Trận
chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là
một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt
Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau
nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi
Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ
đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán,
từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm
trời Đông Á. Ba triều đại ngắn ngủi, Ngô, Đinh, Tiền
Lê qua đi như những viên đá lót đường cho dân tộc Việt
bước vào một vận hội mới, cả dân tộc cùng đứng dậy
bắt tay nhau xây đắp lên một thởi đại thịnh trị kéo
dài gần suốt bốn trăm năm, mở đầu bằng bản Tuyên Ngôn
Độc Lập, kiên định ý chí tự chủ tự cường và tinh thần
lạc quan dân tộc của Tướng quân Lý Thường Kiệt:
Nam
quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt
nhiên định phận tại thiên thư
Như
hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ
đẳng hành khan thủ bại hư.
Bản
tuyên ngôn Lý Thường Kiệt đã được khẳng định mạnh
mẽ một lần nữa chỉ trong một khoảng thời gian ngắn không
lâu sau đó: Trong khi cả thế giời đang rung chuyển trước
bước tiến vũ bảo của đoàn quân thiện chiến Mông Cổ
thì vó ngựa của đoàn quân xâm lăng hung hản này đã ba lần
phải khựng lại trước bức tường ý chí sắt thép của
quân dân Đại Việt. Cả ba lần xâm lược cả ba lần đều
bị đánh tan. Việt Nam trở thành một mối ám ảnh kinh hoàng
của cả triều đình, binh tướng Nguyên Mông, đến độ mấy
năm sau, Trần Phu, một viên quan cầm đầu sứ bộ nhà Nguyên
khi đặt chân vào đất nước Việt Nam còn cảm thấy rùng
mình:
Kim
khoa ảnh lý đan tâm khổ
Đồng
cổ thanh trung bạch phát sinh
(Giáo
sắt sáng ngời lòng thắm khổ
Trống
đồng vang dội bạc đầu phơ)
Sự
kiện này đã làm cho rất nhiều người, kể những nhà nghiên
cứu sử học trên khắp thế giới, không khỏi ngạc nhiên
nêu lên câu hỏi: Cái gì đã tạo nên sức mạnh vô song này?
Cái gì đã là chất keo gắn bó mọi tầng lớp, đẳng cấp
xã hội dân chúng đời Trần tạo nên sức mạnh Diên Hồng,
đập tan cả một lực lượng quân sự hùng mạnh vào bậc
nhất thế giới đương thời? Thiết tưởng chúng ta có câu
trả lời không mấy khó khăn: Đó là truyền thống tâm linh
Việt Phật. Tiếng trống đồng đã làm cho sứ giả Trần
Phu phải lo sợ đến bạc đầu không phải chỉ mới vang lên
dưới thời đại nhà Trần mà đã từng vang dội cả trên
một ngàn năm trước đây trong những ngôi chùa tại những
thôn làng hẻo lánh của Việt Nam, đó cũng là tiếng trống
Mê Linh của Hai Bà Trưng mở màn cho cuộc khởi nghĩa dành
độc lập đầu tiên của dân tộc.
Một
thời đại thịnh trị không phải chỉ được đánh dấu bằng
những võ công oanh liệt mà phải là sự phát triển đồng
bộ và toàn diện của cả dân tộc trên khắp các mặt, từ
vật chất đến tinh thần. Thời đại thịnh trị không phải
chỉ có những vị vua giỏi tôi hiền mà đỉnh cao của
nó là sự phát triển về mặt trí tuệ, tâm linh. Bắt nguồn
từ truyền thống tâm linh Việt Phật này mà cả dân tộc
đã biến thành một dàn hợp xướng dưới sự chỉ đạo
của một người nhạc trưởng tài ba. Và trong khung cảnh thời
đại lịch sử này đã sản xuất cho dân tộc ta một nhà
quân sự thiên tài, một nhà chính trị thông minh và trên cao
hết, một nhà đạo sư, người thầy hướng dẫn tâm linh
cho toàn thể dân tộc, đó là vị quân vương Phật tử Trần
Nhân Tông.
Điều
Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông
Và
Dấu Ấn Tâm Linh Việt Phật.
