|
.
TỘI
NGHIỆP
Tỳ
Khưu Thích Chân Tuệ
 |
 |
Trên
thế gian này, chúng ta từng chứng kiến các cảnh phiền não
khổ đau, nhiều hơn là bình yên vui sướng. Ngay trong
cuộc đời của chúng ta, những sự bất trắc, bất như ý,
bất toại nguyện, cũng nhiều hơn những việc vui vẻ, vừa
ý, toại nguyện.
Cho
nên, nhận định cuộc đời "khổ nhiều vui ít", đó là sự
thực rõ ràng, nhưng trong chúng ta ít người dám mạnh dạn
nhìn nhận. Con người vì mãi mê đấu tranh, vật lộn
với cuộc sống hằng ngày, nên không có thời giờ để suy
tư, tìm hiểu. Có người không muốn nhìn nhận sự thực
đó, tự kỷ ám thị, tự lừa dối mình, cho rằng cuộc đời
là vui đẹp, là đáng hưởng thụ, với mục đích tạm quên
đi những đau khổ, bất hạnh trong cuộc sống, không biết
ngày mai mình sẽ ra sao, không biết làm sao cho đời bớt khổ,
cho đời hết khổ.
Khi
gặp hoàn cảnh khổ đau, khi có điều bất trắc, bất như
ý, bất toại nguyện, con người chỉ biết than trời trách
đất, hoặc trách cứ tổ tiên, trách cứ ông bà cha mẹ, ăn
ở bất nhơn thất đức, cho nên cháu con mới ra nông nổi
này!
Ðôi
khi, có người chỉ biết đặt niềm tin nơi đấng thiêng liêng
nào đó, để cầu nguyện, van xin, khấn vái cho được tai
qua nạn khỏi, cho được bình an, mà không chịu tìm hiểu
hư thực, không chịu tìm hiểu Chân Lý, không chịu học hỏi
Chánh Pháp, cho nên những người biết lợi dụng lòng mê tín
dị đoan dễ gạt gẫm, dễ lợi dụng, dễ sai khiến, hậu
quả khó mà lường trước được.
Thường
thường khi thấy người nào gặp hoàn cảnh không may, gặp
điều bất hạnh, bất như ý, đau khổ hoặc ngộ nạn, có
người xúc động, tỏ lòng thương xót, thốt lên: "Tội nghiệp
quá!". Ðiều này có nghĩa là khi ở trong trạng thái "tâm
bình thường", con người ai cũng có sẵn "tâm từ bi bác ái",
thấy người đau khổ thì động lòng trắc ẩn, xót thương.
Cũng
trong trường hợp đó, người khác lại nói: Ðáng đời chưa!
Gieo gió thì gặt bảo! Làm tội thì phải đền tội!
Cũng có người nói: Nghiệp của họ nặng quá, nên họ mới
khổ nạn như vậy! Hoặc có người khác nói: Trời phạt
họ đó! Những sự suy nghĩ như vậy do tập quán, thói
quen mà thốt nên lời.
Vậy
chúng ta hãy thử tìm hiểu:
Tội
là gì? Nghiệp là gì? Tội báo là gì? Nghiệp báo
là gì?
Làm
gì mà phải "tội nghiệp"? Làm sao cho hết "tội nghiệp"?
Làm
sao "dừng nghiệp và chuyển nghiệp"?
*
* *
Theo
luật nhân quả, chúng ta biết rằng: "gieo nhân nào thì gặt
quả nấy". Thí dụ như gieo nhân là hạt cam, chúng
ta sẽ được cây cam và gặt quả cam. Khoa học đã thí
nghiệm và chứng minh điều này rõ ràng, không có gì đáng
nghi ngờ cả. Nghĩa là làm thiện gặp thiện, làm ác
gặp ác, ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão, có lửa có
khói, sinh sự sự sinh.
Tuy
nhiên, cũng có thắc mắc: Tại sao có người gieo thật nhiều
gió mà chẳng thấy họ gặt bão, hay nói cách khác, những
người đó làm nhiều điều bất thiện, gây nhiều tội ác,
mà tại sao họ vẫn bình yên, an ổn, ăn nên làm ra, sống
trong cảnh giàu có sung sướng? Trái lại, có người làm
thật nhiều việc phước thiện phước đức, như bố thí
cúng dường, hùn công góp của ấn tống kinh sách, quyên góp
cho các hội từ thiện, xây cất chùa chiền, lập nhà thương
trường học, đắp đường xây cầu, mà tại sao chẳng thấy
phước báo đâu, chỉ thấy quả báo xấu, gặp nhiều nạn
tai, gặp nhiều điều bất trắc, bất như ý, bất toại nguyện?
Chúng
ta biết rằng: có những hạt giống gieo trồng, thì gặt được
quả sớm, nhưng cũng có những hạt giống gieo trồng xong,
phải đợi một thời gian sau, hay một thời gian lâu sau, mới
gặt được quả. Cũng vậy, có những việc chúng ta làm đời
trước, đời này mới nhận kết quả hay hậu quả. Có
những việc chúng ta làm đời này, đời sau mới có kết quả
hay hậu quả. Do làm ác đời trước, nên con người gặp
khổ đau đời này, chớ có oán hận, than trời trách đất,
bởi lẽ "mình làm mình chịu", không có ông trời nào, thượng
đế nào trừng phạt mình, một cách tùy tiện, một cách vô
căn cứ cả.
Chúng
ta thường có tánh đổ thừa kẻ khác, kể cả ông bà cha
mẹ, đã tạo nghiệp, rồi cháu con phải lãnh hậu quả, chứ
không bao giờ chịu nhìn nhận "chính mình đã làm", đã gây
ra những lỗi lầm trong kiếp trước, cho nên kiếp này "chính
mình gánh chịu".
Còn
những việc phước thiện, phước đức mình làm trong đời
này, vì quá ít quá nhỏ, chưa kịp có kết quả. Hoặc
đôi khi việc phước thiện, phước đức đã có kết quả,
đã làm cho nhẹ bớt đi những nạn tai, mà mình phải gánh
chịu, chỉ tại mình không biết đó thôi. Nếu không
biết làm những việc thiện tạo phước báu như thế, để
bù đắp những tội lỗi đã gây ra trước kia, con người
có thể đã gặp nhiều phiền não khổ đau hơn, nhiều tai
nạn nặng nề hơn. Nếu việc phước thiện đã làm nhiều
hơn tội lỗi đã tạo, chắc chắn con người được hưởng
sự sung sướng, sự may mắn. Nghĩa là sự sung sướng,
sự may mắn do phước báo chính mình đã tạo ra, từ nhiều
kiếp trước hay kiếp này, chứ không do ông trời, hay thượng
đế nào thương mình, mà ban cho cả.
Như
vậy, chúng ta phải hiểu luật nhân quả được áp dụng trong
ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Cũng có những
quả báo nhãn tiền, tức là kết quả hay hậu quả có ngay
trước mắt, gieo nhân đời này, gặt quả cũng trong đời
này. Thí dụ như ăn trộm thì bị bắt, ở dơ thì sanh
bệnh, làm biếng thì nghèo khó, đánh người thì người đánh,
hại người thì người hại, kiện thưa thì tốn tiền, tiết
kiệm thì có dư, chăm học thì đỗ đạt, siêng năng, chăm
chỉ, cần cù, nhẫn nại, nếu không thành công thì cũng thành
nhân.
* *
Chúng
ta thữ nghĩ xem: Tội là gì?
Tội
lỗi là những điều bất thiện, những việc ác do chính mình
nói, chính mình làm, chính mình suy nghĩ, chính mình gây ra,
chính mình tạo tác, do thân khẩu ý của chính mình. Tội
lỗi cũng do sự sai khiến, xúi giục, chỉ dẫn, bày cách cho
người khác làm, thi hành, thực hiện những điều bất thiện,
những việc ác. Tội lỗi cũng do sự vui mừng, tán đồng,
khen ngợi, khi thấy kẻ khác làm những điều bất thiện,
những việc ác.
Nghĩa
là: "Nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tùy
hỷ", đều tội lỗi như nhau. Tại sao vậy? Bởi
vì chính mình làm, chỉ bảo người khác làm, hay thấy người
khác làm mà vui theo, những điều bất thiện, những việc
ác, thì tâm của chúng ta đều bị náo động, đều bị hoen
ố, đều ghi nhận chủng tử sanh tử luân hồi như nhau.
Ðạo
Phật luôn luôn chú trọng đến "tâm", chính là cái "thực
tướng" bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng,
bất giảm của con người, chứ không quan trọng đến cái
giả tướng khác biệt bên ngoài của mỗi người. Cái
giả tướng khác biệt đó chỉ là cái thân tứ đại sanh
diệt, nay còn mai mất, chúng ta đang mượn tạm, trong kiếp
sống này mà thôi. Bởi vậy cho nên, đọc kinh điển
của đạo Phật, muốn hiểu được pháp vô lượng nghĩa,
pháp vô thượng thậm thâm vi diệu, chúng ta hãy tìm hiểu
qua lăng kính của một chữ, đó là chữ: "TÂM".
Chư
Tổ có dạy:
"Tâm
tức Phật, Phật tức Tâm", chính là nghĩa đó vậy.
Ðức
Phật là bậc vô thượng y vương, vô thượng dược vương
chuyên trị "tâm bệnh" của tất cả chúng sanh, chứ không
phải "thân bệnh". Ðức Phật hiểu rõ tâm bệnh của
tất cả chúng sanh, vì sao con người trôi lăn trong sanh tử
luân hồi, cho nên Ðức Phật chỉ dẫn con đường thoát ly
sanh tử luân hồi. Ðó mới chính là trọng tâm cốt yếu
của đạo Phật.
Sách
có câu:
"Tướng
tự tâm sanh, tướng tùng tâm diệt".
Bất
cứ ai giải quyết được tâm bệnh, thì thân bệnh có còn
gì đáng nói nữa đâu. Cái thân tứ đại giả tạm này
chỉ có tuổi thọ một trăm năm hay hơn chút đỉnh là nhiều.
Còn cái tâm bất sanh diệt của tất cả mỗi chúng ta có tuổi
thọ vô lượng mà Ðức Phật đã chỉ bày trong các kinh điển
thì ít người hiểu thấu!
Người
nào chỉ hiểu kinh điển nhà Phật qua nghĩa đen: cầu bình
an, cầu siêu sanh, là những người chỉ đứng bên ngoài cổng
rào, chứ chưa vào được đến trong sân chùa, nói chi đến
ngưỡng cửa nhà Phật. Người nào chỉ hiểu đạo Phật qua
các hình thức cúng kiến, lễ nghi thường thấy, là người
chưa hiểu đạo Phật là gì cả!
Thậm
chí, có người đến với đạo Phật, vì muốn cầu gì được
nấy, muốn vạn sự như ý, muốn tùy tâm mãn nguyện, muốn
buôn may bán đắt, muốn nhất bổn vạn lợi, muốn thi đâu
đậu đó, muốn sở cầu như nguyện, muốn tình duyên may mắn,
muốn đủ thứ chuyện trên trần đời, thì than ôi, đạo
Phật còn gì là Phật đạo nữa! Thật đáng thương xót!
Thật đáng "tội nghiệp" lắm thay!
Trong
Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật có dạy:
"Nhất
thiết duy tâm tạo".
