Thành
kính tri ơn Cha Mẹ và Thầy Tổ,
Thích
Trí Siêu
Mục
Lục
Lời
giới thiệu
Lời
tựa
Mở
đầu
Chương
I: Dự bị tu tập
Quy
y, lễ lạy và Bồ Ðề Tâm
Kim
Cang quán
Cúng
dường Mạn Ðà La
Bổn
Sư Du Già
Vô
thường và sự chết
Nghiệp
báo và luật nhân quả
Sự
đau khổ của luân hồi
Ðược
thân người là chuyện hy hữu
Bốn
điều kiện cần thiết
Chương
II: Thiền định
Tư
thế căn bản của thân và tâm
Ðịnh
tâm trên một hình sắc
Những
đối tượng khác
Ðối
trị hôn trầm và tán loạn
Thiền
Ðịnh không sự tướng
Ðịnh
tâm trên hơi thở
Ðối
trị bằng căng thẳng và buông thả
Chánh
định
Chương
III: Thiền quán
Quán
chiếu tâm an tịnh
Quán
chiếu tâm dao động
Quán
chiếu tâm chiếu soi cảnh vật
Quán
chiếu cùng lúc tâm an tịnh và tâm dao động
Nhận
ra tánh của tâm an tịnh
Nhận
ra tánh của tâm dao động
Nhận
ra tánh của tâm chiếu soi cảnh vật và tâm liên hệ với
thân
Nhận
ra cùng lúc tánh của tâm an tịnh và tâm năng khởi
Vài
lời về cách trình bày
Chương
IV: Kết luận
Lợi
ích của Ðại Thủ Ấn và Thập Ðịa Bồ Tát
Ðịnh
nghĩa cuối cùng
Lời
chú của tác giả
Lời
phụ kết của dịch giả
Lời
giới thiệu
Nói
đến tu Thiền, một số trong chúng ta vẫn còn bì bõm trong
hoang mang. Nay tu theo "Thiền biết vọng" của Tào Ðộng (Soto),
mai tu theo "Thiền công án" của Lâm Tế (Rinzai). Nếu tu theo
biết vọng thì vọng là gì? Khi hết vọng thì cái gì xảy
ra? Phải làm gì tiếp theo? Có nhiều người ngồi thiền, lâu
lâu vọng niệm tự ngưng, tâm thần sáng suốt rỗng lặng,
nhưng rồi không biết làm gì tiếp; sau khi xả thiền thấy
vấn đề sinh tử phiền não vẫn còn. Dần dà chán nản, quay
sang tu Thiền công án. Nhưng thử hỏi ngày nay ai là người
có thể cho ta một câu công án phù hợp với căn cơ và khả
năng của ta? Nếu công án không hợp thì làm sao khởi nghi
tình? Vả lại, dù cho ngẫu nhiên phát khởi nghi tình đi nữa,
thì ai là người có khả năng ra tay đúng lúc tháo đinh nhổ
chốt cho ta "đại ngộ"? Một vấn đề khác cần được nêu
ra, đó là ngày nay, chúng ta Phật tử, có còn hoàn toàn hết
lòng tin tưởng nơi sự hướng đạo của chư Tăng không?
Dù
tu theo pháp môn nào đi nữa, chúng ta vẫn cần một sự chuẩn
bị tâm linh. Riêng Phật Giáo Tây Tạng nhấn mạnh đến hai
điều, đó là gieo tạo căn lành (mérites) và nhiệt tâm kính
trọng tin tưởng nơi vị Thầy (dévotion au Guru). Nếu đầy
đủ hai điều trên thì sự tiến tu đạo nghiệp mới mau thành
tựu, như diều gặp gió vậy.
Giáo
pháp của đức Phật tuy vô lượng vô biên nhưng cũng không
ngoài chữa hai bệnh: chấp ngã và chấp pháp. Ði sâu một
bước, hành giả có thể đặt câu hỏi: Ai chấp ngã? Ta chấp
hay tâm chấp? Mà ta là ai? Tâm là gì chứ?
Tùy
căn cơ và nghiệp duyên của mỗi người, chúng ta có thể
lựa chọn tu tập trên hai phương diện: pháp tướng và pháp
tánh. Pháp tướng bao gồm các trường phái: Câu Xá (Kosa),
Duy Thức (Vijnanavada), Trung Quán (Madhyami-ka)..., chuyên về giảng
giải phân tách Kinh tạng, dùng luận lý để hiểu rõ pháp
giới và tiến gần đến chân lý. Pháp tánh tông thì ngược
lại, nhấn mạnh về vấn đề tu tập thiền quán để chứng
ngộ bản tâm và pháp giới, gồm các trường phái: Thiền
(Chan, Zen), Du Già (Yoga), Mật tông (Tantrayana)...