Nói
rằng truyền thống tâm linh Việt Phật là sợi chỉ vàng xuyên
suốt thời đại thịnh trị Lý Trần không phải là một lời
nói khoa trương chỉ để nhằm thoả mãn tinh thần tự ái
dân tộc hay tôn giáo. Cứ nhìn vào lịch sử của các chế
độ quân chủ phong kiến trên toàn thế giới ta mới thấy
được cái bản sắc độc đáo của chế độ quân chủ Việt
Nam dưới thời đại nhà Trần. Các vị vua nhà Trần khi nắm
vương quyền đều tuân theo một định chế bất thành văn,
họ ở ngôi trong một khoảng thời gian nào đó rồi thoái
vị, nhường ngôi lại cho con, làm Thái Thượng Hoàng lui về
nơi dân giả. Việc làm này không những đã tạo nên một
sự ổn cố chính trị cần thiết cho quốc gia, tránh được
nạn tranh giành quyền lực thường xảy ra trong nội bộ của
các vương triều, nhưng đồng thời cũng là một hành động
phản ảnh sâu xa tinh thần Phật giáo vốn coi vạn pháp là
vô thường. Thế nên các vị vua nhà Trần đã không có ai
tham đắm quyền lực, bám chặt vào ngôi vị mà ngược lại,
đã coi ngai vàng như chiếc dép rách, sẵn sàng quăng bỏ bất
cứ lúc nào nếu cần, không chút thương tiếc.
Điều
Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông cũng đã liệng bỏ “chiếc
giép rách” này sau mười bốn năm cầm quyền bính, quyết
định lên đường vào núi Yên Tử sáng lập ra một dòng Thiền
độc đáo Việt Nam: Thiền phái Trúc Lâm. Một người đã
ở tuyệt đỉnh của quyền lực và danh vọng như thế, một
bước là lên xe xuống ngựa, cung phi mỹ nữ, kẻ hầu người
hạ bao quanh, thế mà nay đã lìa bỏ ngôi báu vào năm ba mươi
bốn tuổi, cái tuổi được coi như đẹp đẽ nhất của đời
người để bước theo bước chân của Tổ Ca Diếp trước
đây, thực hành hạnh đầu đà, đầu trần chân đất, trong
cái khí hậu khắc nghiệt của vùng nhiệt đới Việt Nam,
lặn lội khắp nơi đem mưa pháp rải ra khắp chốn, cứu độ
nhân gian. Mang trái tim Bồ Tát, nung nấu bởi ý nguyện Bồ
Tát, tấm gương xả thân vì đạo của Ngài là một sự
thể hiện tinh thần Bồ Tát đạo, khiến Ngài trở thành môt
nhân vật hiếm có trong lịch sử truyền bá đạo Phật
tại Việt Nam.
Với
một tinh thần nhập thế tích cực, dấn thân triệt để,
đem đạo vào đời vì hạnh phúc của nhân quần xã hội như
thế, dòng Thiền Trúc Lâm chắc chắn không thể nào lại
không mang dấu ấn của người đã sáng lập ra nó. Một người
vừa thông hiểu tất cả những gì là uyên áo nhất của giáo
lý đạo Phật, nhưng đồng thời cũng biết cả nghệ
thuật điều binh khiển tướng, một nửa đời người xông
pha trên mình ngựa giữ yên bờ cõi, mang lại anh vui cho trăm
họ, vua Trần Nhân Tông không những đã kế thừa được những
tinh hoa của quá khứ, mà đồng thời còn có khả năng tổng
hợp được những giá trị của thời đại, từ đó với
những kinh ngiệm sống của đời mình, vua đã phát huy truyền
thống tâm linh Việt Phật đến một mức độ rực rỡ nhất,
đem Phật pháp gắn liền với thế gian pháp, biến những giáo
lý cao siêu trở thành một triết lý hành động thực tiễn,
có thể tóm gọn vào bốn chữ giản dị: CƯ TRẦN và LẠC
ĐẠO.
Nội
dung chính của tinh thần CƯ TRẦN LẠC ĐẠO Trần Nhân Tông
là gì?
