CUỘC
ĐỜI
THIỀN
SƯ CHÂN ĐẠO CHÁNH THỐNG
Cuộc
đời của thiền sư Chân Đạo Chánh Thống chúng tôi trình
bày chủ yếu dựa vào lời tựa do chính thiền sư viết ra
vào tháng giêng năm Quý Tỵ (1953), mà cả hai truyền bản hai
tập và ba tập đều có. Tuy nhiên, giữa bản chép của hai
tập này có một số xuất nhập về thời điểm và sự kiện.
Cho nên, chúng tôi phải dựa vào một số cứ liệu khác, cơ
bản là những cứ liệu lấy từ tạp chí Viên Âm có đăng
tác phẩm của thiền sư và những tác phẩm có trong Thủy
nguyệt tòng sao
Thiền
sư Chân Đạo Chánh Thống họ Nguyễn, người làng Trung Kiên
huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, sinh ngày 30 tháng chạp
năm Canh Tý, tức 18 tháng 2 năm 1901. Thân phụ là cụ Nguyễn
Thuyên và mẹ là bà Nguyễn Thị Chợ. Theo chính lời của
thiền sư thì đây là một gia đình Phật giáo thuần thành
nhiều đời, nhưng coi Nho giáo như một bộ phận thiết yếu
của đạo lý sống Phật giáo. Quan hệ giữa Phật giáo và
Nho giáo được chính thiền sư ghi lại như sau: “Tôi người
Trung Kiên tỉnh Quảng Trị, gia thế theo thiền, mà ông nội
cùng với cha đều rất hiểu sâu Nho học. Phép giữ nhà lại
rất nghiêm túc. Con cũng như cháu, nếu ai có chút bê trễ
về lễ giáo, liền bị la mắng tới chốn (…) May mắn là
nhà ta năm đời truyền cho nhau, đều lấy Khổng học làm
nền móng, lấy Phật pháp làm lâu đài. Bọn các con nếu không
kịp sớm nghiên cứu, thì ngày kia e khó thoát khỏi lời trách
về xe vàng bạc, về con hạc nước già...”
Rõ
ràng quan điểm về vị trí của Nho học và Phật học trong
đời sống người Phật giáo được nhận thức như thế,
xuất phát từ chủ trương của những người Phật giáo thời
đại Nguyễn Phúc Chu. Họ đưa ra quan niệm người Phật giáo
sống với Nho giáo nhưng tôn thờ Đức Phật, chủ trương
cư Nho mộ Thích. Nằm trong xu thế chung của thời đại mình,
thiền sư, tuy tuổi nhỏ “nhiều bệnh, yếu không mặc nổi
áo”, nhưng lớn lên cắp sách đến trường học Nho. Tới
năm Giáp Dần (1914), do thấy “trào lưu mới ồ ạt dâng lên,
trường Nho hoang vu”, thiền sư được cha mình đưa đi xuất
gia với thiền sư Ngộ Tánh Phước Huệ (1875-1963) tại chùa
Kim Quang, Huế, để “hầu không phụ lòng khăn khắng, tha
thiết của cha ông”.
Năm
Kỷ Mùi (1919) thiền sư thọ giới sa di, được đặt pháp
danh là Chân Đạo, pháp tự là Chánh Thống, thuộc đời thứ
40 của dòng thiền Thập Tháp phái Lâm Tế. Hai năm sau, thọ
cụ túc giới (1921) rồi hầu thầy ở Huế một thời gian
và nhận kệ phú pháp với pháp hiệu Bích Phong. Năm Giáp Tý
(1924) trong thời gian đang hầu thầy để học tập, thiền
sư đã đọc Chinh phụ ngâm và làm hai bài hò Mái nhì theo
điệu Nam ai và Nam bình. Đây có thể nói là những tác phẩm
đầu tay của thiền sư còn giữ được trong Thủy nguyệt
tòng sao.
Tới
năm 25 tuổi (1927), thiền sư vào học với thiền sư Phước
Huệ (1869-1945) của chùa Thập Tháp tỉnh Bình Định, đến
năm Kỷ Tỵ (1929) thì trở về Huế. Sau đó tham gia phong trào
chấn hưng Phật giáo, để đến năm 1932 An Nam Phật học hội
ra đời, thiền sư trở thành giảng sư của hội Phật học,
đồng thời là “Phật học cao đẳng học sanh” của lớp
đại học Phật học đầu tiên của thế kỷ XX do thiền sư
Giác Tiên (1880-1936) cùng với bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
(1897 – 1969) tổ chức tại chùa Tây Thiên.