Ta
có thể xắp các trường phái thuộc pháp tướng vào Hiển
giáo và pháp tánh vào Mật giáo, vì nó được "biệt truyền"
không đi qua văn tự Kinh điển. Mật tông Tây Tạng cũng vậy,
hành giả phải tự thân tu tập thiền quán để đạt giác
ngộ và giải thoát. Có một số thành kiến sai lầm về Mật
giáo, cho đó là một tông phái chuyên môn tu luyện bùa chú,
phù phép trừ ma ếm quỷ. Sở dĩ được gọi là Mật giáo
vì đa số những pháp môn đều được truyền khẩu (transmission
orale) và đệ tử là người đã được lựa chọn, chấp nhận
cũng như đã được vị Thầy đích thân truyền trao giáo pháp
(initiation). Những người ngoài cuộc, chưa được trực tiếp
thọ giáo thì dù có thông hiểu cũng khó có thể tu tập thành
tựu được, vì nó tùy thuộc sự giao ước (samaya) của người
đệ tử và sự gia hộ thiêng liêng của các bậc Thầy Tổ
trong tông phái. Sự kiện này không có gì đáng phải bình
luận, vì mỗi tông phái đều có truyền thống riêng biệt
và những tinh túy thâm sâu mà chúng ta, những người tầm
đạo, cần có một tâm học hỏi cầu tiến biết nhìn khách
quan và rút tỉa điều hay lẽ phải áp dụng vào sự tu hành
bản thân.
Ðúng
ra tu tập Mật giáo cần phải có sự đích truyền (lung, dbang),
nếu không thì không thể tiến xa được. Nhưng nếu giữ đúng
như vậy thì nó sẽ mai một và những người thiếu duyên
sẽ không có cơ hội biết đến. Do đó tôi đành mạo muội
phiên dịch tập sách này, trước hết giới thiệu thiền Ðại
Thủ Ấn, sau là nói lên rằng tu thiền cần phải có sự hướng
dẫn của một vị Thầy (Guru, Lama) với những phương thức
rõ ràng.
Tu
tập về Ðại Thủ Ấn có hai phương pháp:
1)
Theo sáu phép Du Già của Naropa,
2)
Thiền Chỉ Quán (Shiné-lhaktong).
Phương
pháp thứ nhất rất phức tạp và nguy hiểm, hoàn toàn thuộc
Mật giáo, phương pháp thứ hai, được trình bày ở đây,
có nhiều điểm tương đồng với các pháp môn thiền quán
của Thiên Thai, Tứ Niệm Xứ và nhất là Thiền tông Trung
Hoa. Tác giả tập Ðại Thủ Ấn này là ngài Ouang Tchuk Dorjé
Karmapa, tổ thứ 9 của phái Kagyupa (phái áo vải), một trong
bốn phái chính của Tây Tạng.
Ðây
là một tài liệu quý giá nhưng giản dị, không dùng thi văn,
kệ ngôn diễn tả nửa úp nửa mở mà nó trình bày thứ lớp
mạch lạc các tiến trình tu tập khảo sát nội tâm, để
cuối cùng giúp hành giả nhận ra bản tánh của tâm tức Ðại
Thủ Ấn (Mahamudra).
Tôi
xin cảm tạ Lama Shérab Dorjé viện trưởng tu viện Kagyu Ling
và nhà xuất bản Yiga Tcheudzinn đã đồng ý cho tôi dịch tập
sách này, cùng ghi tạc công đức của Ganden Rinpoché và Guendune
Rinpoché đã giúp đỡ rất nhiều về tinh thần và giáo lý
cho tôi. Riêng về bản dịch, vì du tăng không đủ phương
tiện, tài liệu và khả năng nên chắc chắn có nhiều thiếu
sót, mong bạn đọc hội ý quên lời để đôi bên lưỡng
lợi, và các bậc cao minh hoan hỷ lượng thứ chỉ giáo cho.
Xin
hồi hướng công đức này cầu cho tất cả chúng sanh ý thức
được sự vô thường, đau khổ của cuộc đời và đồng
pháp tâm cầu giác ngộ giải thoát.
Hàn
Thảo Lộ, tháng ba năm 1989.
Thích
Trí Siêu
-ooOoo-
Ghi
chú: Những chữ thẳng là nguyên văn của ngài Karmapa đệ
IX. Những chữ nghiêng là lời bình giảng của Bérou Khyentsé
Rinpoché. Những chú thích ở cuối trang là do dịch giả thêm
vào để giúp đọc giả hiểu rõ hơn.