Qua
hành trạng và những thi văn của Ngài còn để lại, đặc
biệt là “Cư Trần Lạc Đạo Phú”, ta thấy tư tưởng của
Trần Nhân Tông có những điểm chính yếu nổi bật sau đây:
1.Tinh
thần Cư Trần Mang Màu Sắc Giáo Lý Tứ Ân:
Đạo
Phật không phải là một đạo xuất thế. Đạo Phật gắn
liền với con người và thời đại, thế nên trước tiên
nó phải giải quyết được vấn đề cơ bản và trọng yếu
nhất của con người, đó là CƯ TRẦN. Không giải quyết được
chuyện “Cư Trần” thì đừng nói đến chuyện cao xa huyền
diệu. Không đứng vững được đôi chân trên mặt đất,
thì tất cả mọi lý thuyết dù thâm ảo đến mức nào cũng
đều là những chuyện viễn vông, xa rời thực tế. Thế nên
mẫu người Phật Tử Việt Nam theo Trần Nhân Tông quan niệm
phải là mẫu người:
Sạch
giới lòng, dồi giới tướng,
nội
ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm
Ngay
thờ chúa, thảo thờ cha,
Thi
đỗ mới trượng phu trung hiếu.
(Cư
Trần Lạc Đạo Phú, Hội thứ sáu)
Mô
hình của một mẫu người Phật tử lý tưởng đời Trần
vì thế không phải chỉ là “sạch giới lòng, dồi giới
tướng” để trở thành “Bồ Tát trang nghiêm” mà còn phải
là một mẫu người trượng phu trung hiếu vẹn toàn. Thiết
tưởng cũng cũng xin được mở một dấu ngoặc ở đây để
lưu ý rằng, tinh thần trượng phu trung hiếu mà vua Trần Nhân
Tông đề cập đến không phải chỉ là một sản phẩm đặc
quyền của Nho giáo như người ta thường biết. Tinh thần
trung hiếu này thực ra là một bộ phận của tư tưởng Tứ
Ân đã xuất hiện từ lâu đời trong Phật giáo Ấn Độ thời
cổ xưa và sau này trở thành một lý thuyết xương sống của
Tịnh Độ Tông Phật giáo.
Sử
gia Lê Mạnh Thát đã đúc kết mẫu người hình tượng đó
như sau: “Đây có thể nói là một đúc kết về hình tượng
người Việt Nam lý tưởng, chứ không phải chỉ của Phật
giáo. Thực tế những người làm nên sự nghiệp oanh liệt
của dân tộc ta vào thời Trần Nhân Tông có thể nói hầu
hết đều là Phật tử, từ những vị lãnh đạo tối cao
ở trung ương như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải cho đến
những người dân ở xã ấp như Lê Công Mạnh và anh em con
cháu. Vì họ là những Bố Tát trang nghiêm nên đối với bản
thân họ giữ gìn kỷ luật và sống cuộc sống có lý tưởng.
Nhưng đồng thời họ cũng là những trượng phu trung hiếu,
nên họ trung thành với tổ quốc, sống hiếu thảo với cha
mẹ ông bà.”
Nói
đến khuôn mẫu con người thế gian không thể không nói đến
khuôn mẫu của con người tăng sĩ. Hình tượng đẹp
đẽ này thiết tưởng chúng ta không cần phải đi tìm ở
đâu xa mà chính ngay ở hình ảnh của tổ Trúc Lâm Trần Nhân
Tông. Con người tăng sĩ đó không những là một pháp khí
của thời đại mà còn là một biểu trưng cho một kẻ sĩ
Việt Nam, biết lo trước cái lo của trăm họ và vui sau cái
vui của trăm họ. Khung cảnh của thời đại lịch sử Lý
Trần đã xoá đi cái biên giới ngăn cách giữa tăng sĩ và
kẻ sĩ. Suốt cả một ngàn năm Bắc thuộc, với chính sách
ngu dân, người Hán không cho mở trường học tại địa phương,
chùa chiền Việt Nam là nơi duy nhất tiếp cận với văn minh
học thuật Trung Hoa đồng thời cũng là lò rèn đúc, đào
tạo trí thức cho nước nhà, thế nên chúng ta sẽ không ngạc
nhiên khi thấy những bậc đại tăng trong thời đại Lý Trần
đồng thời cũng là những sĩ phu “trụ tích trấn vương
kỳ” -chống cây thiền trượng xuống có thể làm yên xã
tắc. Những vị Thiền sư Việt Nam đời Trần vì thế, tuy
có về ở ẩn trong chốn am mây nhưng tấm lòng vẫn canh cánh
với chuyện nước non. Ta như vẫn còn nghe văng vẳng đâu
đây lời khuyên bảo của quốc sư Phù Vân với vua Trần Thái
Tông khi vua lìa cung điện bỏ trốn vào Yên Tử với ý định
xuất gia: “ Phàm làm đấng minh quân, thì phải lấy ý muốn
của thiên hạ làm ý muốn của mình,và tâm thiên hạ làm
tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ không về sao
được? Tuy nhiên sự nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng
phút nào quên.”
