MỤC
LỤC
1.
Chú Tiểu Sa Di Cứu Sống Đàn Kiến
2.
Đại Sư Hsin Cầu Nguyện Chấm Dứt Nạn Hạn Hán
3.
Giải cứu những Con Thỏ Bị Sập Bẩy
4.
Đại Tướng Mao Và Con Rùa
5.
Những Con chim Lo Việc Mai Táng
6.
Đàn Ong Ngăn Chặn Một Vụ Án Xử Oan
7.
Con Rùa Chữa Lành Bịnh Cho Người Hầu Gái
8.
Một Ông Nhà Giàu Không Có Con
9.
Những Viên Ngọc Rắn
10.
Giải Cứu Đứa Con Của Long Vương
11.
Quả Báo Của Một Việc Làm Ác
12.
Một Trăm Mạng Sống
13.
Tên Đồ Tể Đền Tội
14.
Cái Lưỡi Dê
15.
Sự Trả Thù Cuả Những Con Ếch
16.
Tên Đồ Tể Biến Thành Miếng Thịt Hầm
17.
Bị Đoạ Làm Chó
18.
Những Con Lươn Trả Thù
19.
Mười Một kiếp Đầu thai Làm Thân bò
20.
Ao sen Và Con Rết
21.
Một tai Nạn vì Săn bắn
22.
Thần Linh trừng Phạt Người Ăn Thịt Chó
CONTENTS
1.
The Sami Who Rescued The Ants
2.
Master Hsin Ends A Drought
3.
Releasing Trapped Rabbits
4.
General Mao And The Turtle
5.
Burial By A Birds
6.
Bee’s Prevent A Miscarriage Of Justice
7.
The Turtle Who Healed The Maid
8.
The Childless Rich Man
9.
The Snake’s Pearls
10.
Saving The Dragon King’s Son
11.
The Results Of Cruelty
12.
One Hundred Lives
13.
The Butcher’s End
14.
The Goat’s Tongue
15.
The Revenge Of The Field Chickens
16.
Butcher Stew
17.
Going To The Dogs
18.
Eels Take Revenge
19.
Eleven Lives As Cow
20.
Lotus Pond And the Centipede
21.
A Typical Hunting Accient
22.
Whipped By The God
CHÚ
TIỂU SA DI CỨU SỐNG ĐÀN KIẾN
Ngày
xưa có một chú tiểu Sa Di đến học Phật giáo với một
vị thầy rất sáng suốt. Chú là một đứa đệ tử rất
tốt. Chú rất lễ phép, thành thật và biết vâng lời. Chú
học đạo rất nhanh.
Thầy
của chú rất sáng suốt có thể đoán biết trước được
chuyện tương lai. Lần đầu tiên mới gặp, vị thầy xem tướng
biết thọ mạng của chú học trò nhỏ này sẽ kéo dài không
lâu. Ngày nọ, ông ta tính ra và nhận thấy rằng chú học
trò này chỉ còn sống được bảy ngày nữa thôi. Vị thầy
rất buồn.
Ông
ta gọi người đệ tử lại và bảo rằng: “Này con, đã
lâu lắm con không được gặp mẹ con. Thầy nghĩ con cần nghỉ
một thời gian để về nhà thăm mẹ con và sau tám ngày hãy
trở lại đây.” Vị thầy dạy như vậy với hy vọng rằng
chú này có thể chết tại nhà cha mẹ của chú.
Khi
người đệ tử đi rồi, vị Thầy cảm thấy rất buồn cho
chú. Ông ta nghĩ rằng ông không bao giờ có thể gặp lại
chú nữa.
Tám
ngày sau, người đệ tử trở lại. Vị thầy mừng rỡ và
rất ngạc nhiên thấy chú vẫn khỏe mạnh. Chú không lộ vẻ
gì cho thấy rằng chú giống như người sắp lìa đời.
Cuối
cùng, vị thầy muốn tìm hiểu nguyên nhân tại sao. Ông nói
với người đệ tử: “Này con, ta đã nhiều lần xem tướng
đoán việc tương lai, và chưa bao giờ sai lầm.
Ta
bảo con trở về thăm nhà vì ta biết chắc rằng con sẽ chết
trong vòng bảy ngày. Nhưng bảy ngày đã trôi qua, không những
con vẫn còn sống mà trông con có vẻ khỏe mạnh. Yểu tướng
sắp lìa đời nơi con đã biến mất. Vậy con đã làm sao mà
được như vậy?”
Nghe
nói thế, người đệ tử sửng sốt. Chú không biết phải
trả lời với Thầy thế nào. Vị Thầy liền bắt đầu nhập
định và biết rõ sự việc.
“Trên
đường về nhà có phải con đã cứu sống một đàn kiến?”
“Thưa
thầy, dạ có. Trên đường về nhà, con gặp thấy một đàn
kiến rơi xuống nước. Nhìn thấy đàn kiến sắp bị chết
đuối, con liền đưa một khúc gỗ xuống để cứu chúng.”
“Ðúng
vậy. Do lòng từ bi cứu đàn kiến mà con được sống lâu.
Các thánh nhân đã dạy rằng: ‘Cứu một mạng sống, phước
đức lớn hơn xây dựng một ngọn tháp bảy tầng.’ Con nhờ
cứu hàng trăm chúng sanh, mà con sẽ được sống trường thọ.
“Nay
tương lai của con thật huy hoàng, nhưng con vẫn nên tiếp tục
cứu độ cho mọi chúng sanh. Con cần phải truyền bá giáo
lý của đức Phật. Hãy dạy cho mọi người nên có lòng từ
bi. Và khuyên tất cả đừng nên sát sanh. Hãy để cho mọi
thú vật sống an lành.”
Người
đệ tử không bao giờ quên lời thầy dạy. Chú đã nỗ lực
tinh tấn tu hành và trở thành một đại sư. Chú đã sống
rất thọ, và trường thọ.
The
Sami Who Rescued The Ants
Once
there was a little sami who studied Buddhism with a very wise Teacher.
He was a very good student. He was respectful, sincere, and obedient. He
learned very quickly.
The Teacher was so wise that he could foretell the future. The Teacher
knew from the beginning that his little student could not live very long.
One day he counted and realized that the little student had only seven
days left to live. He felt very sad.
The
Teacher called the little sami to him. He said, “Hey, little sami, you
haven’t seen your mother for a long time. think you need a vacation.
You run on home and visit your mother, and come back eight days from now.”
He did this so at least the little sami could die in his own parents’
home.
When the little sami left, the Teacher was very sorry. He thought he would
never see his little student again.
Eight
days later, who should show up but the little sami! His Teacher was delighted,
but he was also puzzled, because the little student looked wonderful. He
didn’t look like someone who had been about to die.
Finally,
the Teacher decided to find out what had happened. He told the boy, “Son,
I have foretold the future many times, and I have never been wrong.
I sent
you home because you were doomed to die within seven days. But the
seven days have already passed. Not only are you still alive, but you look
great. The image of death has left you. How did you do it?”
The
little sami was thunderstruck. He didn’t have any idea how to answer
his Teacher, so the Teacher entered the settled state of meditation. Before
long, he understood.
“Son, on the way home, did you save some ants?”
“Yes,
Teacher, on the way home I saw a whole bunch of ants trapped by some water.
They were about to drown, so I got a piece of wood and rescued them.”
“That’s
it, then. Your kind heart has earned you a long life. The wise men of old
said, ‘Saving one life earns more merit than building a pagoda of seven
stories.’ You have saved hundreds of lives, so you will live a very long
time now.
“You
have earned a good future, but you still have to keep working to save living
creatures. You must spread the message of the Buddha. Teach all people
to be merciful. Tell everyone not to kill living creatures. Let animals
live in peace.”
The
little sami never forgot his teacher’s words. He worked very hard
and became a great monk. He lived for a long, long time.
Đại
Sư Tín Cầu Nguyện Chấm Dứt Nạn Hạn Hán
Ðại
sư Tín là một vị Tăng có nhiều trí tuệ và thần lực.
Ðây là thành quả do con người nỗ lực tu tập mới có được.
Tánh tình nhà sư rất hiền hậu và có lòng thương bao la.
Một
hôm, nhà sư gặp một ông lão già đánh cá, tay xách cái giỏ.
Nhìn vào, nhà sư thấy đầy một giỏ rùa. Nhà sư biết rằng
ai mua những con rùa này, họ sẽ giết chúng để nấu ăn.
Nhà sư liền nghĩ: “Này những con rùa đáng thương, các con
không muốn người ta giết thịt phải không?” Vị sư liền
lấy tiền ra mua hết giỏ rùa và đem thả chúng xuống “Hồ
Nước Sống Giải Thoát.”
Vài
năm sau, xảy ra một trận hạn hán khủng khiếp. Mọi người
nông dân đều lo lắng, vì nếu trời không mưa, lúa không
mọc được thì họ sẽ có thể bị chết đói. Dân chúng
biết rõ về hiểm họa chết đói ấy vì nó vẫn thường
xảy ra. Khi có nạn hạn hán, hàng trăm người sẽ bị thiếu
ăn. Người ta phải ăn cỏ hoặc vỏ cây để sống, và nhiều
người sẽ chết đói.
Trước
đây khi bắt đầu xảy ra hạn hán, các nông dân thường giết
bò và dê cúng tế để cầu mưa, nhưng thường thì không mang
lại kết quả mấy.
Lần
này có nông dân đưa ra một ý kiến hay: “Chúng ta nên đến
nhờ đại sư Tín giúp đỡ. Vì đại sư có nhiều quyền phép
nên ngài có thể cứu giúp chúng ta được.”
Ðông đảo dân chúng kéo lên chùa và thỉnh cầu đại sư
Tín làm cách nào để có mưa. Vị sư cười và bảo họ: “Chắc
chắn được, không khó khăn gì. Tôi sẽ cầu nguyện cho trời
mưa, nhưng trước hết quý vị hãy giúp cho điều này. Từ
nay đến ngày làm lễ không ai có thể giết hại sinh vật.
Ngoài ra, mọi người đều phải ăn chay. Nếu không thì, việc
cầu nguyện sẽ không có kết quả.”