Nghĩa
là chúng ta nên biết tội lỗi nặng hay nhẹ tùy theo tâm trạng,
tâm tánh của con người khi tạo tác. Thí dụ như một
người nghèo khó đi câu con cá, để ăn qua ngày, tội nhẹ
hơn người no đủ, đi câu con cá vì thú vui. Con người
vì si mê nên cảm thấy vui thích trên sinh mạng của chúng
sanh! Khi xưa, những người có quyền thế, xem việc giết
người, giết dân chúng hay giết tù nhân, như thú vui tiêu
khiển. Ngày nay, ở các nước gọi là văn minh, con người
xem việc săn bắn thú vật như là môn thể thao, coi cảnh đấu
bò giết bò như là trò giải trí!
Thật
đáng "tội nghiệp" lắm thay! Con người đang hưởng phước
ở các xứ văn minh, lại tìm cách tạo tội tạo nghiệp vì
vô minh. Một người giết một con thú dữ để tự vệ
trong hoàn cảnh sợ hãi, tội nhẹ hơn một đứa bé tay cầm
cây cầm roi, thi đua với các đứa bé khác, đánh đập một
con gà, rụng lông tơi tả, máu đổ dầm dề, cho đến chết,
một cách nhanh nhứt, để được khen thưởng, để được
lãnh giải, trong cuộc thi do người lớn tổ chức!
Dĩ
nhiên, kẻ chủ tâm cố ý giết người vì tư thù, vì quyền
lợi, tội nặng hơn kẻ sát nhân trong cơn điên loạn, hãi
hùng hay vô ý thức. Kẻ giết con vật lớn như trâu bò,
tội nặng hơn kẻ giết côn trùng, con gián, con kiến.
Giết người, giết con vật lớn, con vật có nhiều linh tánh
hơn, tức nhiên, kẻ giết phải có chủ ý, dụng tâm, dụng
công, dụng sức nhiều hơn, nên tội nặng hơn. Giết
côn trùng, con gián, con kiến không do cố ý, không do thích
thú, bởi vì con người không thể sống chung với những sinh
vật này được, theo phép vệ sinh chung của xã hội, nên nhẹ
tội hơn. Tuy nhiên, tìm giết vô cớ con gián, con kiến
ngoài đồng, ngoài đường lại là chuyện khác.
Việc
trộm cắp cũng vậy. Người trộm cắp vì nghèo túng,
phải giúp gia đình qua cơn đói khổ, vì tạm thời, không
còn phương cách nào khác, tội nhẹ hơn một kẻ cố ý chủ
tâm dùng thủ đoạn, dùng luật pháp, để chiếm đoạt tài
sản, sang đoạt bản quyền của người khác, thưa kiện người
khác với mục đích kiếm tiền, muốn mình sung sướng, làm
giàu nhanh chóng, người khác thì đau khổ vì sạt nghiệp!
Việc
nói dối để an ủi, giúp đỡ tinh thần người đang bị bệnh,
người đang khổ đau, khủng hoảng, sợ hãi, không thể đem
so sánh với việc nói dối để gạt gẫm người khác vì ích
kỷ, vì tư lợi, vì thù oán hại người, vì muốn kết bè
kết đảng.
Càng
tệ hại hơn nữa vì tự ái, vì tự lợi, vì danh dự hão,
vì chính nghĩa cuội, vì công lý một chiều, vì lẽ phải
phiến diện, vì mê tín dị đoan, vì quá khích, có người
đặt điều vu cáo vu khống, phỉ báng mạ lỵ người khác,
lộng giả thành chơn, nước lã khuấy nên hồ, để ám hại
người khác, viết bài đả kích, khen mình khinh người, lôi
kéo phe phái, thì những người đó làm sao tránh khỏi luật
nhân quả, làm sao thoát khỏi "lưới trời" lồng lộng, tuy
thưa mà không lọt, tuy không thấy mà chẳng sai chạy!
Trong nhà Phật, "lưới trời" đó chính là "quả báo" con người
phải lãnh, vì các việc đã làm, đã nói, đã nghĩ, trước
đây.
* *
Chúng
ta thường nghe nói đến chữ "nghiệp" trong cuộc sống hằng
ngày, cũng như trong đạo Phật, như là: nghề nghiệp, tội
nghiệp, nghiệp báo, nghiệp chướng, nghiệp nhân, nghiệp quả.
Vậy
chúng ta thử tìm hiểu: "Nghiệp"
là gì?
Nghiệp
là thói quen hành động, nói năng hay suy nghĩ hằng ngày của
chúng ta trong cuộc sống, trong khi làm việc, trong khi giao tiếp,
ở tại nhà, ở tại sở làm hay bất cứ nơi đâu.
Nghĩa
là: nghiệp do thân hành động, khẩu nói năng và ý suy nghĩ,
nên thường được gọi là tam nghiệp: thân nghiệp, khẩu
nghiệp và ý nghiệp.
Theo
nguyên tắc, có hai loại nghiệp: thiện và bất thiện.
Tuy nhiên, khi nói đến chữ "nghiệp", người ta thường nghĩ
đến những nghiệp ác hay nghiệp bất thiện.
1)
"Thân nghiệp" là những thói quen hành động, do
thân tạo tác hằng ngày. Có người luôn luôn thích giúp
đỡ kẻ khác, làm việc phước thiện, làm việc xã hội.
Có người luôn luôn thích đi chùa, lễ Phật, tụng kinh, đi
nhà thờ xem lễ, cầu nguyện. Cũng có người luôn luôn
thích đánh nhau, đánh đập súc vật, giết hại sinh mạng
chúng sanh, chơi đấu bò, đi câu cá, đi săn bắn, như thú
vui tiêu khiển. Có người luôn luôn thích hút thuốc,
uống rượu, bài bạc. Có người luôn luôn thích việc
trộm vặt dù họ không túng thiếu. Có người luôn luôn
thích kiện tụng, thích xúi người khác thưa kiện để thủ
lợi. Có người luôn luôn thích hăm dọa người khác,
theo thói chưa đậu ông nghè đã đe làng tổng, họ gửi bài
đăng báo, tòa báo không đăng nguyên văn, sửa bản thảo,
họ bảo xin lỗi, viết thư dọa làm con kiến đi kiện củ
khoai!
2)
"Khẩu nghiệp" là những điều mình thường nói
ra hằng ngày, có khi ngọt ngào dễ nghe, có khi chanh chua chát
khế, kinh khủng khiếp luôn!
Cổ
nhơn có dạy:
Lời
nói chẳng mất tiền mua.
Lựa
lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Có
người luôn luôn thích nói chuyện đạo lý, chuyện ích lợi
cho người. Có người luôn luôn thích thuyết pháp, tụng
kinh, niệm Phật. Có người luôn luôn thích an ủi, khuyên
lơn, đem sự an ổn tâm thần đến cho người khác. Có
người luôn luôn nói lời hòa nhã, êm ái, dịu dàng, ai ai
cũng thích nghe, thích gặp mặt, thích trò chuyện.
Ðó
là những người lựa lời mà nói cho người an vui, và đang
tu theo hạnh Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát, hay tu theo hạnh Nhứt
Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát.
Cũng
có người luôn luôn thích nói suốt ngày, không biết mệt,
không ngừng nghỉ. Có người luôn luôn thích nói chuyện
thị phi, chuyện thiên hạ, chuyện phải quấy, chuyện hơn
thua, chuyện tranh chấp, chuyện kiện tụng, chuyện thưa gửi,
chuyện phiền não, chuyện khổ đau. Có người luôn luôn
thích văng tục, chửi thề, bới móc người khác, kê tủ đứng
vào miệng người khác, móc họng cho người ói ra, mỗi khi
khai khẩu, mỗi khi mở miệng. Có người thốt xong một
lời, người nghe phải đi xức dầu cù là, hoặc uống thuốc
nhức đầu, thậm chí ngất xỉu, hay giã từ luôn cõi đời.
Có người thốt xong một lời, người khác phải đi tù, gia
đình xào xáo, vợ chồng chia ly, lục đục, cãi vã, nghi ngờ
lẫn nhau, tiêu tan hạnh phúc.
Bởi
vậy, chúng ta mới biết khẩu nghiệp nặng nề biết bao, lời
nói độc hại đến chừng nào, lời nói có khả năng hại
người còn hơn vũ khí. Ðó là lời nói của những kẻ
"lựa lời mà nói cho người giết nhau", hoặc là những kẻ
"lựa lời mà nói cho người tiêu luôn"!
Những
người biết tu tâm dưỡng tánh rất dè dặt với khẩu nghiệp,
không dám phát ngôn bừa bãi, luôn luôn nhớ lời cổ nhơn
dạy: "Lời nói là bạc, im lặng là vàng". Có người
bèn áp dụng tu pháp môn "tịnh khẩu", suốt ngày không muốn
nói bất cứ chuyện gì, với bất cứ ai. Tuy nhiên, bên
ngoài phẳng lặng, mà trong lòng dậy sóng, thì cũng như không!
Có khi nói năng để truyền bá Chánh Pháp, lời nói đầy pháp
vị, nói lời chuyên chở đạo lý. Có khi sự im lặng
cũng đúng Chánh Pháp, cũng đượm nhuần đạo lý.
Cổ
nhơn có dạy: "Ngữ ngôn đạo đoạn".
Nghĩa
là còn phải dùng lời nói, thì không thể diễn tả được
đạo lý một cách tột cùng, khi lên tiếng thì đạo mất
rồi. Người hiểu đạo là người có tâm cảm thông sâu sắc,
không cần dùng lời nói, có thể thấu hiểu mọi sự mọi
việc một cách dễ dàng, không có gì ngăn ngại.
Trong
kinh sách có câu: "Ðạo cảm ứng giao nan tư nghì" chính
là nghĩa đó vậy.
Cũng
có câu: "Ðạo bổn vô ngôn".
Nghĩa
là gốc của đạo không thể dùng lời lẽ của thế gian mà
diễn tả được. Ðạo là chỗ cứu kính tuyệt đối
bất khả tư nghì, đạo cảm thông không thể nghĩ bàn được.
Ðó chính là chỗ im lặng của Cư sĩ Duy Ma Cật thời Ðức
Phật còn tại thế, đó chính là sự lặng thinh của Nhị
Tổ Huệ Khả, khi trình kiến giải lên Sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt
Ma vậy.
3)
"Ý nghiệp" là quan trọng hơn cả. Chính ý nghiệp
chủ động điều khiển thân nghiệp và khẩu nghiệp.
Tại sao vậy? Bởi vì nếu như tư tưởng luôn luôn có
ý nghĩ thế nào thì hành động và lời nói sẽ y theo đó
mà ra, không sai khác chút nào. Chính tư tưởng phát xuất
ra hành động và lời nói. Thí dụ nếu trong tâm ý chúng
ta nghi ngờ người nào ăn cắp đồ, thì từ hành động cho
đến lời nói của người đó đều có vẻ khả nghi, đáng
ngờ, và hành động cũng như lời nói của chúng ta đều không
bình thường đối với người đó.
Thí
dụ nếu chúng ta luôn luôn có tư tưởng, có ý nghĩ là kẻ
nào ác thì phải bị tiêu diệt, phải bị đọa địa ngục,
phải bị trừng phạt nặng nề, cho nên khi có cơ hội, có
phương tiện, có quyền hành, có thế lực, chúng ta sẽ dễ
dàng mắng chửi, mạt sát, giết hại, trừ khử, thanh toán
kẻ đó không chút xót thương, không chút bận tâm! Nghĩ
như vậy, nói như vậy, làm như vậy, tâm của chúng ta không
từ bi, không bác ái chút nào, và như vậy chúng ta có khác
gì kẻ ác kia đâu? Giết người phải đền mạng, có
luôn luôn hẳn là lẽ công bằng tuyệt đối chăng, có giúp
nạn nhân sống lại chăng, có giúp xã hội an ninh, trật tự
chăng, có giúp tình người thêm tốt đẹp chăng? Con người
thường nhân danh cái thiện, nhân danh thế thiên hành đạo,
để thi hành, thực hiện việc ác, việc trả thù ngay sau đó.
