt
không được thọ dụng: Thấy, nghe và nghi (vì mình mà giết).
Ta nói ba trường hợp nầy thịt không được thọ dụng. Này
Jìvaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng:
Không thấy, không nghe, không nghi (vì mình mà giết). Này Jìvaka,
Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng". (Trung
Bộ II. 370)
"Này gia chủ,
sát sanh, do duyên sát sanh tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong
hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến
tâm cảm thọ khổ ưu. Từ bỏ sát sanh, không tạo ra sợ hãi
hận thù trong hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù trong
tương lai, không khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ
sát sanh làm lắng dịu sợ hãi hận thù này". (Tăng Chi III
B. 176)
"Mọi người
sợ hình phạt,
Mọi người sợ
tử vong.
Lấy mình làm
ví dụ,
Không giết, không
bảo giết". (Pháp Cú. 129)
"Ở đây, này các
Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Cho đến trọn
đời, các vị A-la-hán đoạn tận sát sinh, từ bỏ sát sinh,
bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương
xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Hôm nay, đêm này và ngày này. Ta cũng đoạn tận sát sanh,
từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có
lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng
sanh và loài hữu tình. Với chi phần này, ta theo gương vị
A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới". (Tăng Chi III. 232)
"Bỏ trượng
đối chúng sanh,
Yếu kém hay kiên
cường,
Không giết, không
bảo giết,
Ta gọi Bà-la-môn".
(Pháp Cú. 405)
"Ở đây, này các
Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận sát sinh, từ bỏ sát sinh.
Này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ sát sinh, đem (sự)
không sợ hãi cho vô lượng chúng sinh, đem (sự) không hận
thù cho vô lượng chúng sinh, đem (sự) không hại cho vô lượng
chúng sinh; sau khi cho vô lượng chúng sinh, không sợ hãi, không
hận thù, không hại, vị ấy sẽ được san sẻ vô lượng
không sợ hãi, không hận thù, không hại. Này các Tỷ-kheo,
đây là bố thí thứ nhất, là đại bố thí, được biết
là tối sơ, được biết là lâu ngày, không bị những Sa-môn,
Bà-la-môn có trí khinh thường". (Tăng Chi III. A. 229)