2.
Tinh Thần Lạc Đạo: Khơi Mạch Nguồn Cho Một Dòng Thiền
Độc Đáo Việt Nam:
Nhà
thơ Nguyễn Trãi trong một bài thơ đề tựa ở chùa Hoa Yên,
Trúc Lâm Yên Tử đã nói về vua Trần Nhân Tông như sau:
Vua
Trần Nhân Tông thời trước còn để dấu tích lại,
Trong
hào quang trắng thấy rõ đôi con ngươi của mắt Phật Thích
Ca.
Lời
tuyên xưng này không có gì là quá đáng. Một điều không
ai có thể phủ nhận được rằng tư tưởng Kinh Kim Cương
là hệ tư tưởng chủ đạo của Thiền học đời Trần và
người đã phát triển tinh thần Kim Cương đế mức độ toàn
hảo nhất, lại chính Lục Tổ Huệ Năng. Thế nhưng lịch
sử đã chứng minh cho chúng ta thấy Lục Tổ là một người
Việt Nam. Thực ra cũng không cần phải đem sử liệu ra để
dẫn chứng. Đọc qua bộ Pháp Bảo Đàn Kinh, mà thực chất
là một cuốn tự truyện của Ngài Huệ Năng còn để lại,
ta thấy rõ một điều rằng nếu như ngài Huệ Năng không
phải là người “ngoại quốc” thì chắc chắn là Ngũ Tỗ
đã không phải trao truyền y bát cho Ngài một cách lén lút
vào đêm hôm khuya khoắt, và cũng sẽ không có chuyện cả
một sơn môn -đặc biệt là một tông phái Thiền vốn đặt
tinh thần phá chấp lên hàng đầu- đã phải sôi sục lên
vì lòng tự ái dân tộc, để môn nhân đệ tử của Ngũ Tổ
đã phải bỏ cả chuyện tu tập, chạy theo truy đuổi Huệ
Năng cho đến cùng để thu lại y bát mà họ xem như quốc
bảo.
Nếu
Tổ Bồ Đề Đạt Ma trước đây đã mang Thiền học Phật
giáo vào Trung quốc và trở thành vị Tổ thứ nhất của phái
thiền Đông độ thì chúng ta cũng có thể xem người thanh
niên Việt Nam mù chữ Huệ Năng –vì chính sách ngu dân của
người Hán như đã nói ở trên- là vị Tổ thứ nhất của
Thiền học Việt Nam. Và, người kế thừa xứng đáng nhất
của dòng Thiền Huệ Năng, người phát triển tinh thần “Kiến
Tánh Thành Phật” của Tổ Huệ Năng đến mức toàn vẹn
nhất không ai khác hơn là Trúc Lâm Tổ Trần Nhân Tông. Trong
“Cư Trần Lạc Đạo Phú” Ngài đã diễn tả lại ý
niệm ấy một cách dễ hiểu hơn:
Ở
đời vui đạo hãy tùy duyên
Hễ
đói thì ăn, mệt ngủ liền
Của
báu trong nhà thôi khỏi kiếm
Vô
tâm đối cảnh hỏi chi thiền.