Chính vì vậy mà oan oan tương tục không biết đến bao giờ
mới dứt được. Thiệt là "tội nghiệp" thay!
Trên
thế gian này, sân hận không bao giờ dập tắt sân hận. Duy
có tình thương, tâm từ bi mới diệt được tâm sân hận.
Ðó là định luật trường cửu.
Cho
nên, trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy:
Lấy
oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy
ân báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Ðây
là cách dừng nghiệp và chuyển nghiệp hữu hiệu nhất.
Thí dụ vì nghiệp duyên đời trước, có người nào đó khi
gặp chúng ta, liền không có cảm tình, không ưa thích, có
thái độ thù nghịch, chống đối. Nếu như chúng ta không
hiểu luật nhân quả, bèn có thái độ tương ứng đáp lại,
thì càng ngày quan hệ giữa chúng ta và người đó càng tệ
hại thêm mà thôi. Còn nếu như khi họ gặp hoàn cảnh
không may nào đó mà mình có thể giúp được và thực tâm
giúp đỡ họ, thì có phải "oán nghiệp" trước đây tiêu
tan hay không?
Thí
dụ trong gia đình, nếu người cha hay người mẹ, vì tức
giận người con đối xử tệ bạc với mình, không như mình
mong ước, nên cũng đối xử lạnh lùng, hằn học, bực dọc
đáp lại, thì thử hỏi câu chuyện sẽ đi đến đâu, sẽ
kết thúc ra sao? Nếu cha mẹ có lòng từ bi, không chấp
chặt những điều đó, vẫn thương yêu, chăm sóc người con,
như lúc con còn nhỏ dại, thì ít ra còn hy vọng người con
chuyển đổi tâm ý, gia đình hòa vui trở lại.
Chuyện
này "nói ra thì dễ, làm được mới khó". Nhưng thử
hỏi chuyện gì trên đời này mới là chuyện dễ làm đây
?
* *
Bây giờ,
nói về vấn đề: "dừng nghiệp
và chuyển nghiệp".
Chúng
ta đã biết rằng chính ba nghiệp thân khẩu ý là động cơ
dẫn dắt chúng sanh vào vòng trầm luân sanh tử luân hồi nhiều
đời nhiều kiếp. Cho nên, muốn thoát ly sanh tử luân
hồi, con người phải biết dừng nghiệp và chuyển nghiệp.
Nghĩa
là chúng ta phải dừng tất cả những nghiệp ác, nghiệp bất
thiện, từ thân khẩu ý của mình, chuyển ba nghiệp thân khẩu
ý bất thiện, thành ba nghiệp thiện lành. Ðó chính là trọng
tâm tu hành của đạo Phật, chứ không phải những hình tướng
bên ngoài, những nghi lễ rườm rà, những van xin cầu khẩn.
Người
có nghiệp cờ bạc thì luôn luôn tìm tới các sòng bài bạc
để vui chơi trong chốc lát, rồi sau đó đau khổ dài dài.
Người có nghiệp hút thuốc thì đi đâu cũng luôn luôn để
ý đến chỗ nào bán thuốc lá và giá cả ra sao. Người
mang nghiệp nào thì sẽ bị dẫn theo con đường ấy, cũng
như kim loại bị nam châm hút vậy.
Con
người khi chết đi, thân xác, danh vọng, của cải, thân bằng
quyến thuộc, tất cả mọi thứ đều phải bỏ lại thế
gian, chỉ mang theo cái "nghiệp báo" tái sanh kiếp sau. Chính
cái nghiệp báo này là nguyên nhân làm cho chúng ta sung sướng
hay đau khổ vậy. Khi biết được điều đó, liễu tri
được điều đó, giác ngộ được điều đó, chúng ta cần
phải tìm cách dừng nghiệp, tìm cách chuyển ba nghiệp bất
thiện thành ba nghiệp thiện.
Trong
kinh sách, Ðức Phật dạy pháp môn để dừng nghiệp và chuyển
nghiệp. Ðó chính là "Pháp Sám Hối".
Người
biết ăn năn sám hối mới thực là người biết tu chân chính,
không cần phải có hình tướng như thế nào, chỉ cần chúng
ta kiên trì, cố gắng tu tâm dưỡng tánh, đúng theo Chánh Pháp,
thì đạt được kết quả mỹ mãn. Kết quả đó là
cảnh giới an lạc và hạnh phúc hiện đời, kết quả đó
là cảnh giới tây phương cực lạc hay thiên đàng sau này.
Chánh
Pháp không dành riêng cho những người theo đạo Phật hay bất
cứ ai. Chánh Pháp là chân lý cứu kính mà bất cứ ai
có "tâm bình thường" cũng có thể tìm hiểu được và
thực hành được, một cách bất tùy phân biệt.
Nếu
không có "pháp sám hối chơn thực" thì không có thánh
nhơn trên đời, không có thiên đàng, hay cảnh giới tây phương
cực lạc. Biết bao nhiêu bậc thánh hiền xưa nay có quá
khứ bất thiện, xấu ác, gian tà, nhưng nhờ các ngài giựt
mình tỉnh thức, qua được cơn mê, quày đầu hướng thiện,
cho nên trở thành đại đức thánh nhơn. Bởi vậy, chúng
ta noi gương các ngài, chỉ nên quán xét chính mình, không cần
thiết phải bận tâm biết quá khứ của người khác ra sao.
Người ta trước đây tạo nghiệp xấu thiệt, nhưng nay đã
biết sám hối, đã biết dừng nghiệp và chuyển nghiệp, còn
mình thì sao, vẫn đi soi mói việc riêng của người khác để
làm gì?
Trong
kinh sách, Ðức Phật có dạy:
Tội
tùng tâm khởi tương tâm sám.
Tâm
nhược diệt thời tội diệc vong.
Tội
vong tâm diệt lưỡng câu không.
Thị
tắc danh vi chơn sám hối.
Nghĩa
là muốn tội lỗi thực sự không còn nữa, thì chúng ta phải
tiêu diệt cái nguyên nhân chính gây ra tội lỗi, xúi giục
mình làm bậy nói bậy nghĩ bậy, đó là vọng tâm lăng xăng,
lộn xộn, loạn động, suy nghĩ, tính toán, suy lường, hằng
ngày của chúng ta.
Một
khi đã thực tâm sám hối thì không còn tâm muốn làm, muốn
nói, muốn nghĩ những chuyện bậy đó nữa. Mỗi khi vọng
tâm khởi lên, xui khiến mình làm chuyện bậy, bất cứ chuyện
gì lợi mình hại người, bảo mình nói lời bậy, bất cứ
lời nào gây phiền não cho người khác, giục mình nghĩ ý
bậy, bất cứ ý nghĩ nào khen mình khinh người, thì chúng
ta phải nhận biết ngay, dừng lại, không theo. Lâu dần,
vọng tâm đó lặng đi rồi, thì tội lỗi cũng không còn gây
ra nữa.
Cũng
giống như mỗi lần trong đầu nhớ tới bản nhạc nào quen
thuộc, nếu chúng ta ư ử hát theo thì sẽ nhớ hoài nhớ lâu,
còn nếu chúng ta không hát theo, thì ít lâu sau, sẽ quên bẳng
đi, không còn nhớ nữa. Ðó mới thực là "chơn sám hối",
tức là sám hối chơn chính, chơn thực, thực lòng vậy.
* *
Pháp
sám hối chơn chính có hai phần: Lý Sám Hối và Sự Sám
Hối.
Trước
hết, chúng ta nói về "Sự Sám Hối".
Khi
tâm của chúng ta còn mê mờ, chưa được giác ngộ Chân Lý,
chưa hiểu biết Chánh Pháp, chúng ta phải hành theo sự sám
hối. Nghĩa là đối trước tôn tượng chư Phật, chư
Bồ Tát, chúng ta phải hành lễ bái, tỏ bày sám hối, mong
diệt nghiệp chướng, tội chướng, siêng năng tinh tấn, mỗi
tháng hai lần.
Mỗi
lần như vậy, chúng ta đọc bài kệ như sau:
Ngã
tích sở tạo chư ác nghiệp.
Giai
do vô thủy tham sân si.
Tùng
thân khẩu ý chi sở sanh.
Nhứt
thiết ngã kim giai sám hối.
Nghĩa
là chúng ta đã tạo không biết bao nhiêu ác nghiệp từ xưa
đến giờ, đều do ba điều độc hại: tham lam, sân hận và
si mê, thể hiện qua ba hình thức: thân hành động, khẩu nói
năng, ý suy nghĩ. Tất cả những tội lỗi đó, những nghiệp
bất thiện, những nghiệp ác đó, chúng ta đều thành tâm
thực lòng, ăn năn sám hối, quyết tâm chừa bỏ, không dám
tái phạm, cố gắng gìn giữ tam nghiệp thân khẩu ý cho được
thanh tịnh.
Trong
kinh sách có câu:
Ngã
thân ảnh hiện chư Phật tiền",
tức
là: "Trước bảo tọa thân con ảnh hiện".
Nghĩa
là đối trước tôn tượng chư Phật, chúng ta hiện nguyên
hình con người thực của mình, phản ảnh đúng nội tâm của
mình, để thành tâm phát lồ sám hối, không che giấu bất
cứ điều gì cả. Chúng ta có thể che giấu tội lỗi,
che giấu tật xấu, đối với người đời, chứ đối với
chư Phật, đúng ra đối với Phật Tâm của chúng ta, chúng
ta chẳng thể giấu giếm bất cứ điều gì. Ngày xưa,
để cho mọi người dễ hiểu, cổ nhơn giải thích đó chính
là lúc chúng ta đứng trước gương chiếu yêu, trước diêm
vương cảnh đài, bất cứ việc gì chúng ta đã làm, đã nói,
đã nghĩ, trong suốt cuộc đời đều hiện ra hết tất cả.
* *
Nay nói
về "Lý Sám Hối". Trong Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật có
dạy: "Nhất thiết duy tâm tạo".
Nghĩa
là muôn việc trên thế gian này đều do tâm của chúng ta tạo
ra tất cả. Tâm của chúng ta tạo ra thiên đàng.
Tâm của chúng ta tạo ra địa ngục. Thí dụ chúng ta
phát triển các tâm lượng rộng lớn, tốt đẹp như từ bi
hỷ xả, tức là chúng ta phát triển cảnh giới thiên đàng,
cực lạc và sống an lạc trong cảnh giới đó.
Nếu
chúng ta chấp chặt những thành kiến, định kiến, thiên kiến,
biên kiến, tà kiến, ác kiến, thường kiến, đoạn kiến,
phát triển những tâm lượng hẹp hòi, ích kỷ, đố kỵ,
ganh tị, tham lam, sân hận, si mê, khen mình khinh người, lợi
mình hại người, tức là chúng ta phát triển cảnh giới địa
ngục và sống bất an trong cảnh giới đó vậy.
Sự
sám hối ví như chiếc xe đạp. Nghĩa là người chỉ
biết sự sám hối thôi, không hiểu rõ lý lẽ, thì đường
tu tiến chậm. Ði chùa lạy Phật, tụng kinh bái sám,
từ lâu lắm rồi, mà sao vẫn còn bực mình nhiều chuyện
quá, phiền não vẫn còn y nguyên, có khi còn nhiều hơn lúc
trước nữa.