Ngay
cả những người có tâm địa hẹp hòi không thể sống mà
không có thịt nghĩ rằng dùng thực phẩm chay chứ đâu phải
nhịn không ăn gì hết đâu nên mọi người đã kính trọng
vâng lời đại sư Tín và tất cả đều hứa họ sẽ không
giết hại bất cứ sinh vật nào cũng như sẽ không ăn thịt
hay thực phẩm làm bằng thịt.
Vào
ngày lễ, dân chúng địa phương lên chùa với lễ vật trái
cây và hương đèn. Ðại sư Tín đang chờ họ. Khi mọi người
đã sẵn sàng, nhà sư thắp hương và bắt đầu khấn nguyện
đọc chú: “Om! Dajrta Salo Salo.”
Một
vài người nói: “Tôi không hiểu ông ta đọc cái gì.”
Mấy
bạn khác hỏi người bên cạnh: “Ông có nghĩ rằng mọi
việc đang diễn tiến tốt đẹp?”
Nhiều
người nói: “Nếu nhà sư cầu đảo cho mưa được, từ nay
tôi sẽ phát nguyện ăn chay.”
Ðại
sư Tín chú tâm cầu nguyện, và trước khi cây hương đầu
tiên vừa cháy hết, mây đen hiện ra trên bầu trời và đổ
mưa như trút nước xuống mặt đất khô cằn. Mọi người
đều thành kính quỳ xuống, tỏ lòng biết ơn nhà sư với
nước mắt chảy ràn rụa trên mặt của họ chan hòa với
nước mưa đẫm ướt.
Master
Hsin Ends A Drought
Master
Hsin was a monk with the deep wisdom and great powers that can be earned
only by carefully developing your behavior. He was merciful and lenient.
Once
he saw an old fisherman with a basket. He looked in the basket and saw
that it was full of turtles. He knew that whoever bought the turtles would
eat them. “Poor turtles,” he thought, “You wouldn’t like to die,
would you?” So he got out his wallet and bought the whole basketful,
and let them go in a Free Life Pond.
A few
years later, there was a terrible drought. All the farmers were worried,
because if it didn’t rain, their crops wouldn’t grow, and they might
starve to death. People then knew all about starving to death, because
it happened so often. When there was a drought, there would be so many
hungry people that they couldn’t all be fed. People would eat weeds and
bark to stay alive, and many people would die.
Sometimes
when a drought began, the farmers would sacrifice cows and goats for rain,
but that usually didn’t do much good.
This
time, one of the farmers first had a good idea. “Let’s ask Master Hsin
for help. He’s so powerful, he ought to be able to do something!”
A whole
crowd went to the temple and asked Master Hsin to bring rain. He smiled
quietly, and told them, “Sure, no problem. I"ll pray for rain for you,
but you have to help. first. From now until our ceremony, none of you can
kill anything. Until then, all of you have to eat only vegetarian food.
Otherwise, it won’t work.”
Well,
even for some selfish people who can’t go without meat, vegetarian food
beats no food at all, and everybody respected Master Hsin anyway, so they
all promised they wouldn’t kill anything or eat any meat or animal products.
On
the day of the ceremony, all the local people came to the temple with offerings
of fruit and incense. Master Hsin was waiting for them. When everybody
was ready, he lit some incense and began to pray: “Om! Dajrta salo salo...”
“I
can’t understand a word he’s saying,” someone said.
“Do
you really think this is going to work?” some of the people asked their
neighbors.
Many
people said, “If he really pulls this one off, I’m going to become
a vegetarian from now on.”
The Master kept praying, and before the first stick of incense had burned
down, the clouds opened up and poured rain on the thirsty earth. All the
people knelt in respect, and you couldn’t tell if their faces were wet
from the rain or from their tears of gratitude.
Giải
cứu những Con Thỏ Bị Sập Bẩy
Ngài
Huệ Năng, một đại sư Trung Hoa sống vào những năm 638 đến
713 sau Tây Lịch. Gia đình ngài rất nghèo đến nỗi ngài không
bao giờ được cắp sách đến trường để học đọc hay
viết. Ngài vốn có trí tuệ đặc biệt, và sau khi tìm hiểu
Phật giáo, ngài đã xuất gia đi tu. Ngài tinh tấn tu hành,
và ít lâu sau ngài chứng quả, giác ngộ. Thầy của ngài,
vị tổ thứ năm của Thiền tông đã trao cho ngài y bát của
vị tổ đầu tiên, ngài Bồ Ðề Ðạt Ma, mang từ Ấn Ðộ
sang Trung Quốc. Ngài Huệ Năng trở thành vị tổ thứ sáu
của Thiền tông, mà người Nhật gọi là Thiền (Zen).
Sau
khi chứng đạo giác ngộ, ngài nhận thấy con người đã tự
gây ra sự đau khổ cho mình bởi họ đã giết loài vật để
ăn thịt. Ngài khuyên mọi người nên chấm dứt việc sát
hại lẫn nhau để khỏi gặp thảm họa nhưng không ai chịu
nghe!
Ngài
Huệ Năng rất buồn thấy những người thợ săn thường hay
giết thú rừng cho nên ngài đã cởi bỏ y áo và giữ tóc
dài để không ai biết ngài là nhà sư. Rồi ngài tham gia vào
đoàn người thợ săn và theo họ đi săn tháng này qua tháng
khác trong rừng hoặc trên núi.
Ngài
Huệ Năng không thể bắn hay sập bẫy, bởi vậy đoàn thợ
săn đã giao cho ngài trông coi các chiếc lưới. Ðó là công
việc mà ngài ưa thích. Khi thấy con nai hay con thỏ nào bị
mắc vào lưới. Nếu nhìn xung quanh không có người thợ
săn nào, ngài liền tháo lưới để cho những con vật chạy
thoát.
Nếu
có mặt những người thợ săn, ngài liền van xin yêu cầu
họ thả chúng ra.
Ngài
chung sống với đoàn thợ săn trong mười sáu năm. Nhờ vậy
không những ngài đã cứu thoát được nhiều thú vật, mà
còn giáo hóa cho những tên thợ săn thấy được sự tàn ác
của việc làm sát sinh này để họ tìm một nghề sinh sống
khác lương thiện hơn.
Ngài
Huệ Năng về sau đã xây dựng một ngôi chùa. Với lòng thương
bao la và trí tuệ sáng suốt của ngài khiến cho mọi người
từ khắp nơi xa xôi đã đến học đạo với ngài, và trở
thành những người Phật tử. Các đệ tử của ngài đã truyền
bá Thiền Tông vào Ðại Hàn, Nhật Bản, và hiện nay sang Châu
Âu và Châu Mỹ.
Releasing
Trapped Rabbits
The
great monk Huineng lived from 638 to 713 AD. His family was so poor that
he never had the chance to go to school to learn to read or write. He had
very deep natural wisdom, though, and as soon as he found out about Buddhism,
he made up his mind to become a monk. He worked very hard and soon achieved
enlightenment. His Teacher, the Fifth Patriarch, or Master, of the Ch’an
school, passed to him the robe and bowl which the First Patriarch, Bodhidharma,
had brought from India. Huineng became the Sixth Patriarch of the Ch’an
school, which the Japanese call Zen.
When
he achieved enlightenment, he realized the trouble people cause themselves
by killing animals for food. He told people to stop eating themselves into
disaster, but nobody listened.
Huineng
felt sorry for the hunters who kill wild animals, so he took off his robes
and let his hair grow so he didn’t look like a monk anymore. He joined
a group of hunters who spent months and months hunting in the wilds and
the mountains.
Huineng
wouldn’t shoot or trap, so the hunters told him to watch the nets. That
was just what he wanted. When he saw a deer or rabbit tangled in the nets,
if the hunters were not around, he freed the animals.
If
the hunters were there, Huineng cried and begged them to release the animals.
He
stayed with the hunters for sixteen years. In this way he not only saved
many animals, but reformed the hunters as well. They realized the cruelty
of their occupation, and found other ways to make a living.
Then
Huineng set up his own temple. He was so kind and so wise that people came
from miles around to learn from him, and to become Buddhists. His disciples
passed his Ch’an, or Zen, teaching to Korea and Japan, and now it has
spread to Europe and America, too.
Đại
Tướng Mao Và Con Rùa
Tại
Trung Hoa và đời nhà Tấn khoảng hơn 1.600 năm trước, có
một nhà thông bác tên Mao Bảo rất thương yêu loài vật.
Một hôm nọ, trước khi trúng tuyển kỳ thi của triều đình
và trở thành một quan chức của chính phủ, ông gặp một
người đánh cá đang xách một con rùa anh ta vừa bắt được
để mang ra chợ bán. Ông Mao Bảo liền mua con rùa và thay vì
làm thịt để ăn, ông mang nó ra thả nơi hồ nước gần đó.
Sau
này, ông Mao Bảo trở nên một vị đại tướng có nhiều
thế lực. Các đại tướng dù tài giỏi đến đâu, đôi lúc
cũng bị thất trận; cho nên tại chiến trường ở Chuch’eng,
quân đội của đại tướng Mao bị đánh bại bởi tướng
Chilung và quân của Mao phải trốn chạy để tìm đường sống.
Quân
thù rượt đuổi theo rất khẩn cấp. Ðại tướng Mao cũng
chạy nhanh không kém. Khi ông đến một hồ nước lớn nhưng
nhìn quanh ông không thấy một chiếc cầu hay thuyền bè nào.
Không có cách gì để vượt qua hồ nước. Ðại tướng Mao
cũng không biết bơi; và hơn nữa, mặc áo giáp nhà binh nặng
nề, khi xuống nước chắc ông sẽ bị chìm xuống đáy hồ.
Ông
nhìn lui thấy quân thù rượt đuổi gần kề. Ông nhìn lên
trời và than: “Trời đất đã bỏ rơi tôi rồi!”
Ðể
khỏi rơi vào tay kẻ thù, đại tướng Mao nghĩ đến chuyện
tự sát. Ngay khi ông vừa muốn tự tử ông liền thấy một
vật gì to lớn hiện trồi lên mặt nước và đang tiến sát
cạnh bờ hồ, nơi ông dự tính sẽ tự kết liễu đời mình.
