SƯ CÔ TRÍ
HẢI KHÔNG CÒN NỮA
Nguyễn
Tường Bách
Thiền
viện Vạn Hạnh trên đường Nguyễn Kiệm tại thành phố
Hồ Chí Minh là một tòa nhà uy nghi to lớn. Bên cạnh thiền
viện là một con hẻm nhỏ dẫn đến một ngôi chùa khiêm
tốn, được gọi là tịnh thất của các tỉ kheo ni.
Mỗi lần khách bấm chuông lại thấy một ni cô tuổi còn
trẻ chạy ra cẩn thận hỏi tên khách mới mở cửa.
Kể
từ hơn mười lăm năm nay, mỗi lần về thăm nhà tôi đều
đến đó bấm chuông để tìm gặp và thăm Sư Cô Trí Hải.
Thường thì tôi đến buổi sáng hơi muộn giờ, ngồi chưa
đầy một tiếng đã thấy nhà chùa chuẩn bị thọ trai nên
tôi xin về. Tuy thời gian không nhiều nhưng mỗi lần tôi vẫn
cảm nhận một thiền vị nhẹ nhàng, quên hẳn mình đang ngồi
không xa đường Nguyễn Kiệm ồn ào đầy tục lụy của những
hàng quán gần đó. Ngồi ngoài sân chùa, tôi thường được
nghe tiếng tụng kinh trong trẻo và đầy khí lực của các
vị ni và nhất là được nghe Cô Trí Hải đàm luận Phật
pháp. Từ lúc ban đầu tôi đã gọi Cô bằng "cô" và về sau
giật mình khi nghe các vị ni khác cũng như các vị cư sĩ đến
thăm đều gọi Cô bằng "sư". Thế nhưng đã lỡ thì tôi cho
lỡ luôn và hình như Cô cũng không quan tâm gì đến việc
xưng hô.
Thời
gian trước khi gặp Cô tôi đã biết Cô là một tu sĩ Phật
giáo xuất sắc, giỏi ngoại ngữ, giỏi viết văn dịch sách,
yêu văn thơ. Nghe tôi dịch sách Phật, Cô tặng tôi cuốn từ
điển Pali-Việt do Cô soạn. Hồi đó cuốn từ điển đó
được đánh máy trên giấy pelure mỏng dính. Trong những năm
tám mươi, tôi chưa kịp mong Cô đi học đánh máy vi tính thì
ngày nọ nghe Cô nói:
- Thì
ra cái máy vi tính hắn cũng giống tâm người.
- Giống
chỗ nào Cô?
- Mình
ở trong một cái file nào thì mình không thể erase nó. Mình
ra khỏi file thì mới erase nó được.
- Thì
giống chỗ nào?
- Tâm
cũng thế thôi. Đang giận thì khó biết mình đang giận lắm,
khó ra khỏi lắm.
Thì
ra Cô đi học vi tính để viết lách mà Cô cũng không quên
Phật pháp. Tôi nghiệm ra rằng Cô sống trong nhận thức luận
của Phật pháp nên không có chuyện "quên" hay "không quên".
Mỗi lần ghé thăm tôi đều mang theo ít sô-cô-la, thực tế
là tôi không biết đem theo vật gì ngoài thứ đó. Có lần
Cô nói:
- Cứ
mỗi lần anh về thì tôi thấy mình như con nít, được sô-cô-la.
Thực
tình tôi không biết Cô bao nhiêu tuổi và thấy không có gì
quan trọng để hỏi. Tôi chỉ thấy Cô thực là dẻo dai, đi
cứu trợ đường xa dài ngày không biết mệt. Nhìn quanh thấy
nhà chùa chất đầy mì gói, tôi hỏi Cô:
- Sao
Cô không đem tiền phát cho khỏe, đem phẩm vật vừa cồng
kềnh vừa mua bán mất công?
- Biết
thế nhưng đem cho tiền, đàn ông họ lấy đi nhậu hết cả,
vợ con không còn gì. Cuối cùng mì gói vẫn hơn.
Thì
ra đi cứu trợ mà cũng có chiến thuật chiến lược hẳn
hoi. Thời gian giữa các lần cứu trợ Cô dùng để nhập thất
hay dạy học, viết lách, dịch thuật. Ngày nọ tôi nói với
Cô:
- Thưa
Cô, con tìm được một chữ dịch cho từ appearance hay lắm,
chữ đó ta nên dịch là "sự trình hiện".
- Hay
chỗ nào?
- Đó,
thì sự vật "trình hiện" lên đúng như tâm thức của ta.
Đúng quá chứ còn chi nữa
- Tôi
thì tôi dịch là "giả tướng".
- Thưa
Cô, trong chữ "giả tướng" có chữ "giả". Mà nói "giả" tức
là ta phê phán rồi. Ta không được phê phán, ta phải khách
quan.