Lý
sám hối ví như động cơ. Nghĩa là người chỉ biết lý sám
hối thôi, không chịu hành sự, thì đường tu cũng không tiến.
Hiểu rõ lý sám hối và năng hành sự sám hối, nghĩa là "lý
sự viên dung", lý sự đầy đủ vẹn toàn, thì đường tu
tiến được rất nhanh, cũng như đi xe có gắn máy thì chạy
nhanh hơn xe đạp vậy.
Tu
tiến có nghĩa là: giảm bớt phiền não và khổ đau, sống
được cảnh giới an lạc và hạnh phúc ngay hiện đời.
Dù
theo bất cứ tôn giáo nào chăng nữa, thực ra vị giáo chủ
cũng không thể ban phước cho chúng ta được bình an, sung sướng
hay an lạc và hạnh phúc. Các ngài chỉ cho chúng ta bản đồ,
chỉ cho chúng ta phương pháp, để chúng ta tự thực hành,
tự đi đến cảnh giới an lạc và hạnh phúc mà thôi.
Như vậy mới thực là chí công vô tư vậy.
Vì
thế cho nên, những người có trí tuệ bát nhã, luôn luôn
giữ gìn tam nghiệp cho thanh tịnh, tinh tấn tu tâm dưỡng tánh,
phát tâm bồ đề, tiến tu đạo nghiệp, chứ không phải chỉ
biết cầu nguyện, van xin, cầu khẩn, khấn vái. Tại
sao vậy? Bởi lẽ chẳng được lợi ích gì, chỉ thêm
phiền não, vì cầu nguyện hoài mà không được đáp ứng
gì cả!
Cầu
không được, khổ là cái chắc.
Cầu
bất đắc, tức khổ không sai.
Có
nhiều cách tu, nhiều phương pháp, nhiều pháp môn để giúp
chúng ta dừng nghiệp và chuyển nghiệp, cho nên Phật giáo
có nhiều tông phái. Tịnh độ tông dùng câu niệm Phật,
dùng cách quán tưởng, dùng thời khóa tụng kinh, để dừng
tất cả các nghiệp. Mật tông dùng câu thần chú đà-la-ni
để dừng tất cả các nghiệp. Thiền tông dùng pháp
khán thoại đầu, dùng công án nhà thiền, hay dùng "pháp đối
cảnh vô tâm", hay "pháp tri vọng", để dừng tất cả các
nghiệp.
Dừng
được một phần của "ba nghiệp", chúng ta bớt được một
phần "chướng nạn" của cuộc đời. Dẹp được một
phần "nghiệp chướng" của bản thân, chúng ta hưởng được
một phần cuộc sống an lạc và hạnh phúc ngay hiện đời.
Thí
dụ như bớt được chút lòng tham lam, chúng ta bớt được
chút khổ nạn, bởi vì tham thì thâm. Thí dụ như bớt
chút lòng sân hận, chúng ta bớt được chút phiền não nhức
đầu, bởi vì sân thì sinh sự. Thí dụ như bớt chút
lòng si mê, chúng ta bớt được chút khổ đau, bởi vì mê
thì mất tiền, mất của, mất tất cả!
* *
Ðến
đây, chúng ta cần hiểu rõ, phân biệt rõ: thế nào là "tội
và nghiệp", và thế nào là "tội báo và nghiệp báo".
Sau một thời gian tu hành nào đó, khi tâm được thanh tịnh,
ba nghiệp không còn, thân khẩu ý hoàn toàn thanh tịnh, "tội
và nghiệp" không còn nữa, bởi vì chúng ta không còn tạo
nghiệp, không còn tạo tội.
Do
thành tâm sám hối, "tội và nghiệp mới" không còn tạo ra
nữa, nhưng tội báo và nghiệp báo, nói chung là quả báo,
từ "tội và nghiệp cũ" vẫn còn. Chúng ta đã tạo "nghiệp
nhân" thì nhứt định phải nhận "nghiệp quả", không thể
chạy đâu cho khỏi. Người đời thường gọi đó là
"số trời đã định", hay "định mệnh đã an bài", hoặc "chạy
trời không khỏi nắng", chính là nghĩa đó vậy.
Trong
Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy:
Dù
cho lên non,
xuống
biển vào hang,
nghiệp
báo đã mang,
vẫn
theo con người,
như
hình với bóng,
không
ai có thể,
tránh
được thoát được.
Các
bậc thánh thiện là những người đã thanh tịnh được tam
nghiệp nên có cuộc sống an nhàn, tự tại trong nội tâm,
trong tâm thức. Tuy nhiên, trên hình thức bên ngoài, chúng ta
thấy cuộc sống của các vị giáo chủ, của các bậc thánh
nhơn không phải là không có sóng gió, không phải là không
có chuyện bất trắc xảy ra. Có khi các ngài vẫn bị
vu cáo, nhục mạ, phỉ báng, xét xử, kết án và thậm chí,
bị hành hình như những tội phạm hình sự. Tại sao
vậy?
Bởi
vì, các ngài tuy đã dứt hết các "tội và nghiệp" đời này,
nhưng tội báo và nghiệp báo, nói chung là "quả báo", từ
nhiều đời và nhiều kiếp trước vẫn còn, các ngài vẫn
phải trả. Các ngài, cũng như bất cứ ai, không thể
đứng ngoài luật nhân quả được.
Chẳng
hạn như: Vào cuối thế kỷ thứ ba, vị tổ thứ hai mươi
bốn là Aryasimha tuy đã đắc đạo, nhưng vẫn bị vua Kế
Tân chém đầu. Vào đầu thế kỷ thứ bảy, vị tổ
thứ hai mươi chín, là Tổ Sư Huệ Khả, bị vu cáo và bị
giam đến chết trong ngục, thọ 107 tuổi! Tổ Bá Trượng
Hoài Hải trong một buổi thuyết giảng, có gặp một ông lão,
nguyên là một vị Hòa Thượng, vì hiểu sai và giảng sai luật
nhân quả, cho là một khi con người đắc đạo rồi, thì không
phải trả quả báo, thoát ngoài luật nhân quả, cho nên phải
bị đọa 500 kiếp chồn.
Chúng
ta cũng thường hay nghĩ như vậy, cho là sám hối xong thì sạch
tội và sẽ được bình an, không tai nạn gì nữa cả, không
phải trả quả báo! Hiểu như vậy là sai! Chúng
ta thường lầm lẫn "tội nghiệp mới" với "quả báo cũ".
Chúng ta cần nên biết rằng chúng ta không thể nhờ bất cứ
ai tha tội, xóa tội, miễn tội, gánh tội thay thế cho chúng
ta được. Tại sao vậy? Bởi vì như vậy trái với
luật nhân quả, lẽ công bằng và không hợp tình, hợp lý
chút nào.
Trong
tam tạng kinh điển, Ðức Phật chỉ dạy rất rõ ràng vấn
đề "tội và báo" này. Khi nào chúng ta không còn tâm
si mê muốn quịt nợ, chúng ta sẽ nhận biết được dễ dàng
hơn, thấu đáo hơn, không còn bị dối gạt, không còn lầm
lẫn nữa.
Chúng
ta thử xét thí dụ sau đây, để hiểu biết thêm về "tội
báo, nghiệp báo, quả báo, và phước báo". Theo luật
nhân quả, do hậu quả của tội lỗi đã làm, gọi là "nghiệp
nhân", con người gặp những bệnh tật, những tai nạn, những
bất trắc ở đời, gọi là "nghiệp quả hay nghiệp báo".
Con người phải gánh chịu "quả báo hay tội báo" như vậy,
ví như phải ăn một nắm muối. Phải ăn một nắm
muối thì khổ biết là bao nhiêu. Nếu như con người
có thể bỏ nắm muối vào tô nước rồi uống thì có lẽ
dễ chịu hơn chút đỉnh. Nếu như con người có thể
bỏ nắm muối vào lu nước rồi uống thì dễ chịu hơn chút
nữa. Nếu như con người có thể bỏ nắm muối đó vào
hồ nước lớn rồi uống thì chắc là câu chuyện không thành
vấn đề nữa rồi.
Nắm
muối bị bắt buộc phải ăn tượng trưng cho "tội báo, nghiệp
báo, hay quả báo", do những tội lỗi chúng ta đã làm từ
nhiều đời trước hay đời này. Nước trong tô, trong
lu, trong hồ tượng trưng cho "phước báo" ít hay nhiều, chúng
ta đã tạo được từ những việc làm phước thiện, phước
đức, trong các đời trước hay đời này. Như vậy, nếu
con người phải đền trả hoàn toàn đầy đủ những tội
lỗi do chính mình gây ra, đời trước hay đời này, thì có
khi phải tán gia bại sản, bệnh tật ngặt nghèo, nguy hại
tánh mạng. Nhưng nhờ đã làm các việc phước thiện,
nên có "phước báo" để bù đắp, cho nên hoàn cảnh
khổ đau, tai nạn có thể được giảm bớt hay hóa giải đi.
Chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không. Ví như con
người có tiền tiết kiệm để dành, có thể đem trả, trừ
bớt nợ hay trừ dứt nợ xưa vậy.
Bởi
vậy, làm việc phước thiện, tạo phước đức, có phước
báo, để tiêu trừ tội nghiệp là thái độ tích cực và
hợp đạo lý, đối với bất cứ ai trên thế gian này, hơn
là việc cầu nguyện thượng đế để xin xá tội, để chạy
tội, hoặc đổ hết tội lỗi của mình cho thượng đế gánh
giùm! Thật là thảm thương thay cho thượng đế do con
người đặt ra, tưởng tượng ra, để gánh vác hết tội
lỗi của nhân loại trên thế gian này!
Con
người vốn hay muốn quịt nợ, muốn trốn tránh trách nhiệm,
không sợ nhân chỉ sợ quả, không bao giờ nhìn nhận những
việc sơ sót, sai trái, tội lỗi, lỗi lầm, chính mình đã
làm, chỉ biết trách cứ người khác, đổ thừa tại người
này, đổ thừa tại việc kia, không bao giờ dám nhận là "tại
mình", không bao giờ chịu nhận là "lỗi tại tôi mọi đàng".
Tại sao vậy? Bởi vì con người không hiểu thấu đáo,
không biết tin sâu luật nhân quả vậy.
* *
*
Tóm lại,
trong kinh sách, Ðức Phật có dạy:
Tam
nghiệp hằng thanh tịnh.
Ðồng
Phật vãng tây phương.
Nghĩa
là nếu như lúc nào ba nghiệp của chúng ta đều thanh tịnh,
lặng yên, trong sáng, thân không sát sanh, trộm cắp, tà dâm,
khẩu không nói dối, không nói lời thị phi, không đâm bị
thóc thọc bị gạo, không xuyên tạc phỉ báng, không vu khống
cáo gian, ý không còn tham lam, sân hận, si mê, thì chắc chắn
chúng ta sẽ được an lạc và hạnh phúc hiện đời, sẽ cùng
chư Phật về cõi tây phương cực lạc sau này.
Những
người không thấu hiểu lẽ này, nên nghĩ là có thể "đới
nghiệp vãng sanh", tức là còn mang nghiệp mà vẫn có thể
vãng sanh tây phương, nhờ vào câu niệm Phật A Di Ðà.
Ðó là một sự suy nghĩ sai lầm lớn lao của người tu đạo,
không đúng Chánh Pháp.
Trong
Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật có dạy: Tất cả nghiệp chướng
đều do vọng tưởng, nếu muốn sám hối, hãy ngồi tĩnh tâm
quán sát thực tướng.
Nghĩa
là khi quán sát thực tướng, nếu người nào biết được
tánh chúng sanh là tánh niết bàn thì người ấy cùng cực
giải thoát.