Ðại
tướng Mao không còn có thì giờ để suy nghĩ về vật thể
đang trồi nổi trên mặt hồ. Quân thù rượt đuổi theo càng
ngày càng gần ông hơn. Ông tự nghĩ: “Nếu tự sát ở đây,
quân thù sẽ cướp lấy thân xác và điều đó sẽ làm nhục
cho quốc thể và vị hoàng đế của ta. Vậy tốt hơn ta nên
gieo mình xuống hồ nước và như thế quân thù sẽ không tìm
thấy xác của ta.” Cuối cùng, ông liền nhảy xuống hồ
nước.
Nhưng
ông ngạc nhiên thấy chân mình như chạm đứng trên một vật
gì và vật đó bắt đầu rời bờ, vượt qua hồ nước tiến
sang bờ bên kia. Ðại tướng Mao vô cùng kinh ngạc.
Quân
thù rượt đuổi sát cạnh hồ nước. Chúng bắn tên như mưa
vào đại tướng Mao, nhưng ông ta đã vượt thoát ra xa. Những
mũi tên đều rơi xuống nước và không trúng ông.
Ðại
tướng Mao nhìn xuống và nhận thấy mình đang đứng trên
lưng một con rùa to lớn. Nó đã mang đưa ông vượt qua đến
bờ hồ bên kia. Ðại tướng Mao bước lên bờ. Con rùa hiện
trồi lên mặt nước, và chào ông. Rồi nó lặn xuống hồ
và bơi đi.
Ðại
tướng Mao liền nhớ lại mười hai năm trước ông đã cứu
thoát một con rùa và thả nó xuống hồ nước, chính ngay tại
hồ này!
Giờ
đây khi gặp nạn cùng đường con rùa biết ơn đó đã hiện
ra để cứu sống cho ông. Ðúng là, xưa người cứu vật sống,
nay vật cứu sống người!
General
Mao And The Turtle
During
the Chin dynasty about 1,600 years ago, there was a kind-hearted Confucian
scholar named Mao Pao. Once, before he had passed the imperial examinations
and become a government official, he happened to see a fisherman on his
way to the market to sell a turtle he had caught. Mao Pao immediately bought
the turtle, but instead of eating it, he took it to a nearby lake and let
it go.
Later,
Mao Pao became a very powerful general. Even the best generals lose sometimes,
though, and at Chuch’eng, General Mao’s forces were beaten by Chilung,
and they had to run for their lives.
The
enemy was following hot on their heels. General Mao was running as fast
as anyone else. He reached a lake, but there were no boats around, and
there was no bridge. There was no way to cross the water. General Mao couldn’t
swim, and anyway, he was dressed in battle armor, which would carry him
straight to the bottom.
He
looked back and saw the enemy was almost on top of him. He sighed and said,
“The heavens have abandoned me!”
Rather
than fall into enemy hands, General Mao prepared to take his own life.
Just as he was about to commit suicide, he noticed something huge come
to the surface of the water, and float over close to the shore where he
was preparing to kill himself.
He
had no time to worry about what was floating in the lake. The enemy was
coming closer and closer. General Mao decided, “If I kill myself here,
the enemy will capture my corpse, which will disgrace my country and my
emperor. It will be better for me to throw myself into the lake so they
cannot find my corpse.” With that, he leaped into the water of the lake.
But
to his surprise, he landed on something. Then he started to move away from
the shore, across the lake, to the other side. General Mao was astonished.
The
enemy reached the lake. They shrieked and howled and shot arrows at General
Mao, but he was already out of range. The arrows fell into the water and
didn’t hit him.
General
Mao looked down and discovered he was standing on a huge turtle! The turtle
took him to the other side of the lake. General Mao got off and climbed
up the bank. The turtle came to the surface and nodded to him. Then it
sank back into the water and swam away.
The
General Mao remembered that dozens of years before, he had saved a turtle
and released it in a lake — this very lake!
Now,
in his time of need, the turtle had come to rescue him: a life for a life!
Những
Con chim Lo Việc Mai Táng
Ngày
xưa, có một vị ẩn tu sống trong một túp lều nhỏ.
Tên
của vị đó là Tôn Lương. Ông ta rất nghèo, nhưng tính tình
chân thật và có lòng thương loài vật. Ông ta làm nhiều công
việc lặt vặt. Và tiền ông kiếm được rất ít. Khi thấy
con vật nào bị sập bẫy, nếu có đồng nào, ông liền mua
con vật đó để thả cho nó chạy vào rừng.
Bằng
cách này, ông đã cứu thoát vô số loài vật, nhưng ông không
thể để dành được nhiều tiền, do đó ông vẫn rất nghèo.
Khi
đến tuổi già không làm gì được nữa, ông phải đi xin
ăn để sống qua ngày. Ngày nọ, khi già trên 70 tuổi ông quá
yếu phải nằm trên giường không ngồi dậy nổi và ít lâu
sau, ông từ trần.
Tôn
Lương không có bạn bè và thân nhân. Ông nghèo đến nổi
không có tiền để mua một chiếc hòm. Ðối với người Trung
Hoa, điều bất hạnh nhất là khi mình chết mà không có ai
lo việc chôn cất. Ông Tôn Lương cũng không có một người
thân chăm sóc. Ða số những người láng giềng đều nghèo
như ông. Họ không hay biết là ông đã qua đời, nhưng dù
họ có biết chăng nữa, chắc chắn họ cũng không có đủ
tiền để sắm nổi một chiếc hòm và lo việc mai táng cho
ông.
Vào
buổi sáng sau khi ông Tôn Lương mất, người hàng xóm ngạc
nhiên thấy trên trời hiện ra đầy chim chóc. Hàng nghìn con
chim từ khắp nơi bay đến chỗ túp lều của ông. Những người
láng giềng đổ xô lại xem cho biết việc gì đã xảy ra.
Họ thấy ông Tôn Lương đang nằm chết trên giường. Họ
tưởng rằng những con chim đó bay lại để rỉa rứt ăn thịt
ông.
Rồi
họ ngạc nhiên thấy mỗi con chim ngậm nơi mõ của nó một
ít đất và nhả đất này xuống trên thân xác của ông Tôn
Lương. Ðàn chim bay lại để tỏ lòng biết ơn và lo việc
mai táng cho người đã từng cứu sống chúng.
Hàng
nghìn và hàng nghìn con chim đã bay đến. Chúng bay lui bay tới.
Vào trước buổi trưa, chúng đã thả đất lấp đầy túp
lều của ông; và xây thành một nấm mộ cho ông Tôn Lương.
Những
người hàng xóm đều vô cùng xúc động khi nhìn thấy cảnh
tượng này. Từ đó về sau, họ không bao giờ đặt lưới
hay bẫy sập một con vật nào.
Burial
By Birds
A lonely
man lived by himself in a little hut.
His
name was Sun Liang. He was dirt poor, but he was honest and kind. He did
odd jobs. His pay was very low. Whenever he saw an animal in a trap, if
he had any money, he would buy the animal and set it free in the forest.
In
this way, he saved many animals, but he didn’t save any money, so he
was still very poor.
When
he was too old to work, he had to beg for food to stay alive. One day when
he was over seventy years old, he was too weak to get up from his bed,
and before long, he left this world.
Sun
Liang had no relative and no friends. He was so poor that he didn’t even
have enough money for a coffin, and for Chinese people, the worst possible
fate is to die and not get buried. But there was nobody to look after him.
His neighbors were almost as poor as he was. They didn’t know he was
dead, and even if they had, they certainly didn’t have enough money to
buy him a coffin and bury him.
The
morning after Sun Liang died, the neighbors were amazed to see the sky
full of birds. Thousands of birds came from all directions and flew into
Sun Liang’s hut. The neighbors came to see what was wrong. They saw Sun
lying dead on his bed. They thought the birds must have come to peck the
flesh off his bones.
Then
they saw that every bird brought a little soil in its beak, and dropped
the soil on Sun’s body. They had come to show their gratitude by burying
their savior!
Thousands
and thousands of birds came. They flew back and forth. Before noon, they
had filled his whole hut with soil and turned it into a tomb for Sun Liang.
The
neighbors were deeply touched when they saw this. From then on, they never
caught another animal in a trap or a net.
Đàn
Ong Ngăn Chặn Một Vụ Xử Oan
Ngày
xưa, có ông chủ một quán ăn trông thấy một con ong bay rớt
vào trong hủ rượu của ông. Người chủ quán cảm thấy tội
nghiệp cho con ong bé nhỏ, ông liền hạ thấp chiếc đũa để
cho nó leo lên đó mà bò ra. Ông đặt chiếc đũa xuống và
nhìn con ong đang tìm cách tự làm khô mình. Nó đập nhẹ hai
cánh để mau khô hơn. Khi con ong hoàn toàn khô rồi, nó bay
lên và kêu vo vo.
Sau
đó, người chủ quán nhận thấy những con ong khác cũng bị
thu hút bởi mùi rượu nên đã bay tới rớt vào và chết đuối
trong hủ rượu. Từ đó, ông chú ý đến chúng và đã cứu
sống được rất nhiều con ong.
Ông
làm việc phước đức này tiếp tục trong nhiều năm. Một
ngày nọ, ông giật mình thấy lính của nhà vua vào quán, và
không một lời giải thích họ còng tay áp giải ông tới pháp
đình. Khi đến nơi, người chủ quán mới biết rằng ông
bị người ta vu oan giá họa. Vài tên cướp bị bắt đã tố
cáo ông nằm trong băng đảng của họ; cho nên quan tòa thụ
lý vụ án đã quyết định xử chém đầu ông cùng với những
tên cướp khác.
Người
chủ quán đã kêu than rằng ông ta vô tội, nhưng bọn cướp
vẫn nhứt quyết bảo rằng ông có tội; cho nên quan tòa đã
tuyên bố rằng ông ta phạm tội. Lòng người chủ quán vẫn
bìnhthản không chút sợ hãi khi nhìn thấy vị quan tòa cầm
bút lông đỏ phê bản án tử hình buộc tội ông ta.