Cô
cười khanh khách. Tôi không rõ tại sao lần đó Cô cười
lớn, Cô thú vị điều gì? Tôi nghiệm ra rằng chỉ đối
với Cô Trí Hải tôi mới mạnh dạn nói những điều tôi
nghĩ. Tôi đã từng gặp các vị tu sĩ khác và ít có những
cuộc đàm luận tự nhiên và bình đẳng như với Cô. Một
điều đặc biệt nữa là Cô biết lắng nghe. Có lẽ đó là
điều mà Cô học của Hoà thượng Thiện Siêu. Thầy Thiện
Siêu và Cô là hai người mà tôi được gặp, hai vị
tu sĩ chịu lắng nghe những ý kiến của một người tại
gia sơ cơ như tôi.
Đời
sống xã hội của Cô có nhiều phiền toái, Cô cũng chịu
lắm điều khổ nạn. Ngày nọ Cô nói với tôi:
- Tôi
mong kiếp sau sẽ được tái sinh ở cõi Phật A-di-đà. Tôi
không muốn làm kiếp người nữa.
Cô
nói với một giọng thanh thản và vững chắc. Tôi không ngạc
nhiên lắm mặc dù thông thường Cô ít nói về cõi Cực lạc
phương Tây. Phải thôi, kiếp của một ni sư trong đời làm
người thật là khó khăn, nhất là khi trên thế giới bóng
tối nhiều hơn ánh sáng. Con người phải kiên quyết lắm,
nghị lực lắm mới vừa giáo hóa học trò, vừa đi cứu trợ,
vừa sống trong thế gian tục lụy, vừa trau dồi Phật pháp,
vừa tự mình sáng tác, vừa dịch thuật và giới thiệu kinh
sách. Ai đã từng sống ở Thành phố Hồ Chí Minh ồn ào hẳn
phải biết đây thật là một điều bất khả. Ngày nọ Cô
nói:
- Anh
biết không, Ngài Đạt-lai Lạt-ma có thần thông đó nghe.
- Thiệt
không Cô, sao Cô biết?
- Cách
đây không lâu tôi có viết thư cho Ngài xin một tấm hình.
Không ngờ, không những Ngài gửi cho một tấm hình mà còn
có cả chữ ký nữa. Vừa rồi đây, tôi dịch một tác phẩm
của Ngài và nguyện chỉ uống nước thôi, không ăn suốt
mười ngày để dịch cho xong. Tôi để tấm hình của Ngài
trước mặt và quả nhiên không hề thấy mệt mà còn khỏe
lên nữa.
Sau
đó Cô gọi người đem tặng tôi một chồng sách do Cô viết
và dịch, trong đó có tác phẩm nọ của Đạt-lai Lạt-ma.
Cô lắng nghe tôi kể đã gặp Ngài tại Bonn và lời tôi tâm
sự, sao giọng của Ngài nghe rất quen thuộc đối với tôi.
Cô muốn nói điều gì nhưng cuối cùng giữ im lặng.
Ngày
nọ trên đường từ Tây Tạng về, tôi "gùi" trong ba-lô một
bức tượng của bồ-tát Văn Thù đem đến cúng dường trong
chùa. Tôi biết tuy Cô mong thác sinh về cõi Cực lạc nhưng
con người của Cô không phải chỉ chuyên tâm niệm Phật mà
là người lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Thế nên Văn Thù
tay cầm kiếm bén chém màn vô minh phải là tính cách của
Cô. Và quả như thế, nội dung của các câu chuyện giữa Cô
và tôi đều thuộc về nhận thức luận, lý giải cảnh đời,
cảnh người, tác động của nghiệp, về các bậc thầy đã
xuất hiện trên thế gian trong thế kỷ 20. Ngày nọ Cô nói:
- Đau
răng mới biết rõ ý nghĩa của vô ngã!
- Răng
cỏ với vô ngã ăn thua gì đâu Cô?
- Khi
răng không đau thì mình không để ý tới hắn, coi như không
có. Khi hắn lên tiếng là có chuyện. Cũng thế, nếu mình
vô ngã thì môi trường xung quanh mình sẽ rất dễ chịu. Còn
mình lên tiếng "có tôi đây" thì có chuyện ngay. Bởi vậy
muốn lành mạnh là vô ngã, vô ngã là lành mạnh.
Lần
nọ tôi kiếm thăm Cô và kể chuyện vừa đi chiêm bái Linh
Thứu ở Ấn Độ về. Cô chăm chú nghe và mừng cho tôi được
đi thăm các thánh địa. Tôi hơi có chút xấu hổ vì kẻ nhập
môn như mình mà đã được đi chiêm bái, còn Cô thì chưa.
Trong giọng nói của Cô tôi nhận ra có một niềm mong ước
rất lớn được đi thăm dấu chân của Đức Phật.