Trong
kinh sách có câu:
"Phật
và chúng sanh tánh thường rỗng lặng", hay: "Năng
lễ sở lễ tánh không tịch", chính là nghĩa này vậy.
Xét
cho đến ngọn nguồn, tội nghiệp đều do vọng tưởng điên
đảo mà sinh ra. Nhưng tâm vọng tưởng điên đảo ấy cũng
như luồng gió giữa chốn hư không, chẳng có chỗ nào trụ,
chẳng có chỗ nào dính mắc.
Khi
chưa thấu hiểu chân lý, mang mang mờ mờ mịt mịt, cho nên
chúng ta mới gây tội nghiệp, nhưng lại chỉ thấy tội nghiệp
của người khác. Ðến khi rõ lý lẽ, tất cả tội lỗi
trước đây thảy đều tiêu diệt, bởi chúng ta đã thấy
tội nghiệp của chính mình. Lúc ấy mới biết một cách
rốt ráo, tất cả đều là không: không có tội lỗi gì để
mà tiêu diệt, không có tội nghiệp gì để mà tạo tác, không
thấy có nghiệp báo gì để mà gánh chịu, cũng không còn
sanh tử luân hồi nữa vậy.
Tỳ-Khưu
Thích-Chân-Tuệ
cutranlacdao@yahoo.com
cosophathoctinhquangcanada.org
MƯỜI
ĐIỀU TÂM NIỆM
Tỳ
Khưu Thích Chân Tuệ
 |
 |
Mười
điều tâm niệm trong "Luận Bảo Vương Tam Muội":
Điều
1 : Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh
khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sanh. Hãy lấy
bệnh khổ làm thuốc thần
Điều
2 : Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không
hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy. Hãy lấy hoạn nạn làm giải
thoát.
Điều
3 : Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc,
vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo. Hãy lấy
khúc mắc làm thú vị.
Điều
4 : Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không ma chướng,
vì không ma chướng thì chí nguyện không kiên cường. Hãy
lấy ma quân làm bạn đạo.
Điều
5 : Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành
thì lòng khinh thường kiêu ngạo. Hãy lấy khó khăn làm thích
thú.
Điều
6 : Giao tiếp thì đừng cầu lợi mình, vì lợi mình
thì mất đạo nghĩa. Hãy lấy kẻ tệ bạc làm người giúp
đỡ.
Điều
7 : Với người thì đừng mong tất cả thuận theo
ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.Hãy
lấy người chống đối làm nơi giao du.
Điều
8 : Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp
là thi ân có ý mưu đồ. Hãy coi thi ân như đôi dép bỏ.
Điều
9 : Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si
mê phải động. Hãy lấy sự xả lợi làm vinh hoa.
Điều
10 : Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là
nhân ngã chưa xả. Hãy lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh.
* *
* *
Trên
thế gian này, cuộc sống đầy dẫy những sự bất trắc,
bất như ý, con người phải bon chen quanh năm suốt tháng để
sống còn, phải tranh đấu một cách vất vã để vươn lên,
để vượt qua những cơn sóng gió của cuộc đời, những
bước thăng trầm của thế sự. Con người thường mang
tâm trạng hoang mang, âu lo, sợ hãi khi hướng về tương lai,
không biết rồi đây ngày mai mình sẽ ra sao, cuộc đời của
mình sẽ như thế nào, chuyện gì sẽ xảy ra cho mình và người
thân của mình? Cho nên con người thường mong muốn mọi
chuyện được bình yên, suôn sẻ, may mắn, chuyện gì cũng
đều tốt đẹp như ý. Lòng mong muốn cao độ đó thường
dẫn tới sự cầu nguyện, van xin Trời Phật ban cho những
điều mơ ước vượt tầm tay, tưởng chừng như ngoài khả
năng của con người.
Chúng
ta cần nên biết rằng: Đức Phật không phải là thần linh,
chuyên ban phước lành, ban ân sủng cho mọi người. Cũng
không có lý do nào Đức Phật ban phước lành cho riêng mình,
mà không ban cho người khác. Thực ra, đạo Phật giảng
dạy nhiều phương pháp hành trì, gọi là "vô lượng pháp
môn", để giúp con người tự lực, mạnh mẽ vượt lên trên
mọi sóng gió phiền não, khổ đau của cuộc đời, bước
ra khỏi vòng trầm luân sanh tử, tự tạo cuộc sống an lạc
và hạnh phúc cho chính mình. Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật
có dạy:"Hãy tự thắp đuốc lên mà đi. Thắp lên với Chánh
Pháp". Nghĩa là chúng ta hãy tự thắp sáng ngọn đuốc
trí tuệ của chúng ta, bằng cách học hiểu những lời dạy
của Đức Phật, và đem áp dụng trong cuộc sống hằng ngày,
để thấy được sự mầu nhiệm của Chánh Pháp, để tự
cứu mình và giúp đỡ người khác.
* *
*
Trong
kinh sách của Phật giáo, những lời dạy quý báu có thể
giúp đỡ chúng ta vượt qua những cơn sóng gió của cuộc
đời, vượt qua những bước thăng trầm của thế sự, được
ghi chép khắp nơi, chẳng hạn như trong "Luận Bảo Vương Tam
Muội", chúng ta có "Mười Điều Tâm Niệm" cần nên thường
xuyên chiêm nghiệm, suy tư, nghĩ tưởng luôn luôn, để mỗi
khi "bát phong" ập đến, nghĩa là sóng gió của cuộc đời
dồn dập xảy ra, chúng ta có thể đối phó, ứng xử một
cách dễ dàng hơn, không bị nhận chìm trong biển nước mắt
của phiền não và khổ đau.
*
Điều
1: Điều thứ nhứt trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:
"Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ,
vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sanh. Hãy lấy bệnh
khổ làm thuốc thần". Tại sao vậy? Bởi
vì khi nào con người còn mang tấm thân tứ đại, thì còn
đau khổ vì bệnh tật. Tấm thân tứ đại bao gồm đất,
nước, gió, lửa, thường xuyên chống trái nhau, gây đau đớn,
khổ sở cho con người. Người nào có phước nhiều thì
ít bệnh. Người nào
ít phước, kém phước, bạc phước
thì bệnh tật triền miên. Cho đến khi hết duyên ở
đời, con người phải ra đi, nhưng tấm thân tứ đại này
thì để lại, tan rả và trở về với tứ đại trong trời
đất. Cát bụi lại trở về với cát bụi, thế thôi.
Người nào tạo phước nhiều thì ra đi dễ dàng, nhẹ nhàng,
êm thắm. Người nào tạo nghiệp nhiều thì ra đi khó
khăn, hành hạ thân xác, khổ lụy người thân!
Con
người không ai mong cầu bệnh khổ, cho dù cầu mong không bệnh
khổ, nhưng bệnh khổ vẫn cứ đến. Nếu không có bệnh
khổ, con người khỏe mạnh thường sinh dục vọng khó kềm
chế. Thỏa mãn những dục vọng này, con người gây thêm
biết bao nhiêu là nghiệp báo, để rồi phải đền trả, cho
nên phải lăn lộn trong biết bao nhiêu kiếp luân hồi sanh
tử, bao giờ mới có thể dứt, có thể thoát ra được?
Bởi vậy cho nên, Đức Phật dạy chúng ta đừng cầu không
bệnh khổ, nên coi bệnh khổ như là món thuốc thần, là tiên
dược để điều trị những dục vọng trong tâm thức của
chúng ta. Dục vọng càng nhiều chừng nào, con người
càng phiền não và khổ đau chừng ấy. Đạo Phật là
đạo cứu khổ nhân loại. Phật Pháp có công năng điều
trị tâm bệnh của chúng sanh. Chúng sanh có muôn ngàn
tâm bệnh thì Phật Pháp có tám muôn bốn ngàn pháp môn đối
trị.
Chẳng
hạn như người hay tham lam, bỏn sẻn thì pháp đối trị là
hạnh bố thí. Người nào hiểu được hạnh bố thí
đem lại vô lượng vô biên phước báu và thực hành được
hạnh bố thí hằng ngày thì tâm tham lam, bỏn sẻn sẽ giảm
đi nhiều. Chẳng hạn như người hay nóng giận thì pháp
đối trị là quán từ bi. Con người tăng trưởng tâm
từ bi được thì những cơn nóng giận sẽ giảm đi rất nhiều.
Cặp mắt của người có tâm từ bi, luôn luôn thương nhìn
cuộc đời, cư xử nhẹ nhàng, dễ dãi với mọi người chung
quanh, khó nổi cơn sân với những lỗi lầm, sai trái của
người khác, không lợi dụng lòng từ bi của mọi người.
Các bậc phụ huynh cần có tâm từ bi quảng đại mới có
thể giữ gìn được hạnh phúc trong gia đình. Các nhà
giáo cần có tâm từ bi quảng đại mới có thể thương yêu,
dạy dỗ học sinh như con ruột của chính mình. Các nhà
tu cần có tâm từ bi quảng đại mới có thể thương xót
chúng sanh đang trầm luân đau khổ, phát nguyện tu hành tinh
tấn để tự độ và độ tha, sẵn sàng hy sinh, phục vụ
nhơn loại. Chẳng hạn như người hay cố chấp, sống
để dạ chết mang theo những lời người khác nói mích lòng
thì pháp đối trị là tâm hỷ xả. Người nào hiểu
được rằng chứa chấp càng nhiều trong tâm thức của mình
thì càng bị trầm luân trong sanh tử luân hồi, trong phiền
não và khổ đau, chẳng ích lợi gì, bèn cố gắng phát triển
tâm hỷ xả, tự khắc sẽ cảm thấy khinh an, nhẹ nhàng, mắt
sẽ nhìn cuộc đời một cách lạc quan hơn, cuộc sống sẽ
an lạc
hơn.
*
Điều
2: Điều thứ hai trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:"Ở
đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì
kiêu xa nổi dậy. Hãy lấy hoạn nạn làm giải thoát".
Tại sao vậy? Bởi vì van xin cầu khẩn thực sự có được
gì đâu. Con người kiếp trước tạo ít phước báo,
gây nhiều nghiệp báo, cho nên cuộc sống kiếp này mới gặp
nhiều hoạn nạn, bất trắc, bất như ý. Muốn cuộc
sống bớt hoạn nạn, vui nhiều hơn khổ, con người cần tích
cực tu tâm dưỡng tánh, làm phước tạo phước kiếm phước
nhiều hơn, đừng làm người khác đau khổ, dù bằng hành
động, lời nói hay ngay cả trong ý nghĩ cũng vậy. Chúng
ta nên nhớ rằng: chỉ có phước báo mới có thể che chở
chúng ta qua những cơn hoạn nạn mà thôi. Không có Trời
Phật nào cứu chúng ta khi gặp hoạn nạn đâu. Cũng như
chỉ có chiếc ghe mới có thể chở chúng ta qua sông mà không
bị thấm nước vậy.
Con
người không ai cầu mong hoạn nạn, cho dù mong cầu không hoạn
nạn, nhưng hoạn nạn vẫn cứ tới, nguyên do là chúng ta phải
đền trả những nghiệp báo đã tạo từ trước, không ai
có thể tránh khỏi. Những người nào sống ở trên đời
không gặp hoạn nạn, làm việc gì cũng thành công dễ dàng,
người đó thường sanh tâm kiêu căng, ngạo mạn, phách lối,
tiêu xài xa xỉ, khinh thường thế nhân, nghi kỵ mọi người,
khiến mọi người xa lánh, không ai muốn gần gũi, thân cận,
vì chẳng ích lợi gì. Khi gặp hoạn nạn, con người
thường không còn tâm kiêu căng, vì kiêu căng thì gặp nạn,
không còn xa hoa phung phí, tâm không còn duyên theo cảnh trần,
không còn dễ nổi lòng tham lam, không còn dễ sân hận, không
còn si mê lầm lẫn, bởi vì tham thì gặp nạn, sân thì gặp
nạn, ngu thì gặp nạn! Nghĩa là hoạn nạn giúp cho con
người sớm giải thoát khỏi những trói buộc của tham lam,
sân hận, si mê, ngã mạn, nghi kỵ, chính là nghĩa đó vậy.