Chúng
ta biết thiền sư phải trở thành giảng sư của An Nam Phật
học hội vào khoảng những năm 1932-1933, vì năm 1935 báo Viên
Âm 18 (1935) 26-39 đã đăng “bài giảng hôm rằm tháng mười
(10 Novembre 1935) tại Hội Phật học chùa Từ Quang, Huế”
với nhan đề Tứ niệm xứ. Mở đầu bài giảng, Phật học
cao đẳng học sanh Thích Chánh Thống đã nói: “Năm trước
giảng về Đạo đế đã nói có 37 phép trợ Bồ Đề phần
là:
o
Tứ niệm xứ
o
Tứ chánh cần
o
Tứ như ý túc
o
Ngũ căn
o
Ngũ lực
o
Thất giác chi
o
Bát chánh đạo”
Khi
nói thế, rõ ràng năm 1934 thiền sư đã từng được An Nam
Phật học hội mời giảng tại chùa Từ Quang và chủ đề
bài giảng là Đạo đế. Do vậy, thiền sư phải có mặt ở
Huế vào đầu năm 1934 nếu không phải là năm 1929. Thời điểm
năm 1929 này chúng tôi rút ra từ chính bài tựa do thiền sư
viết ở đầu Thủy nguyệt tòng sao của truyền bản hai tập:
“Mùa thu năm Kỷ Tỵ (1929) lại trở về thủ đô mở dựng
Phật học đường tại chùa Tây Thiên, bốn phương đến học
ngày càng thêm đông.” Chữ kỷ của Kỷ Tỵ trong truyền
bản vừa kể viết tương đối mờ, nên dễ đọc thành chữ
ất của Ất Tỵ.
Ất
Tỵ dĩ nhiên không phù hợp với công việc thành lập trường
vừa nêu, vì nó chỉ năm 1905 hay năm 1965 của thế kỷ XX.
Do thế, truyền bản ba quyển về sau đã sửa lại thành Ất
Hợi, tức năm 1935. Thế nhưng, nếu đúng là Ất Hợi (1935)
mới trở về Huế, thì làm sao có việc bài giảng năm 1935
đã nhắc tới bài giảng của năm trước, tức năm 1934? Vì
vậy, chúng tôi chấp nhận thời điểm Kỷ Tỵ do truyền bản
hai tập ghi lại.
Nói
cách khác, sau khi thọ đại giới 5 năm, vào năm 1927 thiền
sư Chân Đạo Chánh Thống đã đến học với thiền sư Phước
Huệ tại chùa Thập Tháp. Hai năm sau lại trở về Huế để
cùng với thiền sư Giác Tiên tổ chức các lớp học, trong
đó có lớp Trung học Phật giáo tại chùa Tây Thiên, đúng
như lời tựa đã ghi. Đây chính là tiền đề để khi An Nam
Phật học hội ra đời, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống trở
thành “Phật học cao đẳng học sanh” của lớp đại học
Phật giáo đầu tiên cũng do thiền sư Giác Tiên tổ chức
tại Tây Thiên, đồng thời là giảng sư của Phật học hội
và thực hiện những buổi giảng tại chùa Từ Quang, Huế,
mà một trong các bài giảng đã đăng lên báo Viên Âm từ
năm 1935.
Đây
cũng là thời điểm, mà lời tựa của Thủy nguyệt tòng sao
ghi thiền sư làm giảng viên của Phật học đường lúc 36
tuổi. Đến năm Đinh Sửu (1937) tính theo tuổi ta, thiền sư
đã 38 tuổi, bèn kể tiếp: “Mùa đông năm đó, hội chủ
chùa Quy Thiện là Đông các đại học sĩ nam tước Thái tướng
công cùng phu nhân vâng ý chỉ của Khôn Nghi thái hoàng thái
hậu, thỉnh ta làm toạ chủ chùa ấy, sắc trao chức tăng
cang cấp bổng hàng tháng, để lãnh đạo trụ trì tự trưởng
các chùa”
Với
những bổng lộc và chức tước như thế, thiền sư nhận
xét: “Tuy gội được một chút hơi ấm ngày xuân, nhưng cũng
không bằng cây tùng chịu lạnh, bèn riêng dựng một ngôi
nhà bên phía trái của chùa, đặt tên Thuỷ nguyệt hiên, để
tiện kê cứu giáo điển nội và ngoại. Thêm nữa, các mặc
khách tao nhân thích chí của ta, nên gặp những ngày rỗi,
mang rượu đi chơi núi, không chê chỗ cỏ nội hoa non, có
lúc lại đến thăm viếng”.