Con
đường “lạc đạo” đối với Trần Nhân Tông không phải
là con đường hướng ngoại mà là một hành trình quay trở
về với chính mình. Quay về với chính mình tức là quay về
với bản thể uyên nguyên. Hãy cứ để cho mạch đời tuôn
chảy thì suối nguồn tâm linh sẽ khai mở và con người sẽ
tìm lại tự tánh của chính mình. Danh từ nhà Thiền gọi
đó là “bản lai diện mục”, là đạt đạo. Và khi đã
đạt đạo thì mỗi một hành động trong đời sống bình
thường của con người, từ ăn, ngủ, đi đứng cho đến hái
rau, gánh nước, che củi, nấu cơm,… đều tỏa ra sáng ánh
sáng giác ngộ. Thế nên đối với Tổ Trúc Lâm, con người
không phải đi tìm chân lý ở đâu xa, chân lý nằm chính ngay
trong lòng cuộc sống. Phiền não cũng chính là Bồ Đề và
cõi Ta Bà đồng thời cũng là cảnh giới Tịnh Độ. Kho báu
đã có sẵn ở trong mình mà con người cứ mãi rong ruổi chạy
đi tìm của báu ở khắp nơi, chẳng khác gì hình ảnh của
người cùng tử trong kinh Phật thường nói đến. Con người
không biết rằng họ không cần phải đi tìm cầu Phật ở
đâu xa, Phật ở ngay bên trong mỗi một chúng ta, như quốc
sư Phù Vân đã khẳng định, “trong núi vốn không có Phật,
Phật ở ngay trong lòng, lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân
Phật”. Cứ sống một cuộc sống có đạo đức nhân nghĩa,
đem tình thương trải rộng ra muôn loài thì mỗi một con người
đều là một vị Phật, Bồ Tát.
Tổ
Trúc Lâm đã trao truyền cho đời cái chìa khoá mở vào cuộc
sống hạnh phúc, an lạc rất mực giản dị, chỉ võn vẹn
nằm trong hai chữ “Tùy Duyên”. Giản dị nhưng lại gói
trọn cái tinh yếu của đạo Phật. Ngài chỉ cho ta thấy rằng
cuộc sống là một giòng luân lưu chuyển động bất tận.
Tất cả vạn pháp hiện hữu đều do duyên sinh, duyên khởi,
tương tục và tương tác. Nắm vững chân lý này thì người
ta có thể sống tuỳ duyên, nhưng “Tùy duyên” ở đây
không phải là một cuộc sống thả nổi như lục bình trôi
mà là sự tĩnh thức để tắm mát trong dòng hiện sinh, đó
là con đường “lạc đạo”. Dòng Thiền Trúc Lâm Việt Nam
đã chuyên chở tư tưởng của Huệ Năng vào đời sống thực
tiễn. Thiền học đời Trần vì thế đã gắn bó với đời
sống và con người, kết hợp hài hoà giữa triết lý và hành
động, tạo nên sức sống và một phong vị mới mang màu sắc
Việt Nam. Thế nên nếu chúng ta xem ngài Huệ Năng là vị Tổ
thứ nhất của Thiền Tông Việt Nam thì người kế thừa xứng
đáng nhất không ai khác hơn là Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân
Tông.
3.
Sứ Mệnh Chấn Hưng Phật giáo.
Một
trong những công nghiệp lớn của vua Trần Nhân Tông còn để
lại mà đời sau không thể không nhắc đến, đó là nỗ lực
hoằng truyền chánh pháp, chấn hưng đạo Phật. Từ cuối
đời Lý, đạo Phật Việt Nam đã có những dấu hiệu suy
thoái. Khi tinh thần đạo lý từ bi suy sụp thì tín ngưỡng
quyền năng ma thuật lộng hành đưa con người vào vòng mê
tín. Bên cạnh đó là những tệ trạng xã hội khác gây
ra bởi sự tôn sùng đạo Phật quá mức nhưng lại thiếu
sự điều hướng, tổ chức. Chuyện đúc tượng xây chùa
tráng lệ nguy nga hơn cả cung vua là hiện tượng khá phổ
biến. Tình trạng “thiên hạ bán vi tăng” dưới thời Lý
không phải là điều đáng mừng cho Phật giáo mà là điều
lo nghĩ cho tất cả những ai có ý thức trách nhiệm. Bởi
vì không thiếu gì những kẻ xấu đã lợi dụng chốn thiền
môn, cấu kết với giới tăng sĩ biến chất để làm những
điều xằng bậy. Tình hình này đã được phản ảnh trong
bản điều trần của Đàm Dĩ Mống được ghi chép lại
trong Đại Việt sử lược: “Nay Tăng đồ cùng với dịch
phu quá nửa, bọn chúng tự kết bè đảng, dựng bậy thầy
trò, tụ nhóm, ở bầy, làm nhiều việc dơ, hoặc ở giới
trường tinh xá, ngang nhiên rượu thịt, hoặc tại thiền phòng
tịnh viện, riêng tự gian dâm, ngày ẩn tối ra, như đàn cáo
chuột. Chúng làm nát tục hư đạo, dần dần thành thói.