Hơn
nữa, trong cuộc sống phức tạp, nhiều khi gặp hoạn nạn
này, có thể chúng ta tránh được hoạn nạn khác lớn hơn.
Thí dụ như có người vì thua bạc nên mất vé tàu đi du lịch,
cho nên thoát chết, vì chuyến tàu đó bị chìm đắm ngoài
biển khơi! Nghĩa là có khi trong hoạn nạn, chúng ta có
thể tìm được sự may mắn, hay bài học, hoặc kinh nghiệm
nào đó vậy. Không có chuyện gì hoàn toàn xui xẻo,
không có chuyện gì hoàn toàn may mắn cả. Chẳng hạn
như trúng số độc đắc có thể giúp chúng ta mua nhà, tậu
xe, làm ăn buôn bán, cũng có thể gây bất hòa trong gia đạo,
làm cho gia đình tan nát, hay trộm cướp viếng thăm, hoặc
mừng quá nghỉ thở luôn! Chẳng hạn như tù tội gian
khổ, đối với bậc thánh nhân phi phàm, là cơ hội tốt nhứt
để rèn luyện tâm tánh, để suy tư sáng tác những tác phẩm
để đời! Biết bao nhiêu bậc vĩ nhân, hiền triết trên
thế giới, xuất thân từ ngục tù! Còn đối với kẻ
hèn yếu, hoạn nạn chính là địa ngục trần gian, nhận chìm
họ trong biển khổ đau, phiền não!
*
Điều
3: Điều thứ ba trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:"Cứu
xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc
mắc thì sở học không thấu đáo. Hãy lấy khúc mắc làm
thú vị". Tại sao vậy? Bởi vì tâm tánh của
chúng ta, vì duyên theo cảnh trần, cho nên không cố định,
thường xuyên thay đổi. Gặp cảnh thuận lòng vừa ý,
tâm trạng của chúng ta vui tươi, hớn hở, hỷ hạ, hân hoan,
hài lòng. Gặp cảnh trái tai gai mắt, tâm trạng của
chúng ta nổi sóng gió ngay, nhẹ thì còn giữ được trong lòng,
nặng thì phun ra miệng những cơn bực dọc, tức tối.
Gặp đối phương biết nhẫn nhịn, thì mọi việc còn có
thể êm xuôi, qua chuyện. Gặp phải người cứng cổ,
cang cường, ngoan cố, thì câu chuyện không biết sẽ kết
thúc như thế nào? Có thể người đi nhà thương hay vào
nhà xác, còn người khác đi nhà tù!
Trong
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy: "Căn bản của sanh
tử luân hồi là vọng tâm. Căn bản của bồ đề niết bàn
là chơn tâm". Nghĩa là tâm tánh của chúng ta luôn luôn
xao xuyến, loạn động, bất an, được gọi là "vọng tâm",
tức là tâm vọng động vì duyên theo cảnh trần. Lúc
tâm trạng buồn thảm, thê lương, thì chúng ta cảm thấy cảnh
vật chung quanh cũng chẳng có gì vui vẻ cả. Trái lại,
khi trong lòng thấy vui, có niềm hoan hỷ, chúng ta cảm thấy
cảnh vật chung quanh dường như đang chia xẻ niềm vui hân
hoan đó với chúng ta. Chính vọng tâm là căn bản của
sanh tử luân hồi. Tại sao vậy? Bởi vì vọng tâm
lúc vui lúc buồn, lúc thương lúc ghét, lúc tốt lúc xấu,
lúc nghĩ chuyện đông lúc nghĩ chuyện tây, lúc nghĩ chuyện
hiện tại, lúc nghĩ chuyện quá khứ, vị lai, lúc vầy lúc
khác, lúc có lúc không, lúc còn lúc mất, sanh diệt liên miên
trong từng sát na, trong từng giây phút, ví như con ngựa chạy
lung tung linh tinh lang tang khắp chốn, ví như con vượn chuyền
từ cành cây này sang cành cây khác khắp nơi vậy.
"Vọng
tâm" là động lực chính dẫn dắt chúng sanh tạo nghiệp trong
vòng sanh tử luân hồi. Muốn tâm được an, mỗi khi vọng
tâm khởi lên, chúng ta nhận biết ngay, dừng lại lập tức,
đừng theo đuổi nó, thì được giải thoát khỏi những hệ
lụy ưu phiền sau đó, phiền não và khổ đau sẽ không đến!
Khi sống ở đời, tiếp xúc với mọi cảnh, mọi sự, mọi
việc, vẫn sinh hoạt như bao nhiêu người khác, nhưng tâm vẫn
như như, an định, không xao xuyến, không loạn động, tức
là chúng ta đang sống trong cảnh giới niết bàn, an lạc, tịch
diệt, nói cách khác, lúc đó chúng ta sống với "chơn tâm"
đó vậy. Chơn tâm ví như mặt biển yên lặng, phẳng
lờ, rộng rãi, bao la bát ngát. Vọng tâm ví như những
ngọn sóng do gió thổi gây nên, gió nhẹ sóng nhỏ, gió mạnh
sóng to. Sách có câu:
Tâm
buồn cảnh được vui sao.
Tâm
an dù cảnh ngộ nào cũng an.
Tục
ngữ cũng có câu: "Dò sông dò biển dễ dò. Đố ai lấy thước
mà đo lòng người". Nghĩa là tâm tánh của con người
biến thiên không cùng, lòng dạ con người còn khó dò hơn
sông hơn biển, cho nên khi cứu xét tâm tánh, chúng ta không
thể nào tránh được những khúc mắc. Chúng ta đừng
nãn lòng vì những khúc mắc đó. Bởi vì chính những khúc
mắc đó giúp chúng ta thêm nhiều thú vị, hăng hái hơn trên
bước đường tu tâm dưỡng tánh, xả bỏ những tạp niệm,
vọng tâm, loạn tưởng. Chúng ta luôn luôn thúc liễm
thân tâm trong từng giây phút, đừng để vọng tâm dối gạt,
nghĩ rằng mình tu đã khá lắm rồi, đã hiền thiện lắm
rồi, đã đạt được điều này điều nọ. Có những
lúc chúng ta làm những điều bất thiện, lợi mình hại người,
kiện thưa người khác, đòi bồi thường bạc triệu, đó
là lòng tham lam. Chúng ta đem bố thí hay cúng chùa vài
chục bạc, vọng tâm dối gạt mình: thế là xong, hết tội
rồi! Trong thiền tông, chư Tổ dạy chúng ta phải "sống
trong tỉnh thức", hay "sống trong chánh niệm", chính là nghĩa
đó vậy.
*
Điều
4: Điều thứ tư trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:"Xây
dựng đạo hạnh thì đừng cầu không ma chướng, vì không
ma chướng thì chí nguyện không kiên cường. Hãy lấy ma quân
làm bạn đạo". Tại sao vậy? Bởi vì ma chướng
ở đây có nghĩa là những lời khen tiếng chê, là danh thơm
hay tiếng xấu. Nếu chúng ta có thể coi những người
khen chê như những người giúp đỡ chúng ta trên bước đường
tu tập, rèn luyện tâm tánh, thì chính họ là bạn đạo, là
thiện hữu tri thức, là bồ tát nghịch hạnh, là giám khảo
trên đường đạo của chúng ta vậy. Bởi vì ma chướng
ở đây cũng có nghĩa là những sóng gió của cuộc đời,
những chuyện phiền não khổ đau, những chuyện thị phi phải
quấy, những chuyện bất trắc bất như ý, những chuyện lăng
xăng lộn xộn hằng ngày. Thông suốt được như vậy,
chí nguyện của chúng ta mới kiên cường, không thoái chuyển,
khi gặp lời khen hay tiếng chê, danh thơm hay tiếng xấu, khi
gặp bát phong của cuộc đời, và tâm trí của chúng ta mới
không bị dao động.
Chúng
ta không ai mong cầu ma chướng, cho dù cầu mong không ma chướng,
nhưng ma chướng vẫn cứ tới đều đều. Trên đời
này có thiếu gì những kẻ luôn luôn dòm ngó người khác,
để vạch lá tìm sâu, để bới lông tìm vết, trong khi bản
thân họ thì đủ thứ thói hư tật xấu. Trong Kinh Pháp
Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng có dạy: "Khi lên tiếng phê bình
lỗi của người khác, thì lỗi của mình đã ở ngay bên chân
rồi đó vậy". Tuy nhiên, dù ma chướng có tới thường
xuyên cỡ nào, nếu biết tu tâm dưỡng tánh, chúng ta cũng
có thể chấp nhận được, chịu đựng được, coi đó như
là những thử thách cần thiết để nhắc nhở chúng ta rèn
luyện tâm tánh, chuyển hóa cuộc sống từ phiền não khổ
đau thành an lạc hạnh phúc. Sách có câu: "Ví phỏng đường
đời bằng phẳng cả. Anh hùng hào kiệt có hơn ai", chính
là nghĩa đó vậy.
*
Điều
5: Điều thứ năm trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:
"Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì
lòng khinh thường kiêu ngạo. Hãy lấy khó khăn làm thích thú".
Tại sao vậy? Bởi vì việc làm nào càng khó khăn, càng
gian khổ bao nhiêu, mà chúng ta có thể vượt qua, đạt được
thành công, thắng lợi, thì việc làm đó càng vinh quang, hiển
hách bấy nhiêu. Chẳng hạn như bài toán càng khó khăn
bao nhiêu, khi giải được, tìm được kết quả, càng thích
thú bấy nhiêu. Việc làm nào dễ thành chỉ là những
việc làm tầm thường, không có giá trị cao, hoặc người
thực hiện có thừa khả năng, cho nên dễ sanh ra khinh thường
mọi việc, kiêu ngạo, coi trời bằng nắp vung.
Ở
trên thế gian có nhiều việc rất khó khăn, ít người thành
đạt, chẳng hạn như thi đậu bằng cấp này, bằng cấp kia,
tìm ra món thuốc điều trị mới, phát minh ra máy móc hiện
đại, tối tân, sáng chế ra cách thức làm việc khoa học
hơn, đem lại năng suất cao hơn. Các bậc anh hùng cứu
quốc, có thể đem lại độc lập, tự do, no ấm cho một dân
tộc, không phải ai ai cũng có thể làm được một cách dễ
dàng. Trên phương diện xuất thế gian, việc tu tâm dưỡng
tánh cũng vậy, nếu ai ai tu tập sơ sài, cũng có thể thành
Phật được, thì quả vị Phật đâu còn giá trị bao nhiêu.
Một vị Phật ra đời đem lại phước báu, ích lợi cho biết
bao nhiêu chúng sanh, trong biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp,
không thể nghĩ bàn. Có những người tu hành đạt được
vài thành quả nhỏ nhoi, cũng tưởng đâu đã thành Phật,
thành thánh nhơn, không ai bằng!
*
Điều
6: Điều thứ sáu trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:
"Giao tiếp thì đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì
mất đạo nghĩa. Hãy lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ".