Cách
đây chưa đầy một năm, cuối tháng 12 năm 2002, Cô đưa chúng
tôi về thăm tịnh thất tại Nhà Bè và Hóc Môn. Nhờ Cô mà
tôi được gặp thầy Nhật Từ trong lần này. Thầy Nhật
Từ gọi Cô bằng "Ni trưởng" hết sức trân trọng, còn tôi
xưng hô cứ như cô cháu trong nhà. Nhà Bè là một cơ sở nuôi
dạy các cháu mồ côi, nay đã khang trang. Còn Hóc Môn là một
ngôi chùa khiêm tốn mới xây, có phòng giảng pháp và lớp
cho trẻ em học. Đất ở Hóc Môn do một đệ tử cúng dường
để cho Cô có một chỗ yên tĩnh để làm việc và nghỉ ngơi,
xa bớt đường Nguyễn Kiệm bụi bặm. Chúng tôi ngồi uống
trà trong một cái cốc lợp bằng tre lá, nghe tiếng gió bên
ngoài xào xạc chen giữa các hàng cây. Tôi nói giọng cải
lương:
- Bây
giờ Cô cũng có một chốn để về rồi!
- Tôi
mà cũng có phước báo sao?
Chúng
tôi mỉm cười. Phước báo hiểu theo nghĩa nhà đất, tài
sản thì đúng là xưa nay Cô không có và Cô cũng chưa bao giờ
cần có. Bao nhiêu năm gặp Cô tại Nguyễn Kiệm chưa bao giờ
tôi nghe Cô nói cần một cái gì, thậm chí chưa bao giờ Cô
than "không có thì giờ". Còn hiểu phước báo là tài năng
và trí tuệ thì Cô có thừa và đang chia sẻ cho tăng ni sinh
của Cô. Trong dịp này Cô cho hay là được cấp lại hộ chiếu
rồi. Tôi thầm mong có đủ nhân duyên để Cô đi thăm thánh
địa và qua châu Âu thăm Phật tử một chuyến.
Ngày
11.10 năm 2003 vừa qua, tôi lại bấm chuông nơi chiếc cửa
sắt màu bạc của ngôi chùa nhỏ trên đường Nguyễn Kiệm.
Ni cô thị giả mở cửa cho tôi vào. Vị ni cô cho hay cách
đây vài tháng Sư bị té ngã nằm nhà thương tưởng nguy hiểm
tính mạng nhưng bây giờ lành rồi. Gặp tôi Cô tiếp câu
chuyện tai nạn đó và kể:
- Lúc
tôi té xuống, thật tâm tưởng mình sắp chết, tôi hết sức
vui mừng sắp thoát được kiếp người
- Thật
sao Cô?
Tôi
ngẩn người nhìn Cô. Nhưng tôi liền nhớ ngay đến câu chuyện
Cực lạc phương Tây và tin là Cô nói thật. Đúng thôi. Đối
với một người sống từ nhỏ trong Phật pháp như Cô thì
sống chết có nghĩa gì, chết là đi từ một cảnh giới này
qua một cảnh giới khác thôi. Tôi bỗng nhớ đến thân phận
mình:
- Cô
được tự tại như thế chứ con thì không. Người tại gia
bị vướng bận lắm Cô ạ. Vướng bận vợ con, nhất là
con cái. Con không biết tới cái ngày đó mình sẽ ra sao.
- Ừ
thì tại gia xuất gia chỉ khác nhau chỗ đó
Cô
nói nhỏ tiếng. Tôi ngẫm nghĩ một lát:
- Nhưng
nếu cho con được ước nguyện thì con không thích về cõi
Cực lạc. Con thích về cung trời Đâu suất nghe Đức Di-lặc
giảng pháp hơn.
- Anh
coi chừng về Đâu suất thì phải nhớ Đâu suất nội viện
nghe
- Đâu
suất mà cũng có nội ngoại sao Cô?
- Có
chứ. Ngài Di-lặc ở Đâu suất nội viện còn Đâu suất ngoại
viện chỉ là vòng ngoài vui chơi hưởng lạc thôi.
Thấy
tôi cười, Cô nói tiếp:
- Thì
cũng như có người tới chùa không vô nội điện lạy Phật
mà chỉ ở vòng ngoài ăn cơm chay thôi.
Tôi
càng cười lớn tiếng. Tôi ghé qua nội điện của chùa thì
thấy tượng Văn Thù "của tôi" được thờ ở đó, nhưng
lại có thêm một bức thứ hai. Cô nói có một Phật tử ở
Hồng Kông cũng thỉnh về một bức Văn Thù cho Cô. Cô nói
trí huệ thì không bao giờ đủ. Thứ bảy hôm đó Cô hẹn
tuần sau tôi hãy đến trình bày đề tài "Sự tái sinh trong
quan điểm của đạo Phật":
- Bắt
đầu sáu giờ sáng đó nghe. Anh dậy sớm nổi không?