Ngay
vừa lúc ông chánh án cầm bút lông định phê bản án thì
ông nghe tiếng vo ve ồn ào mỗi lúc một gần và ngày càng
rõ hơn. Một đàn ong bay vào cửa sổ và bu đậu nơi đầu
bút lông đỏ của vị quan tòa. Ông vảy mạnh ngọn bút lông
để hất mấy con ong ra, nhưng nhiều con khác lại tiếp tục
bay đến. Ðàn ong không chích đốt, nhưng chúng không chịu
bay đi.
Vị
quan tòa nhận thấy đây là một việc hết sức kỳ lạ. Ông
liền suy nghĩ: “Có thể những con ong này bay đến để ngăn
chận không cho ông phê chuẩn một bản án hoàn toàn oan ức.”
Do
đó, vị quan tòa cho xem xét lại hồ sơ những tên cướp này
và tìm thấy có nhiều mâu thuẩn trong lời khai của chúng.
Ông liền cho điều tra bọn cướp trở lại. Lần này ông
chắc rằng ông đã kết án một người vô tội.
Chỉ
sau khi bản án tử hình của người chủ quán được vị quan
tòa hủy bỏ những đàn ong mới chịu bay đi! Rồi ông quan
tòa hỏi tên chủ quán có biết tại sao đàn ong bay đến cứu
thoát cho ông không?
“Thưa
ngài tôi thực sự không biết, nhưng có thể là do tôi đã
cứu sống nhiều con ong bị chết đuối trong những hủ rượu
của tôi. Chúng ngửi thấy mùi rượu nên bay đến, rơi vào
trong đó và không thể thoát ra được. Thấy vậy, tôi luôn
luôn cứu sống chúng. Giờ đây, chúng bay đến để cứu giúp
lại tôi. Thưa ngài, tôi nghĩ chắc là như vậy.”
“Thực
là một việc hết sức mầu nhiệm! Ông gặp cảnh ngộ thập
tử nhứt sanh. Nhưng ông thoát chết nhờ ông đã hành thiện.
Vậy ông nên cố gắng làm nhiều việc lành hơn nữa. Chắc
chắn tương lai ông sẽ hưởng toàn quả phúc
Những
lời dạy của vị quan tòa chứng tỏ đã đúng với sự thực.
Người chủ quán đã làm tất cả mọi việc lành mà ông có
thể. Công việc làm ăn của ông mỗi năm mỗi phát triển.
Ông sống cuộc sống trường thọ, giàu sang, hạnh phúc, và
chết một cách an lành.
Bees
Prevent A Miscarriage Of Justice
One
day a bartender in a tavern happened to see that there was a bee drowning
in one of his kegs of liquor. He felt sorry for the little bee, so he lowered
a chopstick to the bee for it to climb out on. He put the chopstick down,
and watched as the bee dried out. It flapped its wings so they would dry
out faster. When it was all dry again, it flew away buzzing busily.
After
that, the bartender noticed that quite a few bees were attracted by the
smell of the liquor, fell in, and drowned. From then on, he kept an eye
out for them, and rescued many bees.
This
went on for many years. One day, he was startled when bailiffs from the
court marched into his tavern and, without a word of explanation,
handcuffed him and marched him off to the court. When he got there, he
discovered that he had been framed. Some captured bandits who held a grudge
against him said that the bartender was one of their gang, so the judge
in charge of the case had him hauled in to behead him with the rest of
them.
The
bartender protested that he was innocent, but the bandits had already said
he was guilty, so the authorities assumed he was guilty. The bartender’s
heart went cold as he saw the main judge pick up the red brush used for
writing out the death sentence.
Just
as the main judge picked up his brush to write, a loud buzzing was heard
coming closer, getting louder and louder. A great swarm of bees came flying
in the window and landed on the judge’s red brush! The judge waved the
brush to shake them off, but more and more bees came. They didn’t sting,
but they wouldn’t go away, either.
The
judge thought this most extraordinary. “Perhaps,” he mused, “These
bees are here to prevent a miscarriage of justice.”
At
that, the main judge examined the bandits again, and found contradictions
in their testimony. He grilled them over again. This time he was sure that
he had almost executed an innocent man.
Only
when the judge called off the bartender’s death sentence did the swarms
of bees fly away. Then the judge asked the bartender if he knew why the
bees had come to save him.
“I
really don’t know either, your honor, but maybe it’s because I have
saved lots of bees that almost drowned in my vats of liquor. They come
to the smell, you know, and then they fall in and can’t get out. When
I see that, I always save them. Now they’ve come to save me, I guess,
your honor.” “This is truly wonderful! You have had a narrow escape.
Always remember that you owe your life to your good deeds. Remember to
do all the good deeds you can. You are sureto enjoy good fortune in the
future.”
The
judge’s words proved true. The bartender kept doing all the good deeds
he could. His business got better year after year. He lived a long, happy
life, and died peacefully, a very rich man.
Con
Rùa Chữa Lành Bịnh Cho Người Hầu Gái
Vợ
chồng ông Trần vì có chút việc bận đi ra ngoài nên đã
dặn người đầy tớ gái: “Cô nhớ rửa thật sạch con rùa
trước khi nấu chín nó. Vì con rùa quá lớn nên cô phải cẩn
thận luộc nó cho thật kỹ. Cố gắng làm tốt công việc
của cô nghe.”
Cô
hầu gái trả lời: “Chắc chắn, tôi biết nấu mà.” Khi
mọi người đi rồi, cô ta vào trong bếp, đứng nhìn con rùa
và nghĩ đến cách phải nấu ra làm sao. Ngay lúc cô trông thấy
con rùa đang nằm trên nền nhà, cô cảm thấy thương hại
nó. Cô bảo thầm: “Này con rùa khốn khổ. Hẳn chắc rằng
con thích bơi lội dưới sông hơn là trong nồi nước xúp?”
Tại
sao người hầu gái xót thương con rùa đặc biệt này? Cô
đã giết nấu nhiều rùa cho gia đình ông Trần vì họ thích
ăn thịt rùa. Cô cảm thấy tội nghiệp cho con rùa nên cô
đã nhặt nó lên mang ra cửa và thả cho nó bò đi.
Rồi
cô nghĩ: “Ta không thể làm vậy được vì khi ông bà Trần
trở về mong dự bữa tiệc thịt rùa mà ta lại bảo rằng
tôi lấy làm tiếc là đã phóng thích nó đi mất thì họ sẽ
bực mình như thế nào? Hơn nữa dù cho ông bà Trần có
đánh đập cô thì điều đó cũng không làm cô đau đớn nhiều
bằng con rùa bị đem bỏ vào nồi nấu.” Rồi cô quyết định
thả cho nó đi.
Khi
ông bà Trần trở về nhà sửa soạn dự tiệc thì thấy trên
bàn ăn trống trơn, ông bà nổi giận mắng nhiếc và đánh
đập người hầu gái. Nhưng cô nhẫn nhục chịu đựng.
Sau
này khi trong vùng xảy ra bệnh dịch. Người tớ gái bị đau
nặng. Ông bà Trần mời bác sĩ đến khám bệnh cho cô và
bác sĩ đã bảo họ nên chuẩn bị mua hòm vì cô sắp chết
đến nơi rồi.
Tối
hôm đó, người hầu gái nằm mơ thấy một con vật mình ướt
và lấm bùn, bò lên khỏi hồ nước. Nó bò gần lại phía
cô ta. Mỗi lúc nó càng tiến lại gần sát cô hơn nữa. Rồi
con vật đó tiến vào phòng leo lên và bò vào giường cô,
nhưng cô không cảm thấy sợ hãi.
Rồi
con vật ướt lấm bùn đó bò lên thân mình người tớ gái
và cô cảm thấy khắp toàn thân cô mát mẻ. Nhiều ngày qua
cô không cảm thấy được dễ chịu như vậy.
Hôm
sau, ông bà Trần cầm cái thước dây đi vào phòng đo kích
thước để mua hòm cho người hầu gái và thấy cô đã ngồi
dậy. Khắp thân mình cô lấm bùn, nhưng trông cô khỏe hơn
trước. Bà Trần hỏi:
“Cô
đã thức dậy?” Cô đáp: “Vâng, thật là kỳ lạ, hôm nay
tôi cảm thấy đã bớt nhiều?”
“Tại
sao khắp thân mình cô dính đầy bùn như vậy?”
Cô
liền kể cho bà Trần nghe về mọi việc xảy ra tối qua. Bà
Trần hết sức lo lắng vì nghĩ rằng người tớ gái đã mê
sảng. Ðêm đó, bà quyết định canh chừng để coi.
Vào
giữa khuya, ông bà Trần nhìn thấy con rùa lớn mà người
hầu gái phóng thích trước kia, nay nó trở lại bò vào phòng
và đắp bùn lên khắp thân mình cô ta. Ông bà Trần không
tin điều mình thấy là có thật, nhưng vài ngày sau người
hầu gái của họ đã bình phục, và cô là người duy nhất
sống sót thoát khỏi nạn bệnh dịch.
Cũng
từ ngày ấy, ông bà Trần không bao giờ ăn thịt rùa nữa.
The
Turtle Who Healed The Maid
“Don’t
forget to scrub that turtle thoroughly before you cook it,” the Ch’engs
said on their way out to do some errands. “It’s so big you’ll have
to be careful how you cook it. Be sure to do a good job.”
“Sure,
I know,” their maid said. When they had left, she went to the chicken
and looked at the turtle, figuring out where to start. But when she saw
the turtle sitting there on the floor, she felt sorry for it. “Poor turtle.
Wouldn’t you rather be swimming in the river than swimming in gravy?”
Why
did the maid feel sorry for this particular turtle? She had cooked plenty
of turtles for the Ch’engs, because they loved to eat turtle. She felt
sorry for it, that’s all, so she picked it up and headed for the door
to let it go.
“No,
that won’t do, what’ll the Ch’engs do when they come back expecting
a turtle feast and I tell them, sorry, I let it go? But even if they whip
me, that won’t hurt me as much as cooking this turtle would hurt it.”
So the maid make up her mind and let the turtle go.
Sure
enough, when the Ch’engs came back ready for a feast and found the table
bare, they bawled out the maid and beat her and whipped her. But she got
over it.
Later,
there was an epidemic. The maid got terribly sick. The Ch’engs had the
doctor in to look at her, and the doctor told them they might as well get
her coffin ready, because she was a goner.