Tại sao vậy? Bởi vì những mối lợi, dù nhỏ dù lớn,
trên thế gian, cũng đều là những mục tiêu tranh giành, chiếm
đoạt của bao nhiêu người. Người đời thường không
ngại dùng đủ mọi thủ đoạn, để tranh danh đoạt lợi,
cho nên bất chấp đạo nghĩa, luân lý, tình thương, quan hệ.
Con người sẵn sàng thượng đội hạ đạp, chà đạp mọi
người chung quanh, chỉ vì chút danh lợi nhỏ nhoi. Danh
lợi ở đời ví như những miếng mồi câu cá. Cá nhỏ
tới ăn miếng mồi liền bị cá lớn đớp gọn! Cá lớn
đớp cá nhỏ xong, thì bị lưới lên ghe ngay tức thì!
Có người chán danh lợi thế gian, hoặc không đủ khả năng
tranh đua, kiếm sống ngoài đời, bèn đi tìm danh lợi trong
chốn thiền môn! Thiệt là tội nghiệp!
Trong
Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy: "Khi tới ngã ba đường, nếu
thấy cái cây đầy trái chín mọng, không ai hái ăn, thì nên
hiểu rằng đó là trái độc". Nghĩa là ở đời không
có mối lợi lớn nhỏ nào dành sẵn cho mình hưởng, hay người
khác đem dâng tặng mình, mà không có cái bẫy rập độc hại
bên trong, bên dưới, hay phía sau, chờ đợi người tham lam,
mê muội, thiếu suy nghĩ. Người đời thường thả con
tép để bắt con tôm. Người nào tham lợi lớn, ham lời
nhiều, thường hay bị lợi dụng, bị sập bẫy một cách
dễ dàng, ví như cá thường hay cắn câu vậy. Cũng như
những người không cố gắng tu tâm dưỡng tánh, không chịu
học hiểu Chánh Pháp, không làm lợi ích gì cho chúng sanh,
cho đạo pháp, chỉ tham danh lợi, thích sự sung sướng, thì
quả báo, nghiệp báo tới liền sau đó.
Trong
phạm vi gia đình, nếu vợ chồng con cái giao tiếp với nhau
hằng ngày mà không biết thương yêu nhau, không biết nghĩ
đến nhau, không biết hy sinh cho nhau, người nào cũng chỉ
nghĩ đến quyền lợi riêng mình, chỉ nghĩ đến sự sung sướng
bản thân, thì còn gì là đạo nghĩa vợ chồng, còn gì là
tình cha con, còn gì là mẫu tử tình thâm, còn gì gọi là
hạnh phúc gia đình?
Trong
phạm vi xã hội, trong lúc giao thiệp tiếp xúc hằng ngày,
người nào chỉ nghĩ đến, chỉ mong cầu lợi mình, bất chấp
hại người, người đó làm sao sống hòa thuận, yên ổn,
vui vẻ với những người chung quanh? Người quá ích kỷ
như vậy làm sao kết bạn được với ai, làm sao sống cuộc
đời hạnh phúc? Hạnh phúc thực sự chỉ có với những
người biết hai chữ "hy sinh" mà thôi. Trong cuộc đời,
những kẻ ích kỷ, tệ bạc, chỉ biết lợi mình, bất chấp
hại người, chẳng kể nhân tình, chẳng màng đạo nghĩa,
nhiều không biết bao nhiêu mà kể cho xiết. Nhưng chính
những người như vậy lại là kẻ giúp đỡ người biết
tu tâm dưỡng tánh, để rèn luyện tâm tánh của mình.
Có gặp những kẻ tệ bạc như vậy mà tâm trí của chúng
ta vẫn như như, bất động, bình tĩnh, thản nhiên, mới biết
được công phu tu tập của mình đến đâu. Nếu tất
cả mọi người đều tốt, đều hiền thiện, đều biết
đạo nghĩa, thì chúng ta đâu biết tâm mình ra sao? Bởi
vậy cho nên, người nào thực sự muốn phát tâm tu học, thì
ngay cuộc đời này, ngay cõi ta bà ngũ trược ác thế này,
chính là trường tu tốt nhứt vậy, không cần phải đợi
vãng sanh tây phương cực lạc mới chịu bắt đầu tu.
Tại sao vậy? Bởi vì cõi tây phương cực lạc, như Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni dạy trong Kinh A Di Đà, là nơi chỉ toàn
bậc thánh nhơn, chư thượng thiện nhơn câu hội, đâu cần
phải tu làm gì nữa, đâu có chỗ chứa hạng phàm phu không
chịu tu!
*
Điều
7: Điều thứ bảy trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:"Với
người thì đừng mong tất cả thuận theo ý mình, vì được
thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng. Hãy lấy người
chống đối làm nơi giao du". Tại sao vậy?
Bởi vì sách có câu "năm người mười ý", đâu ai có ý kiến
giống ai, mỗi người thường có ít nhứt hai ý kiến trong
cùng một vấn đề, nay vầy mai khác, thì làm sao bắt buộc
người khác phải thuận theo ý mình? Tại sao mình lại
không thuận theo ý người khác? Con người vì sự cố
chấp, chấp chặt như vậy cho nên phiền não và khổ đau dài
dài!
Trong
gia đình, nếu người chồng hay người vợ cố chấp, bảo
thủ ý kiến của riêng mình, thì làm sao gia đình đó có hạnh
phúc được? Cái gì của mình cũng đúng, cũng hay, cũng
nhứt cả, thì làm sao chịu nghe ý kiến của người khác?
Cha mẹ và con cái thuộc hai thế hệ khác nhau, thì tức nhiên
ý kiến, suy nghĩ, hoàn cảnh, môi trường sinh hoạt, tất cả
đều khác nhau, không thể khai trừ nhau, cho nên phải tùy thuận
nhau mà sống, mới có được hạnh phúc trong gia đình.
Trong thập đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, điều thứ
chín dạy: "Hằng thuận chúng sanh", chính là nghĩa đó vậy.
Tuy nhiên, tùy thuận chúng sanh không có nghĩa là một người
trong gia đình có lòng tham lam, xúi giục cả gia đình tham lam
theo, bất chấp thủ đoạn, lợi mình hại người!
Trong
phạm vi xuất thế gian, người tu theo pháp môn này chê bai
pháp môn khác cũng đều không đúng. Tại sao vậy?
Bởi vì đạo Phật có nhiều pháp môn tương ứng, thích hợp,
tùy theo căn cơ, trình độ, hoàn cảnh, sở thích của mỗi
người, để mọi người đều có thể tu tập được.
Chúng ta không nên nghĩ mọi người phải tu như mình, hành
như mình, mới là đúng. Ý nghĩ như vậy, tư tưởng như
vậy chỉ làm cho chúng ta càng ngày càng trở nên kiêu căng,
phách lối, ngạo mạn, chê người, khinh đời. Trái lại,
chúng ta nên giao du với những người chống đối, trái ý,
để luôn luôn suy xét, hoàn chỉnh ý kiến của mình, chuyển
hóa tâm tánh của mình, để học hỏi thêm cái hay cái tốt
của họ. Nhờ có những người nghịch ý, chống đối
như vậy chúng ta bớt lòng kiêu căng. Ví như chiếc xe
có máy móc để chạy, cũng cần có cái thắng mới hữu dụng
vậy. Nếu không có cái thắng, chắc chắn có ngày cũng
lọt xuống hố mà thôi.
*
Điều
8: Điều thứ tám trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:
"Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi
ân có ý mưu đồ. Hãy coi thi ân như đôi dép bỏ".
Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta thi ân, làm ơn vì lòng
tốt, chứ không phải vì muốn được cám ơn, nhớ ơn hay
đền ơn. Làm ơn mà muốn được cám ơn, muốn được
nhớ ơn, nghĩa là con người còn bản ngã, còn vì danh tiếng
mới chịu làm. Làm ơn mà muốn được đền ơn, nghĩa
là con người còn bản ngã, còn vì lợi lộc mới chịu làm.
Làm ơn như vậy chẳng có phước báu gì, chẳng được người
khác mang ơn, mà còn chuốc lấy oán hờn, thù ghét, chuốc
lấy ưu phiền, bực tức, khi gặp mặt kẻ vô ơn, bạc nghĩa.
Làm ơn như vậy rõ ràng là có mưu đồ, làm ơn thì ít, mà
muốn được đền ơn gấp bội phần. Chẳng hạn như
khi đến phúng điếu, giúp đỡ tang quyến người khác chẳng
bao nhiêu, lại muốn được "trả công bội hậu" ở nước
thiên đàng, thì quả là tham lam quá xá.
Trong
Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy: "Thi ân, bố thí bất trụ
tướng, phước đức bất khả tư lượng". Nghĩa là chúng
ta làm ơn bố thí, nhưng không chấp mình là người ban ơn
làm phước, không thấy có người thọ nhận việc phước
mình làm, không nhớ mình làm phước giúp đỡ điều gì, không
tính mình giúp đỡ bao nhiêu người. Được như vậy,
chúng ta sẽ ăn ngon ngủ yên, tâm trí không bất an vì những
chuyện phước đã làm, vì gặp những người vô ơn, không
tiếc nuối những vật đã đem cho, không ân hận đã giúp
đỡ lầm người. Làm ơn có nghĩa là làm phước, tạo
phước bòn phước, cứu đời giúp người, khi cần thiết,
lúc hoạn nạn, chỉ vì lòng tốt, vì tâm lượng từ bi, vì
muốn chuyển hóa tâm tánh của chính mình, thì như vậy mới
có thể làm ơn được lâu dài, giúp được nhiều người,
nhiều lần và phước báu vô lượng vô biên, không thể nghĩ
bàn. Sách có câu: "Thi ân bất cầu báo đáp", chính là
nghĩa đó vậy. Hàng phục được tâm ý, chuyển hóa được
tánh tình như vậy, chúng ta mới có thể phát nguyện độ
tất cả chúng sanh, mà không thấy có chúng sanh nào được
độ. Cho nên Đức Phật dạy hãy coi thi ân như đôi dép
bỏ, làm ơn làm phước xong rồi thì quên ngay đi, bỏ qua liền,
đừng ghi nhớ trong tâm thức cho thêm phần nặng nề.
Được như vậy, chúng ta mau tiến đến chỗ giác ngộ và
giải thoát.
*
Điều
9: Điều thứ chín trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:
"Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải
động. Hãy lấy sự xả lợi làm vinh hoa". Tại
sao vậy? Bởi vì lợi lộc trên đời thường do tranh
đấu, giành giựt, bon chen, bất chấp mọi thủ đoạn, bất
chấp nhơn nghĩa, bất chấp đạo lý, mới có được.
Lợi lộc không từ trên trời rơi xuống, không ở dưới đất
trồi lên. Khi thấy có lợi lộc, cả khối người nhào
vô, sẵn sàng chà đạp, gạt gẫm, loại trừ, giết hại lẫn
nhau để chiếm đoạt cho bằng được.
Nhiều
khi lợi lộc quá lớn lao, có thể khiến cho con người đánh
mất lương tri, sẵn sàng thanh toán người thân lẫn kẻ thù,
chỉ nhằm đoạt được mục tiêu mà thôi. Chẳng hạn
như một thái tử âm mưu sát hại phụ hoàng để chiếm ngai
vàng, con cái giết hại cha mẹ để đoạt gia tài, bạn bè
cáo gian để hại nhau, chiếm đoạt tài sản, vợ con người
khác. Con người vì ham lợi lộc cho nên chuyện gì cũng
dám làm, coi lợi lộc như vinh hoa phú quí cần phải có trên
thế gian, để ngẩng mặt nhìn đời cho có oai phong ngon lành.
