CHIẾC NHẠN
BAY RỒI
Cánh
nhạn bay rồi sao quá mau
Nhìn
theo sửng sốt tới ngàn sau
Thế
gian sanh diệt bây giờ thấy
Cảnh
đẹp Hoa Nghiêm đổi sắc màu
Nhiếp
niệm còn nguyên hiện ảnh hình
Cao
siêu màu nhiệm biển tâm linh
Có
không đáy nước trăng chìm xuống
Vang
dội Kim Cang vọng tiếng kinh
Nhắm
mắt cho trời đứng lặng yên
Thoáng
nghe mùi vị của hương thiền
Tấm
thân tứ đại rồi tan biến
Về
với vô cùng hết đảo điên
Sóng
vỗ sông dài hướng đại dương
Tang
tình khúc hát tiễn lên đường
Ba
sinh dù có ngàn thương nhớ
Tiếng
vỗ bàn tay về một phương.
Los
Angeles ngày 8 tháng 12 năm 2003
Thi
Sĩ Huyền Không
HẠT BỤI THEO
VỀ
Huyền
Không
Là
khách vãng lai của thế giới sinh tử thì gặp gỡ hay ly biệt
là thường tình. Thế nhưng, cái lúc nhận được tin một
người thân đột ngột lìa bỏ mình, là một giây phút cực
kỳ khó khăn. Chấp nhận được vô thường với cõi lòng
an nhiên thật là không dễ dàng gì bởi mất mát nào cũng
là thương tích. Đôi mắt như sẵn đau niềm đau của kiếp
người cũng ướt đẫm những giòng thương cảm, tâm hồn
chới với thẩn thờ. Hôm nay, lại có thêm một người gần
đã vẫy tay đi xa, thêm một tấm lòng thân cận cảm thông
giã từ lên đường về theo hạt bụi, những hạt bụi tình
cờ cho cuộc khứ lai: Ni Sư Thích Nữ Trí Hải, con người
thân thuộc của khung trời văn hóa Phật Giáo Việt Nam trong
nửa cuối thế kỷ hai mươi, gương mặt tu nữ thạc học
mà tâm hồn gắn liền với những trang chữ long lanh diệu
pháp; đã bất ngờ bỏ đời, để lại biết bao bùi ngùi
xúc cảm trong lòng kẻ ở.
Tôi
gặp Phùng Khánh khi cô mới vừa rời mái gia đình quý phái
và thâm nghiêm bên bờ sông Hương để lên đường du học.
Với dáng dấp đoan trang thanh nhã cọng với một tâm hồn
mẫn cảm đã dẫn dắt người thiếu nữ hoàng phái đi vào
thế giới sung túc của chữ nghĩa và không khí trí thức trầm
mặc của hàng hàng kệ sách thư viện. Sống ở Hoa Kỳ những
năm đầu 60 với cõi lòng ẩn mật rất Huế, khi về lại
Việt Nam, Cô đã ra mắt với người đọc quê hương hai bản
dịch nỗi tiếng là “Câu chuyện dòng sông” của Herman Hesse
và “Bắt trẻ đồng xanh” của Salinger; mà không lâu sau
đó người đọc đều đã nhận ra gương mặt tuyệt vời
của một dịch giả vừa uyên bác cẩn trọng, vừa trong sáng
nghiêm túc. Mãi cho tới mấy chục năm sau, Cô vẫn giữ vị
trí của người chuyển ngữ tài hoa nhất. Sau ngày hồi hương
không lâu, Phùng Khánh quyết định cắt ái từ thân xuất
gia với Pháp hiệu Trí Hải. Cô về làm việc cho Đại Học
Vạn Hạnh với phần vụ Thư Viện Trưởng – một Thư Viện
Trưởng độc nhất suốt thời gian hưng thịnh của Vạn Hạnh.
Thầy Minh Châu và tôi vô cùng cưng quý Thư Viện và cũng rất
nễ trọng vị Thủ Thư nên đã nhìn thấy và hoà讠toàn cảm
thông sự khó tính trong điều hành của Cô Thư Viện Trưởng.
Biết chúng tôi vốn chịu chìu “mệ” trí thức nên các
nhân viên thư viện cũng dựa vào cô mà thách thức các nguyên
tắc điều hành chung nhưng nhờ biết khéo léo quản trị,
chúng tôi duy trì được mọi tôn ti trật tự. Trí Hải là
một người rất thương quý sách, biết giá trị của sách
nên Cô đã vận động nhiều cách để đem về cho thư viện
những mặt sách quý hiếm, làm thuận tiện cho sự nghiên cứu
xử dụng không chỉ riêng cho sinh viên Vạn Hạnh mà còn chung
cho cả giới trí thức thành phố, không chỉ phong phú cho tầng
lớp đạo gia mà còn quá giàu có cho những nhà tìm hiểu thế
tục. Nếu tất cả sách mà Thư Viện Vạn Hạnh hiện có đã
tạm là hình ảnh của một đại dương trí thức thì cái
Pháp hiệu định phận của Cô Thủ Thư Trí Hải (biển tuệ)
đã hòa nhập là Một khiến cho không khí Thư Viện lúc nào
cũng thoảng mùi trầm hương: trầm hương tỏa ra từ lòng
sách và hồn người. Và từ xứ trầm hương đó, cô Trí Hải
đã gửi tặng cho đời những trang chữ thơm tho mầu nhiệm.