That
night, the maid sensed something crawling out of the pond, something slimy,
wet, and muddy. It was coming closer to her. Closer and closer it came.
It came into her room, and crept up to her bed. Then it crawled onto her
bed, but the maid wasn’t frightened.
Then
that wet, muddy thing climbed up on top of her, and she felt cool all over.
She hadn’t felt so comfortable for days.
The next morning, Mrs. Ch’eng came in with a tape measure to see what
size coffin to buy, and found her maid sitting up. She was all muddy, but
she looked much better.
“You’re
up?” Mrs. Ch’eng asked. “Yes, it’s very strange, but I feel
a lot better today.”
“Why
are you all muddy?”
The
maid told her about what happened during the night. Mrs. Ch’eng really
got worried then, because she thought her maid was delirious. She decided
to keep watch that night.
At
midnight, the Ch’engs saw that big turtle the maid had let go crawl back
into the room and smear mud all over the maid. They couldn’t believe
their eyes, but within days, their maid was up and around again, one of
the only persons to recover from the epidemic.
From
then on, the Ch’engs never ate another turtle.
Một
Ông Nhà Giàu Không Có Con
Vào
thời đại nhà Nguyên (1279-1368) khi Thành Cát Tư Hản xua quân
Mông Cổ xâm lăng Trung Hoa, có một ông phú hộ rất giàu có
nhưng không có một mụn con nào. Cả hai vợ chồng sống rất
cô độc. Họ mong ước sinh một đứa con, nhưng không làm
sao có được.
Ông
nhà giàu luôn luôn buồn rầu về việc đó. Ông ta nghĩ: “Có
nhiều tiền mà không con cái để chia xẻ cho chúng nó thì
đâu có hạnh phúc gì.”
Bạn
ông ta khuyên: “Tại sao ông không lên chùa nhờ thầy trụ
trì giúp cho? Vị sư ấy có thể hiểu rõ chuyện xảy ra trong
quá khứ và tương lai. Tôi nghĩ ông ta là người có khả năng
giúp bạn được.”
Nghe
vậy, hai vợ chồng ông phú hộ liền đi lên chùa. Họ vào
lễ Phật. Sau đó hai người đến gặp vị sư và quỳ xuống
lạy trán cúi sát úp trên nền nhà.
“Thưa
thầy, chúng con lạy thầy, nhờ thầy chỉ dạy cho biết chúng
con đã gây nên điều ác đức gì. Tại sao chúng con ước
mong có một đứa con mà không cách gì có được.”
Vị
sư coi tướng số của hai vợ chồng, và dùng thần lực để
hiểu biết việc quá khứ lẫn tương lai của họ. Rồi ông
bảo người phú hộ.
“Kiếp
trước ông đã vay một món nợ to lớn là bởi ông đã giết
các sinh vật. Ông đã sát hại nhiều con nhỏ của các thú
vật cho nên đời này ông bà không có con được.
“Món
nợ đó thực quá sâu dày, ông bà không dễ gì trả hết được.
Ông bà cần phải tụng kinh sám hối cho nhiều. Nếu ông bà
có thể cứu thoát được tám triệu mạng sống may ra ông
bà mới hoàn trả xong món nợ đó. Nếu ông bà vô ý giết
thêm một con rệp hay một con sâu ông bà phải cứu thêm một
trăm mạng sống nữa để bù vào cho đủ.
“Ðây
là phương cách tốt nhất để ông bà cải đổi số kiếp
của mình mới mong có con được.”
Ông
phú hộ vô cùng cảm động. Ông lên chùa vào chánh điện
lễ Phật và phát nguyện sẽ không bao giờ sát sanh nữa. Sau
đó, hai vợ chồng về nhà nỗ lực phóng sanh và dùng phần
lớn tài sản của họ vào công việc phước đức này. Họ
đi chợ mua nhiều heo, gà và ngỗng mang về thả nuôi chúng
sống tự nhiên trong vườn chùa. Hai vợ chồng cũng mua cá,
cua và lươn đem thả chúng xuống nước. Họ rất thành tâm
thường xuyên lên chùa làm nhiều việc phước đức; để
sám hối những việc làm tội lỗi của họ đã gây ra trong
kiếp trước.
Hai
vợ chồng làm các việc lành như thế trong nhiều năm. Sau
một thời gian họ cứu thoát đến tám triệu mạng sống của
thú vật, nhờ vậy mà bà vợ đã sinh được một cháu trai
khỏe mạnh và kháu khỉnh.
Ðứa
bé rất thông minh, lớn lên cháu học giỏi, và đỗ đạt
dễ dàng các kỳ thi của triều đình.
The
Childless Rich Man
During
the Yuan dynasty (1279-1368), when the Mongols under Genghis Khan had conquered
China, there was a rich man who had a lot of money but no children. He
and his wife were very lonely. They wanted a son, but just couldn’t have
one.
The
rich man always moped about that. “What good does all my money do without
any kids to share it with?”
“Why
don’t you go to the temple and ask the monk there?” a friend suggested.
“He can see the past and the future. If anybody can help you, he can.”
So
the rich man and his wife went to the temple. They paid their respects
to the Buddhas. When they saw the monk, they fell on their knees and knocked
their foreheads on the floor.
“Teacher,
Teacher, we beg you, tell us what is wrong. We want a child more than anything
else, but we just can’t have one.”
The
monk cast their fortunes, and used his powers to look into the past and
the future. Then he told the rich man.
“You
ran up a huge debt in your past life by killing animals. You killed the
children of many animals, so in this life, you don’t get any children
of your own.
“This
debt is very heavy, and it’s not enough just to pay it back. You have
to be sorry and repent. If you can save eight million lives, you can balance
out your debt. If you kill one more bug or one more worm, even by accident,
you have to save one hundred more lives to make up for it.
“This
is the best way to change your luck and to get a son.”
The
rich man was deeply touched. He went to the main shrine of the temple and
swore before the Buddhas that he would never kill again. When he and his
wife got home, they got to work saving lives, and spent most of their fortune
on it. They bought pigs, chickens, and ducks from the market, and arranged
for them to live out their natural life spans in temples. They bought fishes
and crabs and eels and put them back in the water. They were very pious
and went to many services in temples, to repent their past mistakes.
They
kept it up for several years. Long before they had saved eight million
lives, they had a healthy, happy little boy.
Their
son was so intelligent that when he grew up, he passed the imperial examinations
with ease the very first time.
Những
Viên Ngọc Rắn
Một
người lính gác hỏi: “Cái gì vậy?” Người bạn của ông
ta đáp: “Con rắn. Hãy giết nó đi.” Rồi họ cầm cây giáo
định, đâm chết con rắn nhỏ màu sắc đỏ.
Vị
chỉ huy của họ la lên “Ðừng giết.” Cả hai tên lính
hoảng sợ khi thấy người ra lịnh cho họ không được sát
hại con rắn là Quận Công của nhà Tùy ở Trung Hoa. “Các
ngươi không thấy nó bị thương rồi sao? Tội nghiệp con vật.”
Hẳn chắc họ thấy con rắn đã bị thương nơi đầu.
Viên
Quận Công dùng cây gậy nhẹ nhàng nâng con rắn lên và mang
nó ra bờ sông. Rồi ông bảo mấy tên lính thả cho con rắn
bò đi.
Một
lát sau, một người lính gọi anh bạn nói: “Trông kìa, con
rắn ban nãy trở lại.”
“Và
nó ngậm vật gì nơi miệng.”
“Này,
bạn nhìn nơi đó phải không?” Nó mang một viên ngọc!”
Những người lính nghe nói vậy liền chạy đến. Con rắn
nhỏ vẫn bò hướng về phía trước. Mấy anh lính bảo: “Ðể
xem thử nó bò đi đâu.” Họ tránh sang một bên, và con rắn
bò thẳng vào lều ông Quận Công và nhả viên ngọc nơi chân
của ông.
Viên
Quận Công nói với con rắn: “Thực bạn quá tốt với ta,
nhưng bạn nên biết rằng là quan chức của triều đình, ta
không bao giờ nhận tặng phẩm.” Con rắn vẫn nằm im không
nhúc nhích cho đến khi ông Quận Công lượm viên ngọc bỏ
vào túi quần.
Ðêm
hôm đó, viên Quận Công nằm mơ thấy ông vô ý bước đạp
nhằm một con rắn. Ông giật mình thức giấc nhìn xuống tưởng
chân ông bị rắn cắn... nhưng không, đó chỉ là điềm chiêm
bao. Nhưng cái gì đây? Ông thấy một viên ngọc khác nằm
bên cạnh chân ông, và đó là sự thật chứ không phải là
giấc mơ.
Hai
viên ngọc quá đẹp! Ông Quận Công là người có tâm hiền
lành và thực tình ông không muốn nhận được quà thưởng
vì đã cứu sống con rắn, nhưng giờ đây ông có hai viên
ngọc rất quý mà không biết giao trả cho ai, cho nên ông đành
phải cất giữ chúng làm vật kỷ niệm để ghi nhớ việc
ông làm phước cứu độ mọi chúng sanh.
Việc
làm thiện của ông Quận Công trên đây được loan truyền
xa gần khắp nơi và giúp cho nhiều người nhận biết rằng
ngay cả loài vật bò trên mặt đất cũng tham sống sợ chết.
Câu chuyện này cũng khiến cho những ai có tâm độc ác muốn
sát sanh hại vật phải suy nghĩ để cải đổi lối sống
của họ. Con người ngày càng biết yêu thương sự sống,
chấm dứt việc giết chóc và hành hạ loài vật.
Riêng
ông Quận Công nhà Tùy đó là điều quý báu hơn cả hai viên
ngọc giá trị!
The
Snake’s Pearls
“What
is that?” asked one sentry. “It’s just a snake. Let’s kill it,”
said his buddy. They took up their spears to kill that colorful little
snake.
“Halt!”
came the voice of command. Both men froze when they saw it was the Duke
of Sui himself telling them to stop! “Can’t you see it’s already
wounded? Poor thing.” Sure enough, they could see that the snake was
already wounded in the head.
The
Duke kindly picked up the snake with his staff, and took it to the river
bank. He told the soldiers to leave it alone.