Chính vì thế tâm si mê phải động, sai khiến con người làm
tất cả mọi chuyện để thỏa mãn lòng tham lam của mình.
Con người khi thấy lợi lộc liền nhúng tay vào, mà chẳng
cần biết hậu quả ra sao? Đó chính là tâm si mê vậy.
Các
sòng bạc được mở ra khắp nơi, chính là những cái bẩy
khổng lồ nuốt tiền của những người nhẹ dạ ham vui tham
tiền, hình như ai ai cũng biết vậy, nhưng người nào cũng
vẫn nuôi hy vọng là mối lợi to lớn ở các sòng bạc đó,
biết đâu may mắn đến với mình, cho nên mạnh mẽ nhào vô
lãnh đủ. Có nhiều người tán gia bại sản, nợ nần
tứ tung, nhưng vẫn không chừa, vẫn không không biết sợ!
Tục ngữ có câu: "Cờ bạc là bác thằng bần. Cửa nhà bán
hết nợ nần tứ tung". Có cửa nhà để bán trả nợ
là còn có phước đó! Người nào muốn tu tâm dưỡng
tánh thì phải xả bỏ tâm tham lợi, tâm si mê, phải biết
sống cuộc đời thiểu dục tri túc, ít muốn và biết thế
nào là đủ, tâm mới được khinh an, thơi thới, nhẹ nhàng,
cuộc sống mới được an lạc, cuộc đời mới được hạnh
phúc.
Trong
Kinh Di Giáo, Đức Phật có dạy:
Tri
túc chi nhơn tuy ngọa địa thượng du vi an lạc.
Bất
tri túc giả thân xử thiên đường diệc bất xứng ý.
Nghĩa
là người biết thế nào là đủ, không tham lợi lộc, thấy
lợi lộc không nhúng tay vào, tuy nằm trên đất nhưng vẫn
thấy an lạc hạnh phúc, bình yên vui vẻ. Chỉ cần "biết"
đủ, thì đã quá đủ rồi. Trái lại, người nào không
"biết", thì không bao giờ thấy đủ, tấm thân tuy được
ở trên thiên đường, tiền rừng bạc biển, giàu sang sung
sướng, nhưng tâm ý vẫn chưa thỏa mãn, cố gắng kiếm cho
thiệt là nhiều tiền vẫn chưa chịu thôi, chưa chịu ngưng,
chưa chịu an hưởng tuổi già gần đất xa trời. Sách
cũng có câu:
Tri
túc tiện túc đãi túc hà thời túc.
Tri
nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn.
Nghĩa
là "biết" thế nào là đủ, tức thời được đầy đủ ngay
lập tức, không cần phải đợi đến lúc có thiệt nhiều
tiền mới thấy đủ. Bao nhiêu mới gọi là nhiều đối
với người không biết đủ? "Biết" thế nào là nhàn, tức
thời được nhàn nhã ngay lập tức, không cần phải đợi
đến già, hay lúc nào hết. Nói tóm gọn là "biết" đủ
thì đủ, "biết" nhàn thì nhàn. Không "biết" thì cực
khổ tấm thân vậy thôi.
*
Điều
10: Điều thứ mười trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy
rằng: "Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là
nhân ngã chưa xả. Hãy lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh".
Tại sao vậy? Bởi vì con người kiếp trước tạo ít
phước báo, gây nhiều nghiệp báo, cho nên kiếp này mới gặp
nhiều điều oan ức. Cho nên khi gặp chuyện oan ức, không
cần phải than trời trách đất gì cả. Muốn cuộc sống
bớt những điều oan ức trái ngang, con người cần tích cực
tu tâm dưỡng tánh, cần cố gắng làm phước nhiều hơn, cố
tránh đừng gieo tiếng oán, đừng loan truyền tin đồn, đừng
vu oan giá họa, đừng làm đau khổ cho người khác, dù cho
đó là kẻ thù của mình, kẻ mình không ưa cũng vậy.
Người
nào nói xấu mình, mình bèn tìm đủ cách nói xấu lại, cho
bỏ ghét. Người nào hại mình, mình bèn tìm đủ cách
hại lại nặng hơn, cho đáng đời. Người nào không
chịu giúp mình, không tốt với mình, mình bèn tìm đủ mọi
cách trả thù, cho hả giận, rỉ tai biêu riếu, vu khống cáo
gian, vu oan giá họa, kiện cáo tụng đình, cho chúng chết luôn,
cho chúng mạt luôn, khỏi ngóc lên nổi. Mình cho rằng
người ta xấu xa, người ta ác độc, người ta bất chính,
người ta bất lương, người ta bất thiện, người ta bất
nhơn, người ta ác đức, người ta dã man, mà mình cũng làm
y như vậy, chỉ khoác danh nghĩa "trả thù", thì mình có khác
gì người ta đâu? Phản ứng y chang những điều người
đời làm cho mình thực là dễ dàng. Còn như nhịn được
mới thực là khó khăn vô cùng. Nhịn được như vậy
chứng tỏ chúng ta không còn chấp mình nhận chịu khổ đau,
không còn chấp người tạo đau khổ cho mình, tức là chúng
ta đã thấu rõ và hành được "giáo lý vô ngã" của đạo
Phật. Trong giáo lý vô ngã của đạo Phật, không có
cái gì là "Ta", nên không có gì là "của Ta". Đó chính
là triết lý cao thượng vô cùng mà chúng ta cần phải nghiên
cứu, tìm hiểu cho thấu đáo, để khi gặp chuyện oan ức
trên thế gian này, chúng ta vẫn giữ được tâm trí bình tĩnh,
thản nhiên. Được như vậy, oan ức chính là cửa ngõ
tiến vào con đường đạo hạnh.
Người
nào có nhiều "tự ái", thường cho rằng ta đây là nhứt,
cái gì của mình cũng đứng nhứt, cái gì liên quan đến mình
cũng nhứt, chấp nhứt từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ nhặt,
chẳng bao giờ chịu nghe lời khuyên, thường thấy lỗi lầm
của người khác, không bao giờ cho là mình có lỗi gì cả,
bất cứ chuyện gì xảy ra cũng tìm đủ mọi cách, viện đủ
lý lẽ, đổ lỗi người này, đổ thừa người kia, tại thế
này, bị thế khác, chứ không bao giờ tại mình, bởi mình,
do mình mà chuyện sai trái xảy ra cả! Người như vậy
chính là người có "tâm chấp ngã" quá cao. Cho nên người
đó vẫn còn luẩn quẩn trong vòng sanh tử luân hồi.
Tại sao vậy? Bởi vì những người như vậy rất nhạy
cảm, phản ứng nhanh lẹ, khi tiếp xúc với cảnh trần đời.
Một lời nói vô tình, một ý kiến trái nghịch, một việc
làm không vừa ý, một cử chỉ vụng về của người khác,
tất cả đều có thể khiến cho những người như vậy nổi
sân, bực tức, khó chịu, gây gổ, phê phán, bình phẩm, chỉ
trích, miệt thị, hơn thua, sống để dạ, chết mang theo.
Nghĩa là vọng tâm của họ khởi lên đều đều mỗi ngày,
mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây. Những người như vậy
thường xuyên sống trong tâm trạng bất an, vọng động, thậm
chí đau khổ nhiều thứ, nhiều mặt bởi vì kho tàng tâm thức
chứa nhóm quá nhiều phiền não.
* *
*
Tóm lại,
chúng ta nên biết rằng ngoài biển khơi lúc nào cũng có gió
thổi, tùy theo gió nhẹ thì sóng nhỏ, gió to thì sóng cả.
Tâm của chúng ta ví như mặt biển cả, tùy theo "bát phong"
của thế gian thổi đến, chẳng hạn như lúc thịnh lúc suy,
lúc khen lúc chê, lúc danh dự, lúc tủi nhục, lúc sung sướng
lúc đau khổ, đối với người không biết tu tâm dưỡng tánh
thường để cho lòng nổi sóng, chìm đắm trong vui mừng tột
độ, hay đau khổ triền miên. Còn đối với người quyết
tâm tu tập thì cố gắng giữ gìn tâm ý bất động, bất
loạn, như như, bình tĩnh, thản nhiên trước mọi phong ba của
cuộc đời. Được như vậy, chắc chắn đời sống an
lạc, hạnh phúc, tâm linh giác ngộ, giải thoát. Đó là
cảnh giới niết bàn, tịch diệt, chính là mục đích cứu
kính của đạo Phật.
Chư
Tổ có dạy:
"Nếu
chấp nhận trở ngại thì lại thông suốt,
mà
mong cầu thông suốt thì sẽ bị trở ngại".
Chúng
ta đừng cầu không bệnh khổ, đừng cầu không hoạn nạn,
đừng cầu không khúc mắc, đừng cầu không bị ma chướng,
đừng cầu lợi cho mình, đừng cầu tất cả đều thuận
theo ý mình, đừng cầu được báo đáp, đừng cầu không
bị oan ức. Tại sao vậy? Bởi vì cầu nguyện thực
sự có được gì đâu, chỉ làm cho tâm trí chúng ta thêm rối
loạn khi gặp nghịch cảnh, bất trắc mà thôi. Chúng
ta hãy cùng suy gẫm câu chuyện sau đây: Có một bà lão đến
gặp Thiền sư Triệu Châu thưa hỏi, cầu nguyện cách nào
có thể giúp bà, kiếp này chuyển được phiền não khổ đau
thành an lạc hạnh phúc, kiếp sau được lên thiên đàng, không
đọa địa ngục? Thiền sư Triệu Châu dạy bà khấn
nguyện như thế này: Tôi nguyện đời đời kiếp kiếp chấp
nhận sống trong đau khổ, chấp nhận địa ngục, còn an lạc
hạnh phúc và cõi thiên đàng xin dành cho người khác!
Ngày
nay, người tu học theo đạo Phật nên dấn thân trong mọi
sự trở ngại, không quản khó khăn, không sợ trắc trở.
Cho nên trở ngại, khó khăn, trắc trở không thể cản được
bước đường tiến tu, không làm cho chúng ta chán nản, sờn
lòng, muốn xa lánh cõi đời, mong cầu về cõi cực lạc sung
sướng cho dễ tu hơn. Chánh Pháp chí thượng nhờ vậy
mới được sáng tỏ. Chúng ta cần tích cực tu tâm dưỡng
tánh, mở mang trí tuệ bát nhã, "chiếu kiến ngũ uẩn giai
không, độ nhứt thiết khổ ách". Nghĩa là khi thấy
được, hiểu được, "biết" được một cách rõ ràng tấm
thân tứ đại, ngũ uẩn này là không thực, là giả tạm,
nay còn mai mất, muốn duy trì, giữ gìn mãi mãi cũng không
được, muốn trẻ mãi không già cũng chẳng được, muốn
khỏe mãi không đau cũng chẳng được, "biết" được như
vậy, hiểu được như vậy, thấy được như vậy, thì khổ
ách nào mà chẳng qua. Nếu chúng ta thực sự thấy được
tất cả các pháp trên thế gian này đều không thực, không
tự tánh, không cố định, không tồn tại vĩnh viễn, thì
khi đó chúng ta đủ khả năng vượt qua mọi sóng gió của
cuộc đời, vượt qua tất cả mọi khổ ách, đáo bỉ ngạn,
đến được bờ giác ngộ và giải thoát vậy.
Tỳ-Khưu
Thích-Chân-Tuệ
cutranlacdao@yahoo.com
cosophathoctinhquangcanada.org
04-05-2008
09:23:46
|