Nếu nghĩa của Văn là Đẹp thì cả đời Ni Sư đã phụng
sự cho cái Đẹp đó hết sức tận tụy và những ai đã có
một lần để cho lòng trầm tư theo hồn sách (trong hơn 10
tác phẩm đã được phổ biến) thì sẽ biết cám ơn sự
thanh cao còn lưu lại trong hồn mình từ sự hiến tặng lân
mẫn của người vừa mới đi xa.
Cuộc
đời cô Trí Hải không chỉ là người bạn thân thiết của
sách vở, Cô còn là nguời chị cả đáng yêu trong gia đình
An Sinh Xã Hội Vạn Hạnh. Từ vị trí người chị hiền lành
độ lượng nầy, Cô đã là chiếc cầu nối cho bao lớp trẻ
đi vào đời để phụng sự. Người chị mà đôi mắt biết
thương xót đã cúi xuống thiết tha trên những nỗi đời
bất hạnh, mà đôi tay biết chở che đã đưa ra nâng đỡ
những mảnh sống khốn cùng, mà đôi chân vương giả đã
không từng biết chối từ đi vào những xóm quê lầy lội,
những đường làng tả tơi, những miền đất bão lụt hoang
tàn. Mấy mươi năm dài, mặc cho thời thế đổi thay mà tấm
lòng vì đời không lay chuyển. Khắp những chốn đau nhức
bất an nhất của đất nước, người dân khổ hạnh mãi còn
giữ lại trong đôi mắt mến thương của họ hình ảnh tà
áo màu lam dịu hiền biểu tượng của cho vui và cứu khổ
đã một dạo nào thấp thoáng giữa mưa nắng đời thường.
Tà áo ấy đã gắn liền với các công tác từ thiện, thủy
chung cho đến ngày cuối cùng phủi tay giải nghiệp. Chọn
lựa của trái tim từ bi là nhiều lúc tình nguyện hứng chịu
khổ nạn thay cho chúng sanh, bị đau đớn riêng mình cho tâm
được an vui mà đi tiếp trên con đường cứu độ. Ni Sư
Trí Hải đã vào đời trong ước nguyện, đã phụng sự con
người như thế và hôm nay, giã đời giữa lúc đang thật
hành hạnh lớn của trái tim từ bi “chúng con khổ nguyện
xin cứu khổ”. Chưa có ai của Ni giới Việt Nam, trong mấy
mươi năm máu lệ của quê hương đã nuôi tâm bố thí theo
sáu pháp qua bờ nhiệt thành như Ni Sư Trí Hải. Chừng ấy
cũng đủ cho Ni Sư, trong cuộc giã từ nầy, cất lên một
tiếng cười lớn giữa biển khổ kiếp người.
Một
lần mới đây thôi, Ni Sư kể cho tôi biết rằng Ni Sư đã
viết và đem treo những câu thơ của Huyền Không trong vườn
chùa. Cho thơ nói chuyện với hoa cỏ lá cành, cho thơ cùng
thở với gió mùa, cho thơ đi vào mắt rồi ở lại trong lòng
người, cho thơ sống với một chút đất trời quê hương.
Tôi ở xa mà cũng được ấm lòng vì những dòng thơ viết
ra ngày nào đã tìm thấy một tâm hồn bầu bạn. Mà thôi.
Hết rồi. Ngày 7 tháng 12 đã là một ngày tang tóc. Thị giả
của Ni Sư, khi thuật lại cho tôi nghe chi tiết về sự ra đi
đột ngột và nặng nhọc nầy tôi đã không dừng được
nước mắt xót thương. Tôi khóc theo niềm cảm xúc từ muôn
trùng. Ngày trước, khi nghe tin Huệ Minh và Tiểu Phượng mất
tích tại Rạch Giá, tôi có đau buồn nhưng niềm đau thấm
chậm. Bây giờ, với cái chết trong tai nạn thảm khốc nơi
vùng đất đỏ Long Khánh của Ni Sư thì niềm đau trong tôi
mãnh liệt bội phần. Tôi chắp tay lạy Phật, nguyện cầu
cho những người thân yêu đó có được những tái sinh thuận
lợi, để nối tiếp con đường cứu độ dở dang của các
vị Bồ Tát nhập thế làm lợi lạc cho đời. Hạt bụi sẽ
luân hồi trở lại bằng nguyện lực vô biên.
Huyền
Không