A
while later, one sentry called the other, “Hey, look, that snake’s
come back again.”
“Yeah,
and it’s got something in its mouth.”
“Say,
will you look at that? It’s carrying a pearl!” The other soldiers came
running when they heard that. The little snake just kept going straight
ahead. “See where it’s going,” someone called. They got out of the
way, and the little snake went right to the Duke’s tent and dropped the
pearl at his feet.
“That
certainly is nice of you,” said the Duke, “But I’m an imperial officer.
I’m not supposed to accept gifts, you know.” The snake wouldn’t
budge an inch until the Duke picked up the pearl and put it in his pocket.
That
night, the Duke dreamed that he stepped on a snake by accident. He was
so startled that he woke up and looked at his feet to see if he had been
bitten...it was just a dream. But what’s that? He found another pearl
sitting by his feet, and that was no dream.
Two
beautiful pearls! The Duke was a kind man, and really didn’t want any
reward for saving the snake, but he had two priceless pearls and nobody
to return them to, so he put them away as a reminder to be kind to all
living things.
This
story spread far and wide, and many people were realized that even an animal
that crawls on the ground values its life. This story got even some nasty
people to think, and to change their ways. Gradually, more and more people
learned to love life and to stop killing things and tormenting animals.
For
the Duke of Sui, that was a much better reward than the pearls!
Giải
Cứu Đứa Con Của Long Vương
Ngày
xưa, có một vị bác sĩ già tên Tôn. Ông rất hiền lành,
và nhất là có lòng thương yêu loài vật.
Vào
một ngày mùa thu đẹp trời, trong khi ông đang đi dạo chơi
ngoài làng, thình lình ông gặp hai đứa trẻ nhỏ bắt một
con rắn. Chúng đùa giỡn với nó và con rắn quá mệt đừ
gần như sắp chết. Ông Tôn không muốn nhìn thấy con rắn
chết, cho nên đã móc túi lấy tiền ra mua con rắn nơi mấy
đứa nhỏ. Rồi ông mang con rắn ra gần bờ ao và thả cho
nó bò đi.
Vài
ngày sau, khi ông đang ngồi đọc sách nghiên cứu. Ông thiu
thiu ngủ thì mơ thấy một người mặc áo màu xanh lục bước
vào nhà và bảo bác sĩ Tôn đi theo ông ta. Người lạ mặt
dắt ông Tôn đến một lâu đài tráng lệ. Và ông không biết
rõ nơi đó là ở đâu.
Khi
bác sĩ Tôn và người hướng dẫn ông bước vào cái phòng
lớn, một nhân vật quan trọng tiếp đón ông Tôn và
nói: “Ðứa con của tôi đi ra ngoài chơi, nếu ngài không
cứu giúp nó, thưa bác sĩ, tôi sợ rằng con tôi đã không
bảo toàn được mạng sống.”
Rồi
ông ta bảo những người giúp việc dọn tiệc đãi ông khách
quý. Dùng tiệc xong, người cha lấy tặng đồ nữ trang và
châu báu cho ông Tôn, nhưng bác sĩ đã không nhận vật gì
hết. Người cha năn nỉ, và ông Tôn biết mình hiện
giờ đang ở đâu, cho nên cuối cùng ông nói: “Tôi được
biết tại Cung Ðiện Thủy Tinh của Long Vương này, ngài cất
giữ nhiều vị thuốc thần diệu có thể chữa lành các thứ
bệnh nhẹ và nặng mà người đời mắc phải. Nếu ngài có
lòng tốt trao truyền cho tôi một vài toa thuốc đặc biệt
của ngài để tôi cứu chữa cho các bệnh nhân khổ đau thì
đó sẽ là hành động phước đức vô cùng.”
Người
cha hóa hiện thành vị Long Vương, lấy ngay mấy tấm thẻ
bằng ngọc có ghi khắc 36 toa thuốc và trao cho ông Tôn
Sau
khi nhận các toa thuốc quý, bác sĩ Tôn trở lại công việc
nghiên cứu. Ông giật mình thức dậy và nhận biết rằng
mọi việc xảy ra vừa qua chỉ là một giấc chiêm bao.
Nhưng
điều ý nghĩa nhất là từ đó về sau, khi bác sĩ Tôn khám
bất cứ bệnh nhân nào, dù bệnh của họ có nặng đến đâu,
họ vẫn được tức khắc chữa lành. Nhờ vậy mà bác sĩ
Tôn đã cứu chữa được nhiều, rất nhiều bệnh nhân đau
khổ.
Saving
The Dragon King’s Son
Once
there was an old doctor named Sun. He was very kind, especially to animals.
While
he was taking a stroll outside the village one fine autumn day, he happened
to see two kids who had captured a snake. They were playing with it, and
the snake was so exhausted that it was almost dead. The old man couldn’t
bear to see even a snake die, so he got some money out of his pocket and
bought the snake from them. Then he took it to the edge of the pond and
let it go.
A few
days later, he was sitting in his study. He dozed off. Before long, he
saw a man dressed in green come in and ask Sun to go with him. Sun went,
and the man took him to a very awesome palace. Sun didn’t have any idea
where he was.
When
Dr. Sun and his guide came into the main hall, a very important looking
man came out and addressed Sun, saying, “My son was out playing. If you
hadn’t saved him, sir, I am afraid that my son wouldn’t have gotten
away with his life.”
Then
he had the servants serve a feast for their honored guest. After the feast,
the father presented jewels and treasures to Sun, but the doctor didn’t
want any. The father insisted, so finally Sun said, “I have heard
that in the Crystal Palace of the Dragon,” for by now he had figured
out where he was, “there are many extraordinary medicines which can cure
all ailments and diseases which people contract. If you would be so kind
as to transmit a few of your special prescriptions so that I might save
suffering people, that would be an act of great merit.”
The
Dragon King, as the father turned out to be, immediately got out jade tablets
inscribed with 36 prescriptions. He gave these to old Sun.
After
he received the prescriptions, Dr. Sun returned to his study. He woke with
a start. He realized it had just been a dream.
But
the funny thing is that from then on, whenever he treated a patient, no
matter how serious the patient’s illness was, the patient was cured immediately.
In this way, Sun saved many, many suffering people.
Quả
Báo Của Một Việc Làm Ác
Ðời
nhà Ðường (618-907) bên Trung Hoa có một anh nông phu rất tàn
ác. Trưa hôm nọ, ông ta ra xem xét công việc ngoài đồng ruộng.
Ông thấy con bò bên nhà hàng xóm chạy lạc vào đám ruộng
của ông. Nó đang gặm lúa và dẫm đạp hoa màu.
Người
nông dân vô cùng tức giận bảo rằng: “Tao làm lụng cực
khổ mới có thóc lúa này, bây giờ mày đến gặm ăn và phá
hoại mùa màng của tao! Mày phải trả một giá đắt cho sự
ăn vụng này. Ông liền rút dao ra và nói: “Tao không muốn
giết chết mày, nhưng vì mày đã ăn hại thóc lúa của tao
nên tao phải cắt lưỡi của mày bỏ lại đây. Ðể tao coi
mày còn dám ăn vụng, phá hoại mùa màng của tao nữa không!”
Con
bò nhận biết mình có lỗi nên nó đã cúi đầu xuống và
tỏ vẻ hối tiếc. Người nông dân nghèo khó đã nắm sừng
ghì chặt đầu con bò xuống và dùng dao cắt cái lưỡi của
nó. Con bò vô cùng đau đớn, nhưng cũng không kêu van gì được.
Về
sau, người nông dân tàn ác này đã lập gia đình và có ba
đứa con. Nhưng đứa nào cũng bị câm nửa năm đầu trước
khi chúng biết nói. Ông không hiểu tại sao mấy đứa con của
ông đều bị câm. Ông đưa chúng đi khám nhiều bác sĩ danh
tiếng nhưng không một loại thuốc nào của các vị này cho
có thể chữa lành giúp chúng nói được.
Người
nông dân liền nhớ lại khoảng mười hai năm trước ông đã
cắt lưỡi của một con bò đực. Ông ta hiểu rõ nguyên nhân
tại sao ba đứa con của ông bị câm. Chính do nhân tàn ác
ông gây ra đã mang lại quả báo khổ đau cho mấy đứa con
trong gia đình ông
The
Results Of Cruelty
During
the T’ang dynasty there was a very cruel farmer. At noon one day he went
to see how everything was in his fields. He saw that the bull a neighbor
used to plow had wandered into his field. It was eating the grains and
had trampled his crops.
The
farmer was furious. “I have worked so hard to grow these crops, and now
you have come to steal some and trample the rest! You must be tired of
living!” With that, he took out his knife and said, “I am not going
to kill you, but since you have eaten my crops, you have to leave your
tongue here. Let’s see if you ever dare steal from me again!”
The
bull must have known it had done wrong, because it dropped its head and
looked sorry. The mean farmer grabbed it by the horn and cut out its tongue.
Even though it hurt, the bull did not cry out in pain.
Later,
that cruel farmer got married and had three children. Each one of his children
lost the ability to speak about half a year after it had begun to talk.
The farmer did not understand why his children were mute. He took his children
to see many famous doctors, but none of the medicine they prescribed could
make them speak again.
Then
the farmer remembered the tongue he had cut out of the bull’s mouth a
dozen years before. He knew what was wrong with his children. His cruelty
was reflected back into his family.
Một
Trăm Mạng Sống
“Bữa
nay, em cảm thấy khỏe hơn không?” Ông Phan biết vợ mình
mắc bệnh lao rất khó chữa lành nên ông đã hết lòng chăm
sóc cho vợ.”
Vợ
ông mệt mỏi trả lời: “Cám ơn anh đã quá lo lắng cho em.”
Ông
Phan đã mời bác sĩ Trần giỏi nhất để chữa bệnh cho vợ
ông. Bác sĩ Trần sau khi khám bệnh người vợ, đã gặp riêng
ông Phan.