Chính
nơi hiên Thủy nguyệt này, bao nhiêu cuộc đàm luận về thơ
văn và tư tưởng đã diễn ra, cũng như bao nhiêu tác phẩm
đã được viết nên. Từ đó, bộ sưu tập các tác phẩm
ấy đã mang tên Thủy nguyệt tòng sao. Căn cứ vào những bài
thơ và văn có ghi thời điểm ra đời chép trong bộ sưu tập
đó, ta có thể bước đầu thiết lập một niên biểu sáng
tác của thiền sư Chân Đạo Chánh Thống:
Năm
Tác phẩm
-
Giáp Tý (1924) Trung thu dạ độc Chinh phụ ngâm
-
Giáp Tuất (1934) Đạo đế (đã mất)
-
Ất Hợi (1935) Tứ niệm xứ
-
Đinh Sửu (1937) Tống Chánh Tín thiền huynh quy bắc
Tặng
Tố Liên thiền huynh quy bắc
-
Mậu Dần (1938) Trí Thủ pháp khế nhậm Ba La tự chủ
-
Tân Tỵ (1941) Trung thu dạ đồng Ngô Trạch Chi
-
Bính Tuất (1946) Phỏng Đôn Hậu sư tân nhiệm Thiên Mụ Đào
nguyên mộng ký
-
Đinh Hợi (1947) Thứ Thúc Giạ thị tỵ binh hỏa vận
Lạp
nguyệt trấp ngũ ký Giác Bổn đại đức
-
Mậu Tý (1948) Yết Từ Hiếu tổ đình phú
Đông
nhật vịnh mai
Nhân
nhật yết Quốc Ân tổ đình
Họa
Thảo Đình tiên sinh Trung thu vận
-
Kỷ Sửu (1949) Thất tịch điệp khứ niên Thúc Giạ thị vận
Sơ
xuân truy điệu Giác Bổn đại đức
-
Tân Mão (1951) Nhân nhật tiết phỏng Viên Thông tọa chủ Toàn
quốc Phật giáo thống nhất đại hội
Tặng
Bắc Việt Tố Liên pháp lữ
-
Nhâm Thìn (1952) Lưu tặng Tuệ Tạng hòa thượng
-
Quý Tỵ (1953) Bát nguyệt đại lạo hậu tứ tiến nạn vong
ý
-
Giáp Ngọ(1954) Thừa Thiên sơn môn hạ nhật an cư chi kỷ
-
Bính Thân (1956) Trí Thủ đại sư tứ bạch mễ
-
Đinh Dậu (1957) Thu nguyệt Từ ân tự vãn thiếu
Hạ
sơn quan triển lãm
-
Mậu Tuất (1958) Thập Tháp tự khai giảng nhật huấn thị
Thập
Tháp tự tây lâu ngọa bệnh
-
Kỷ Hợi (1959) Trung thu nguyệt dạ lục thập tự vịnh
Thích
Tôn bảo đản cung kỷ
Tặng
Minh Trai Trần quân
-
Canh Tý (1960) Tự tứ nhật cung kỷ
-
Nhâm Dần (1962) Thích Tôn đản nhật cung kỷ
-
Tân Mão (1963) Thích Tôn đản tụng
Điếu
Tiêu Diêu thiền sư
Trong
thời gian giảng dạy tại Phật học đường Tây Thiên, năm
1937 thiền sư Tố Liên đã từ Bắc vào thăm. Hai vị chắc
chắn đã bàn đến vấn đề thống nhất Phật giáo cả nước,
khi ba miền bắc trung nam đều có hội Phật học của mình
và phê phán mạnh mẽ một quan điểm thời đó cho rằng việc
bàn tới thống nhất Phật giáo cả nước là một việc làm
xằng bậy, như hai câu kết của bài Đường luật do thiền
sư Tố Liên viết tặng cho thiền sư Chân Đạo Chánh Thống
đã nói tới và được thiền sư ghi lại:
Pháp
quỷ tương lai quân đắc chí
Tam
kỳ hiệp triệt vọng đàm gia
(Đạo
pháp tương lai anh đắc chí
Ba
kỳ thống nhất há bàn xằng)
Cũng
trong thời gian này thiền sư tiếp tục giảng tại chùa Từ
Quang của hội Phật học. Chùa Từ Quang thời này do thiền
sư Giác Bổn trú trì, mà thiền sư có một quan hệ rất chặt
chẽ, thể hiện qua một số bài thơ thiền sư viết về người
bạn đạo ấy trong Thủy nguyệt tòng sao. Từ năm 1937 trở
đi, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống chắc chắn đã có một
lần ra Bắc thăm viếng, trong đó có cả việc gặp thiền
sư Trung Thứ và làm thơ họa lại bài thơ của vị thiền
sư danh tiếng này, mà ta còn tìm thấy trong Thủy nguyệt tòng
sao.