- Dạ
được chứ!
Tôi
mạnh miệng như thế chứ không ngờ tăng ni sinh của cô bắt
đầu khóa học sớm như vậy. Tuần sau, ngày 18.10 tôi dậy
năm giờ sáng, lần đầu tiên tôi cả gan đi giảng bài cho
môn đệ của Sư Cô Trí Hải. Đường từ quận năm đến
Nguyễn Kiệm khá xa, xem như chạy từ đầu này qua đầu kia
của thành phố. Đến nơi đúng sáu giờ thì các vị tăng
ni sinh đã ngồi đầy sân, có vài vị cư sĩ do Cô thân hành
mời riêng. Tôi bắt đầu buổi trình bày và thấy Cô ngồi
tuốt đàng sau, gần các vị cư sĩ. Sau này mới biết Cô chu
đáo ngồi xa nhất để xem người ngồi sau có nghe rõ. Trong
phần trình bày tính chất của ý chí và ước nguyện, nói
rằng những niệm lực này có thể tồn tại từ đời này
qua kiếp khác, tôi lấy thí dụ:
- Ví
như đời này ta có ước nguyện đi hành hương đất Phật
mà chưa đủ điều kiện thì ước nguyện đó vẫn tồn tại
và đợi nhân duyên hình thành, đời sau hay đời sau nữa sẽ
thực hiện được.
Tôi
bất giác nhìn Cô, thấy Cô mỉm cười gật đầu. Tôi cảm
nhận có một sự rúng động nơi Cô. Ngờ đâu, đó là lời
thưa gửi cuối cùng của tôi đối với Cô.
Chưa
đầy hai tháng sau, chiều chủ nhật 7.12 tôi đọc một bức
điện thư của một người bạn cho hay Cô đã bị tai nạn
từ trần. Nửa tin nửa ngờ tôi gọi ngay về Nguyễn Kiệm.
Một ni cô giọng đầy nước mắt xác nhận hung tin kinh hoàng
đó. Sau khi viết thư báo tin cho thầy bạn, tôi tự hỏi năm
nay Cô bao nhiêu tuổi. Trước sau, tôi vẫn không biết đến
tuổi Cô.
Tôi
vào Google, gõ từ "trí hải". Vô số tài liệu mang tên Cô
hiện ra. Tôi lạc vào một website nọ và chợt thấy tác phẩm
"Tâm bất sinh", ngữ lục của thiền sư Bankei[1], Việt dịch
Thích Nữ Trí Hải. Tôi đọc lại "ghi chú của người chuyển
ra Việt ngữ" và nhận ra lại văn phong nhẹ nhàng, lấp lánh
trí huệ của Cô. Chiều nay lời văn vô cùng sống động như
Cô đang trực tiếp nói với tôi. Tôi đọc lại Bankei và chợt
thấy lời dạy của Ngài thật giống với Krishnamurti, một
người mà Cô Trí Hải cũng vô cùng quí trọng và đã dịch
khá nhiều.
Khi
tôi đọc xong thì bên ngoài trời đã tối. Cô ra đi đã hơn
sáu tiếng đồng hồ rồi. Cõi nhân sinh lại vắng thêm một
người đầy tài năng, đức hạnh và nhiệt tâm phục vụ
con người và đạo pháp. Ôi, những con người này càng ngày
càng ít ỏi. Tôi lại không tìm thấy số tuổi của Cô vì
mải đọc Bankei nhưng bây giờ điều đó không còn quan trọng
nữa. Tâm bất sinh thì làm gì có tuổi. Tôi đến cửa sổ
nhìn ra bên ngoài. Trăng 14 rực sáng trong một bầu trời hoàn
toàn không mây hiếm có của mùa đông châu Âu. Ánh trăng dường
như có màu xanh, in rõ bóng đậm của mái nhà trên vách tường.
Tôi đang đau buồn nhưng biết đâu Cô đang tiêu dao cùng trăng
sao? Cô chẳng đã nói "vui mừng sắp thoát được kiếp người"
ư?
Nghĩ
lại thì ra trước khi chia tay, tôi kịp thưa gửi Cô một câu
về chuyện hành hương, còn Cô cũng kịp nhắn gửi cho tôi
một câu về lòng "vui mừng". May cho tôi được nghe câu đó,
nếu không thì lòng tôi bây giờ đau xót đến bao nhiêu. Thế
nhưng vẫn xin hỏi Cô, Cô có nhất định muốn thác sinh về
cõi A-di-đà hay cuối cùng Cô "đổi ý" tái sinh làm lại kiếp
người để tiếp tục giáo hoá và để đi thăm thánh địa?
NTB
9.12.2003