Bác
sĩ bảo: “Mặc dù vợ ông bệnh quá nặng đấy nhưng vẫn
có cách chữa được. Theo toa thuốc này, cần đến một trăm
đầu con chim sẽ để chế vị thuốc đó. Sang ngày thứ ba
và thứ bảy, vợ ông cần phải dùng óc của chim sẻ. Ðây
là vị thuốc bí mật do ông bà của tôi truyền lại và nó
không bao giờ không có kết quả. Nhưng nên nhớ rằng ông
phaủi giết đủ một trăm con chim sẻ, chứ thiếu một con
cũng không được.”
Ông
Phan hết lòng muốn cứu sống vợ nên đã gấp rút đi mua
một trăm con chim sẻ. Chúng bị nhốt chật trong một cái lồng
lớn. Chúng nhảy nhót và kêu thảm thiết vì không đủ chỗ
cho chúng bay nhảy thỏa thích. Có thể chúng cũng biết rằng
chúng sắp sửa bị giết chết.
Bà
Phan hỏi chồng: “Anh định làm gì với những con chim sẻ
đó?”
Người
chồng vui vẻ trả lời: “Ðây là vị thuốc đặc biệt của
bác sĩ Trần! Anh đang chuẩn bị giết chúng để chế vị
thuốc ấy, và em dùng sẽ tức khắc lành bệnh.”
Bà
Phan liền ngồi dậy trên giường và nói: “Anh không thể
làm một việc ác như thế. Anh không nên giết một trăm mạng
sống để cứu lấy sự sống của riêng mình em! Em đành chịu
chết còn hơn để anh sát hại một trăm con chim sẻ để cứu
mạng sống cho em!”
Ông
Phan không biết làm sao.
Bà
vợ tiếp tục bảo: “Nếu anh thực tình thương em, thì anh
nên nghe lời em là hãy mở lồng thả hết những con chim sẻ
đó ra. Như thế dù em có chết em cũng mãn nguyện để nhắm
mắt.” Ông Phan đã giải quyết thế nào? Ông mang lồng chim
vào trong rừng và phóng sanh tất cả một trăm con chim sẻ
đó. Chúng bay vào các bụi rậm, đậu trên cây và kêu hót
líu lo. Chúng lộ vẻ vô cùng sung sướng vì được thả tự
do.
Vài
ngày sau, bà Phan rời khỏi giường, mặc dù bà đã không uống
thuốc gì hết. Bà con và bạn bè kéo nhau đến chúc mừng
bà đã nhanh chóng bình phục khỏi cơn bệnh hiểm nghèo. Mọi
người đều hết sức vui mừng.
Năm
sau, bà Phan sinh được một cháu trai. Em bé mạnh khỏe và
rất dễ thương, nhưng điều buồn cười là trên mỗi cánh
tay của nó có một cái dấu bớt; và các dấu bớt này trông
hình giống như những con chim sẻ!
One
Hundred Lives
“Are
you feeling any better today?” Fan knew that his wife had tuberculosis,
which was not easy to cure, but he took care of her very tenderly.
“Thank...
you... for... your concern,” his wife gasped out painfully.
Fan
asked the best doctor Ch’en, to treat his wife. Doctor Ch’en examined
her carefully, and took Fan aside.
“There
is a way to cure her, even though she is quite sick,” the doctor said.
“Take the heads of one hundred sparrows, and make them into medicine
according to this prescription. Then on the third and seventh days eat
sparrow brains. This is a secret passed down from my ancestors, and it
never fails. But remember, you have to have one hundred sparrows. You can’t
be even one short.”
Fan
was eager to help his wife, so he rushed out and bought one hundred sparrows.
They were all crowded into one big cage. They chirped and hopped around
mournfully, because there wasn’t enough space for them to enjoy themselves.
May be they even knew they were going to be killed.
“What
are you doing with all those sparrows?” Mrs. Fan asked.
“This
is Doctor Ch’en’s special prescription! We’re going to make them
into medicine, and you’ll be up and around in no time,” her husband
cheerfully responded.
“No,
you can’t do that!” Mrs. Fan sat up in bed. “You can’t take one
hundred lives to save my one life! I would rather die than let you kill
those sparrows for me!”
Fan
didn’t know what to do.
“If
you really love me,” she continued, “Do as I say. Open the cage and
let all of those sparrows go. Then even if I die, I will die at ease.”
What could he do? Fan took the cage out to the woods and let all one hundred
sparrows go free. They flew into the bushes and trees and sang and cheeped.
They looked and sounded very happy to be free.
In
a few days, Mrs. Fan got out of bed again, even though she hadn’t had
any medicine. Her friends and relatives came to congratulate her on her
speedy recovery from such a terrible disease. Everybody was very happy.
The
next year, the Fans had a baby boy. He was lively and cute, but the funny
thing was, on each arm he had a birthmark, and the birthmarks looked just
like sparrows!
Tên
Đồ Tể Đền Tội
Châu
là người thô lỗ, nhưng rất giàu, vì ông kiếm được nhiều
tiền nhờ bán thịt bò. Mỗi ngày, ông giết thịt ít nhất
là ba con bò. Trải qua một thời gian, do bán nhiều thịt bò
mà ông trở nên một trong những người giàu nhất trong quận.
Vào
khoảng đầu thế kỷ thứ 19, khi ông Châu già cả, con ông
là Quang đứng ra lo việc buôn bán cho gia đình. Hai cha con hãnh
diện với nghề bán thịt này bằng cách đặt một gốc cây
già ngay trước cổng nhà của họ. Nhiều năm qua, họ dùng
gốc cây đó làm tấm thớt cắt thịt. Họ thường kê đầu
con bò trên đó để đập mạnh cho chết. Khi hành khách đi
ngang qua nhìn thấy gốc cây này họ đều biết rằng đó là
quán bán thịt.
Nhưng
vào đêm nọ, một việc kỳ lạ bất ngờ đã xảy ra. Cái
tấm thớt gốc cây biến thành đầu con bò và nó lăn vòng
quanh khắp các đường trong thành phố! Mọi người trông thấy
đều hết sức kinh ngạc.
Tối
hôm đó, khi đi ngang qua nhà ông Châu người ta nghe bên trong
có tiếng ồn ào của nhiều con bò húc báng lộn nhau. Nhưng
không ai hiểu rõ được việc gì đang xảy ra!
Một
hai ngày sau, ông Quang vẫn đứng bán quán như thường lệ,
và có một người lính vào mua thịt. Vì là nhân viên của
chính quyền nên ông ta muốn mua thịt với giá đặc biệt
thật rẻ.
Ông
Quang hét to nạt tên lính: “Ông điên rồi sao? Tôi lỗ nhiều
quá!” Vì bị mất mát tiền bạc, ông nổi cơn giận dữ.
Rồi hai người gây gỗ với nhau. Ông Quang nổi điên cầm
dao cắt thịt chém mạnh vào đầu anh lính!
Khi
hay tin con mình giết chết tên lính ông Châu hoảng hốt, té
xuống ngất xỉu và từ trần.
Ông
Quang bị nhà cầm quyền xử tử. Sau này người ta gặp thấy
bà vợ và mấy đứa con ông Quang, mặc quần áo rách rưới
đi xin ăn ngoài đường phố. Bà con hàng xóm bảo: “Chúng
ta thật không ngờ vợ con ông Châu giàu có trước đây ngày
nay lại dắt nhau đến xin ăn ngay ở ngôi nhà cũ của họ.”
Theo
Phật giáo giải thích: “Chính ông Châu đã gây nên cảnh
gia đình suy sụp tan nát, vì họ đã giết hại nhiều thú
vật. Nếu bạn làm việc lành, bạn và thân quyến sẽ gặp
điều tốt. Nếu bạn hành động ác, gây đau khổ cho kẻ
khác, bạn và gia đình sẽ gặp nhiều khổ đau.
“Do
đó, bạn không nên ăn thịt. Bạn cần cố gắng dứt trừ
tâm độc ác, và nên thương yêu đừng sát hại các sinh vật,
nhờ vậy mà mọi chúng sanh đều an lạc.”
Mọi
người đều nghĩ rằng đó là điều công bằng hợp lý. Những
người giết thịt trong vùng đều nhận biết rằng điều
bất hạnh xảy ra cho gia đình ông Châu; một ngày nào cũng
có thể dễ dàng xảy đến với họ, cho nên tất cả đều
đóng cửa các hàng thịt và họ đã thay đổi tìm nghề sinh
sống khác.
Hơn
nữa, ngày nay y khoa đã chứng minh cho thấy rằng dùng nhiều
thịt bò sẽ gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe con người.
Nó sẽ tạo ra các bệnh tim và ung. Cho nên dù bạn có suy nghĩ
như thế nào, thì việc ăn nhiều thịt vẫn là điều không
tốt cho sức khỏe của bạn.
The
Butcher’s End
Chao
was a coarse man, but he was rich, because he made so much money selling
beef. Every day he butchered at least three heads of cattle. That’s quite
a bit of beef, so over a period of years, he became one of the richest
people in the country.
Around
the beginning of the nineteenth century, when Chao was old, his son Kuang
took over the family business. They were so proud of their business that
they put an old stump in front of their gate. They had used that stump
for many years as a chopping block. They would put the cow’s head on
the block and smash it. When people saw that stump, they knew this was
a butcher’s house.
But
one night something strange happened. The stump turned into a cow’s head,
and rolled all around the streets and roads of the city! The people who
saw it were astonished.
That
night, people passing by the Chao’s place heard the sound of innumerable
cattle fighting inside. Nobody could figure out what was going on!
A day
or two later, Kuang was doing business as usual when a soldier came to
buy meat. But since he was buying meat on official business, he wanted
a special low price.
“Are
you crazy?” Kuang screeched. “I’d lose money!” So instead of losing
his money, he lost his temper. They quarreled. Kuang got so mad that he
picked up his cleaver and split that soldier’s head wide open!
When
Chao heard that his son killed a soldier, he was so upset that he fell
over and died.
Kuang
was put to death. Before long, his widow and children were in rags, begging
on the streets. The neighbors said, “We never expected that the rich
Chaos would be asking for handouts right outside the gate of their old
mansion!”
A Buddhist
explained it to them. “They brought it down upon themselves by killing
so many cattle. If you do good deeds, you will earn a good fortune for
you and your loved ones. If you do bad deeds, you will cause yourself and
your family as much suffering as you caused others.
“This
is why you should never eat meat. You should try to control your temper,
and get along will with all living creatures so that everyone can enjoy
life.”