Năm
Tân Tỵ (1941) thiền sư được Tri huyện Ngô Đình Nhuận (hẳn
lúc đó đã từ quan), mời nghe đánh đàn. Ta đã biết đây
là thời điểm, mà trên thế giới thế chiến thứ II đã
bùng nổ và tại nước ta phong trào vận động cho độc lập
dân tộc đang diễn ra ào ạt. Cho nên, thiền sư đã ghi lại
nỗi buồn bã và đau thương trước tình hình đó qua bốn
câu thơ:
Tay
nắm dìu nhau bước tới lầu
Nghe
đàn vô cớ nỗi buồn đau
Trong
như tiếng quốc mong quê cũ
Nhỏ
tựa thuyền cô góa phụ sầu
Sau
năm 1941 này, chắc nhiều bài thơ đã được thiền sư viết
ra để ghi lại những xúc cảm và quan điểm của mình trước
các biến cố chính trị đang xảy ra. Song, có lẽ vì liên
quan đến thời cuộc chính trị, những sáng tác thơ văn trong
giai đoạn này không còn tìm thấy tại Thủy nguyệt tòng sao.
Chỉ đến năm Bính Tuất, khi thiền sư Đôn Hậu đến trú
trì chùa Linh Mụ thì thiền sư đến thăm và ghi lại bằng
bài thơ Thăm thiền sư Đôn Hậu mới nhận chức tự chủ
chùa Linh Mụ. Đến ngày 19 tháng chạp năm 1946, lúc cả nước
đứng lên kháng chiến, qua năm sau thiền sư đã viết về
cuộc chiến tranh ấy, khi họa lại bài thơ cùng chủ đề
của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, kể lại cảnh mưa đạn
rừng súng rồi phiêu dạt nơi chân trời góc biển.
Qua
năm Mậu Tý (1948), trở về chùa sau đợt tản cư, thiền sư
đã đến thăm một số chùa, nhưng chỉ thấy các tổ đình
Quốc Ân, Từ Hiếu là được ghi lại. Đến năm Kỷ Sửu
(1949), một mặt thì thiền sư Giác Bổn mất, mà ta thấy có
bài thơ truy điệu, mặt khác đại giới đàn chùa Báo Quốc
lại được tổ chức nhằm ổn định lại đời sống Phật
giáo, thiền sư đã tham gia với tư cách người viết các văn
bản cho giới đàn. Thậm chí còn viết một bài phú về giới
đàn ấy để kỷ niệm.
Tới
năm Tân Mão (1951), Phật giáo cả nước họp lại để thống
nhất thành Tổng hội Phật giáo Việt Nam, thiền sư đã tham
gia và viết nhiều bài thơ chúc mừng đại hội thành công.
Năm sau, Nhâm Thìn (1952), thiền sư ra Bắc trong phái đoàn Phật
giáo miền Trung để họp thống nhất tăng già Việt Nam, nhân
đó đã làm thơ mừng thiền sư Tuệ Tạng được bầu làm
Thượng thủ giáo hội tăng già. Sau đó thiền sư vẫn tiếp
tục dạy học. Năm Mậu Tuất (1958), lại được mời vào
Bình Định dạy ở chùa Thập Tháp cho các học tăng như thiền
sư Khế Châu, Mật Hạnh v.v…
Đến
ngày 22 tháng chạp năm Đinh Mùi, tức 21 tháng 1 năm 1968, thiền
sư đau sơ, rồi viên tịch. Môn đồ pháp quyến nhiều người
thương tiếc. Có người từng học với thiền sư đã làm
câu đối khóc:
Thầy đã đi rồi, bể Thích rừng Nho trông vắng vẻ
Con còn ở lại, kẻ tăng người tục thấy bơ vơ.
rồi
cùng nhau làm lễ tang và dựng tháp thờ thiền sư tại chùa
Quy Thiện. Cuộc đời của thiền sư Chân Đạo Chánh Thống
như vậy tập trung chủ yếu vào sự nghiệp giáo dục và văn
nghệ để phục vụ cho đạo pháp và dân tộc. Khi thiền sư
mất, thiền sư Tâm Như Đạo Giám Trí Thủ đã đến điếu
bằng hai câu:
Tích niên pháp nhũ đồng triêm
thệ hải giả tằng minh thiết thạch
Kim nhật đàm hoa tiên lạc
thiền lâm thuỳ thị nại phong sương
(Năm xưa sữa pháp nhắp cùng
thề biển cũng từng nguyền sắt đá
Ngày nay hoa đàm rơi trước
rừng thiền ai sẽ chịu phong sương)
Nói
lên không ít phẩm chất và sự nghiệp của thiền sư, mà
chúng ta có thể dùng để kết thúc phần viết về cuộc đời
và sự nghiệp của thiền sư Chân Đạo Chánh Thống Bích Phong
ở đây.