Việc đó nếu không cấm, để lâu càng tệ thêm”.
Đến
đời Trần, tệ trạng này vẫn không có gì thay đổi, đến
độ vị quân vương Phật tử thuần thành Trần Thái Tông
cũng đã phải lắc đầu ngao ngán: “Khi tới chùa chiền,
gần Phật gần kinh, mắt không thèm ngó, phòng tăng điện
Phật, gặp gỡ gái trai, cuối mắt đầu mày, ham mê sắc dục,
không kiêng Hộ Pháp, chẳng sợ Long Thần, trố mắt ham vui,
đầu chưa từng cúi”, và “chẳng riêng người tục, cả
đến thầy Tăng, kinh luận tranh giành, cùng nhau công kích,
chê các sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha, cỏ nhẫn lụi vàng,
lửa độc rực cháy, buông lời đau vật, cất tiếng hại
người, không nghĩ từ bi, không theo luật cấm, bàn thiền
tựa thánh, trước cảnh như ngu, dẫu ở cửa không, chưa thành
vô ngã”. Sử gia Lê Văn Hưu, người được vua Trần Thánh
Tông chỉ định biên soạn bộ Đại Việt Sử Ký cũng đã
nhận xét rằng hiện tượng xây dựng chùa miễu nguy nga, độ
tăng ồ ạt là một việc làm hoang phí sức người sức của
một cách vô ý thức và đưa ra lời bình luận như sau: “Của
không phải do trời mưa xuống, sức chẳng phải của thần
làm cho, há chẳng phải là khơi vét máu mỡ của dân ư ? Khơi
vét máu mỡ của dân mà có thể gọi là làm phước được
ư? “
Đứng
trước tình trạng này, một con người hành động và là một
Phật tử có ý thức trách nhiệm với đạo pháp, vua Trần
Nhân Tông phải làm gì đây? Vua biết chắc một điều rằng,
Ngài không thể dùng quyền uy của vương triều để chấn
hưng đạo Phật. Triều đình có thể ban hành những đạo
dụ để răn dân, trừng phạt những điều sái quấy, thế
nhưng quyền lực vẫn không đủ sức mạnh để lay chuyển
một tệ trạng đã bám sâu gốc rễ trong lòng xã hội. Vua
Trần Nhân Tông đã phải đi trên một con đường gay go hơn,
đó là con đường cảm hoá nhân tâm, lấy bản thân của mình
ra làm gương sáng cho người đời noi theo. Thế nên khi khoác
lên mình chiếc tăng bào, vua đã lặn lội “đi khắp nơi
sức dân gian phá hủy các dâm từ và thuyết pháp khuyên dân
làm mười điều thiện”. Hào quang của một vị vua anh
hùng hai lần đại thắng quân Nguyên nay là một tăng sĩ đầu
trần chân đất đi khuyến tu vẫn có sức mạnh thuyết
phục hơn cả một ngàn đạo luật của triều đình. Sức
mạnh thuyết phục đó chính là tình thương. Thế nên khi vua
ra đi, cả dân tộc đã ngậm ngùi đưa tiễn, vì kể từ đây
đất nước đã vắng bóng một đấng từ phụ. Tang lễ của
Ngài, người dân tham dự đông như nêm cối, tràn ngập từ
kinh đô cho đến bến sông Hồng đến độ linh vị của vua
không thể nào di chuyển được, thế mới biết dân chúng
đã thương yêu Ngài đến mức nào. Vua mất đi, nhưng thông
điệp khuyến tu của Ngài còn vang vọng mãi đến muôn đời
sau:
Thân
như hô hấp tị trung khí
Thế
tự phong hành lĩnh ngoại vân
Đỗ
Quyên đề đọan nguyệt như trú
Bất
thị tầm thường không quá xuân
Thân
như hơi thở mỏng manh,
Đời
như mây nổi trên vành núi xa.
Tuổi
xuân chớ để luống qua,
Để
rồi khóc hận như là Đỗ Quyên.
(Tâm
Hà thoáng dịch)
Tâm
Hà Lê Công Đa
01-02-2008
4:23:34