Everybody
thought that was reasonable. The other butchers in the area realized that
what happened to the Chaos could easily happen to them, too, so they closed
up their butcher shops and went into other lines of business.
Now,
of course, medical science has proved many times that eating beef is bad
for your health. It causes heart disease and cancer. No matter how you
look at it, you should know that eating meat can do you no good whatsoever.
Cái
Lưỡi Dê
Triều
đại nhà Ðường từ năm 618 đến năm 907 sau tây lịch là
một trong những thời đại huy hoàng nhất của lịch sử Trung
Hoa. Bấy giờ ông Phan Quả sống tại kinh đô là một quân
nhân nghệ sĩ có tài cho nên ông được mời giữ một chức
vụ trong triều đình khi ông còn rất trẻ. Ông dễ dàng kết
thân với mọi người; do đó ông có nhiều thân hữu trong
số những người bạn trẻ cùng làm chung với ông.
Ngày
nọ, nhóm bạn của ông đang đi dọc theo một nghĩa trang. Giữa
những ngôi mộ, ông gặp thấy một con dê đi lạc. Nó đang
chăm chú gặm cỏ. Ông Phan cùng với mấy người bạn đến
bao quanh và lôi con dê về nhà. Nó bắt đầu kêu la. Bọn họ
sợ người chăn dê nghe tiếng kêu sẽ đi tìm nó. Cho nên ông
Phan đã tới dùng rễ cây mà kéo đứt cái lưỡi con dê ra.
Ông ta hãnh diện đã làm cái việc ác đức này quá nhanh.
Sau
khi về tới nhà những người bạn của ông Phan đã làm thịt
và quay con dê. Rồi họ vui vẻ hả hê nhậu rượu với thịt
dê.
Năm
sau, ông Phan hoảng hốt khi thấy cái lưỡi của mình co rút
lại. Mỗi ngày nó càng ngắn thêm và cuối cùng ông ta không
nói được. Ông không thể tiếp tục đến sở làm và rồi
ông Phan đành phải nghỉ việc. Ông đi tìm thầy để chữa
trị cái lưỡi.
Ông
Trịnh, người cấp trên của ông Phan nghĩ rằng ông ta lười
biếng nên đã bảo ông đưa lưỡi ra để ông xem thử, ông
Pan có thực đau không. Ông Trịnh ngạc nhiên thấy cái lưỡi
của ông Pan đã biến mất. Chỉ còn lại một chút nơi gốc
cái lưỡi thôi. Ông Cheng muốn tìm hiểu tại sao xảy ra như
vậy. Ông Pan cầm lấy bút lông và viết trả lời: “Chắc
bởi tại năm ngoái chúng tôi bắt trộm một con dê và khi
nó bắt đầu kêu la, tôi liền kéo đứt cái lưỡi nó ra.”
Ông
Trịnh biết rằng ông Phan bị mất cái lưỡi để bù trả
lại cái lưỡi mà ông đã tướt đoạt của con dê. Ông khuyên
ông Phan nên làm những Phật sự và hồi hướng các phước
đức ấy cho con dê để mong bù đắp sự khổ đau thiệt thòi
của nó. Ông Trịnh bảo ông Phan sao chép lại kinh Pháp
Hoa.
Ông
Phan ân hận về hành động ác mà ông đã làm. Ông thề nguyền
sẽ không bao giờ ăn thịt thú vật nữa và hết lòng cố
gắng tạo sự an lạc cho con dê, qua những việc làm phước
đức, giúp đỡ chùa chiền và cầu nguyện của ông.
Một
năm sau cái lưỡi của ông Phan bắt đầu mọc trở lại. Ông
ta vui mừng thấy lưỡi của mình đang từ từ dài ra. Ông
Phan đến sở làm để báo tin cho ông Trịnh biết. Ông Trịnh
hãnh diện thấy ông Phan đã ăn năn sám hối sửa lỗi của
mình.
Khi
ông Phan có thể nói được trở lại bình thường, ông Trịnh
đã thăng chức cho ông. Ông Trịnh là con người thành
thực và sáng suốt, cho nên ông rất được mọi người kính
mến. Tiếng đồn về những việc làm tốt của ông Trịnh
đã đến tai vua Thái Tông, một trong những vị vua hiền đức
nhất trong lịch sử Trung Hoa. Và vào năm 635 tây lịch,
tức năm thứ 9 dưới triều đại của ngài, ông Trịnh đã
được nhà vua thăng cấp lên đến chức Giám Sát Quan là một
trong những chức vụ cao cấp nhất triều đình.
Ông
Trịnh tâu với đức vua rằng ông được thăng chức
là do điều lành mà ông đã tạo ra nhằm giúp cho con dê đau
khổ vì mất lưỡi có được hạnh phúc.
The
Goat’s Tongue
The
T’ang dynasty from 618 to 907 AD was one of the great eras of Chinese
history. In the capital lived one P’an Kuo, whose skill as a martial
artist earned him a post in the government offices when he was still very
young. He was easy to get along with, so he made many friends among the
other young men working there.
One
day, a group of them was walking along by a cemetery. Among the tombs,
P’an spotted a goat that a shepherd had forgotten. The goat was minding
its own business, eating the grass. P’an and his friends surrounded it
and dragged it off towards home. The goat started bleating. They were afraid
the shepherd would hear and come after his goat, so P’an reached in and
pulled out the goat’s tongue by the roots. He was proud of his quick
wits.
After
they got home, they slaughtered the goat and roasted it. They washed it
down with a lot of wine and had a good time.
In
the following year, P’an was horrified to discover his tongue shrinking.
As it got shorter and shorter, P’an lost his speech. He couldn’t carry
out his official duties, so he quit his job. He had to find some way to
cure his tongue.
His
boss, Cheng suspected P’an was just being lazy, so he ordered him to
open his mouth to prove whether or not he was really sick. He was surprised
to see that P’an’s tongue had already disappeared. All that was left
was a little stub at the root. He demanded to know what had happened. P’an
took up a brush and wrote, “It must be because a bunch of us were stealing
a goat last year, and when the goat started bleating, I ripped its tongue
out.”
Cheng
knew that P’an lost his tongue to balance the tongue he took from the
goat. He ordered his subordinates to carry out Buddhist services to bring
the goat fortune to compensate for its loss. He told P’an to copy the
Lotus Sutra.
P’an
was sorry for what he had done. He swore never again to eat the flesh of
an animal, and to do his best to bring the goat fortune through good deeds,
dharma services, and prayers.
After
a year, his tongue began to grow back. When he found his tongue was growing
back, P’an was thrilled. He ran to the office to report to Cheng. Cheng
was proud of P’an for his determination to correct his mistake.
When
he could speak normally again, he promoted him. Cheng was so honest and
wise that people always praised him. The word of his good deeds reached
the Emperor T’ai Tsung, one of the best emperors in Chinese history,
and in the 9th year of his reign, 635 AD, Cheng was promoted to the
post of Imperial Censor, one of the highest positions in the Empire.
Cheng
told the Emperor that perhaps he won his promotion to balance the fortune
he had won for the goat that lost its tongue.
Sự
Trả Thù của Những Con Ếch
Ngày
xưa có một người thợ cạo tên Lương ở tỉnh An huy nước
Trung Hoa. Ông có cặp mắt ty hý như mắt chuột. Mặt mày ông
xấu xí. Vẻ đẹp bên ngoài không mấy quan trọng, nhưng ngay
cả trong tâm ông cũng không tốt gì. Ông luôn luôn gây gỗ
và so đo. Ông không bao giờ cố gắng sửa đổi những thói
hư tật xấu của ông.
Ông
Lương cũng tham lam. Món ăn ông thích nhất là ếch mà người
Trung Hoa gọi là “Gà ở Ðồng Ruộng.” Ông không thể dùng
bửa nếu không có món ăn này. Ông sành sỏi đến mười hai
cách nấu món ăn thịt ếch. Ông có rất nhiều bạn mà tánh
tình của họ cũng chẳng tốt gì hơn ông và tất cả đều
bảo rằng nếu ếch mà trao vào tay ông Lương thì nó sẽ biến
thành món ăn tuyệt hảo.
Bạn
bè càng khen ngợi tài nấu thịt ếch của Lương bao nhiêu
ông càng giết chết nhiều ếch bấy nhiêu; chẳng khác gì
chúng là những kẻ thù mà ông muốn tiêu diệt. Ông sát sanh
như vậy mãi đến năm ông bốn mươi tuổi.
Một
đêm nọ, trong lúc đang say ngủ, ông cảm thấy khắp thân
mình ngứa ngáy. Rồi ông thấy trên giường bao phủ đầy
những con ếch. Chúng ở trong mền và cả trên gối! Chúng
cũng có mặt trên ván giường. Ếch khắp mọi nơi!
Ông
Lương tự bảo: “Thật kỳ lạ. Ðược rồi, ta có cách giải
quyết tụi bây.” Ông bắt những con ếch này bỏ chúng vào
trong cái hủ. Ông trở lại phòng ngủ và thấy giường ông
phủ đầy nhiều ếch hơn nữa!
Ông
Lương đã thức suốt đêm để bắt những con ếch bỏ ra
khỏi giường.
Hôm
sau, ông gặp mấy người bạn và nói với họ tối qua ông
đã lùa những con ếch xuống giường. Các bạn bè của ông
không làm sao tin nổi điều đó. Thình lình ông Lương chụp
lấy vai ông. Ông hét lên: “Những con ếch trở lại!”
Một
người bạn ông nói: “Tôi không thấy gì hết.”
“Ngay
đây này, một con ếch ở trên lông mày tôi. Một con khác
đang bu trên tóc tôi.” Ông Lương la hoảng lên, nhưng các
bạn ông ngạc nhiên, sửng sốt, vì họ không thấy con ếch
nào cả. Họ nhìn ông Lương đang chạy quanh tay cầm dao cạo
cắt vạch lông mày và tóc của ông. Nhưng không ai nhìn thấy
một con ếch nào cả. Họ xầm xì: “Chắc ông ta điên rồi.”
Từ
đó, ông Lương thấy những con ếch xúm lại tấn công ông
mỗi ngày. Ông cố gắng t