Lời
tựa
Từ
lâu các triết gia, đạo gia và chúng ta, hàng phật tử, đều
đã băn khoăn tìm hiểu tâm, vì tâm là đầu dây mối nhợ
sinh ra các pháp: "Tâm sanh các pháp đều sanh, tâm diệt các
pháp đều diệt". Nhưng tâm là gì? Hoạt động của nó ra
sao? Ðó là những câu hỏi rất thường được đặt ra. Như
một tấm gương, tâm có thể cho ta thấy tất cả hình ảnh
của sự vật, nhưng khi muốn tìm lại, thì không thể thấy.
Nó tựa như vô hình vậy.
Ðôi
khi cái tấm "gương tâm" này như bị mờ đục, có lúc lại
nhu trong và sáng tựa như không có gì hiện ở trong, hoặc
có lúc nó lại bị những ý niệm nổi lên ào ào như những
cơn gió lốc. Mặc dù trong tâm hiện ra những hình ảnh, âm
thanh hoặc những ý niệm hay bất cứ cái gì đi nữa, nó vẫn
luôn luôn có một tánh hiểu biết (nói cho dễ hiểu là một
cái biết) trong sáng tiềm tàng. Nếu ý thức được sự hiện
hữu của "cái biết" này, ta sẽ không khó chịu hay ưa thích
đối với những cái gì hiển hiện trên mặt "gương tâm".
Một khi nhận ra cái tánh ngàn xưa (bổn tánh) của gương này
thì bất cứ việc gì xảy đến, ta cũng không ngại, vì ta
chính là "yên lặng và trong sáng". Nhưng nếu không ý thức
được điều trên thì những vọng niệm, ảo ảnh (vốn trống
rỗng và không thực) sẽ trở nên thực có và do đó chúng
tạo cho ta muôn điều sợ hãi, lo âu cũng như ham muốn và
đau khổ.
Ðại
Thủ Ấn, Mahamudra, là một phép thiền quán khảo sát nội
tâm, nhằm loại trừ tất cả ảo tưởng và phú chướng từ
đời vô thỉ đã bao phủ dầy đặc bản tâm. Tuy nhiên trước
khi thực sự tiến bước trên con đường quán chiếu, hành
giả cần trải qua một sự "dự bị tu tập" (pratiques préliminaires).
Có dự bị kỹ càng thì tiến tu mới thuận lợi và chắc
chắn.
Ðiều
trước tiên là phải ý thức rằng có được thân người
là một điều hy hữu. Trong các Kinh, đức Phật vẫn thường
nhắc nhở: thân người khó được, nhưng lại dễ mất. Cái
chết luôn luôn đến quá sớm, quá bất ngờ. Khi nó đến
thì ngay cả gia đình, bạn bè, tài sản, danh vọng đều bất
lực không cứu giúp gì được cho ta, chỉ có những hành động
tạo tác trong lúc sống là đi theo ta như hình với bóng mà
thôi. Do đó, trong lúc thân thể còn khoẻ mạnh, lưng chưa
còng, mắt chưa lòa, ta hãy cố gắng sống một cuộc đời
ý nghĩa bằng cách đem lại an vui và hạnh phúc cho mọi người,
thương yêu và thông cảm lẫn nhau. Ðược vậy, ngày ra đi
ta có thể mỉm cười với tâm hồn thanh thản.
Tuy
nhiên theo luật nhân quả thì ta vẫn phải tái sanh. Còn tái
sanh là còn bị chi phối bởi sinh, già, bệnh, chết. Dù tái
sanh làm trời, người, vua, thú vật hay quỷ đói đi nữa,
ta vẫn còn bị đau khổ ràng buộc. Sự khao khát một chân
hạnh phúc luôn luôn bị ngăn che bởi tham dục, sân hận và
tâm hồn quá ích kỷ của ta. Ðiều đầu tiên chúng ta cần
làm là suy ngẫm, quán chiếu về sự đau khổ vô thường của
cuộc đời, sau đó quyết tâm mãnh liệt phát nguyện giải
thoát khỏi luân hồi.
Tiếp
theo ta quán chiếu rằng không phải chỉ có riêng một mình
ta chịu đau khổ, mà tất cả chúng sanh đều như vậy. Ngay
cả một con bọ nhỏ cũng cố gắng vùng vẫy chạy thoát khi
bị lùng bắt. Hãy nghĩ lại xem, đời sống và hạnh phúc
của ta đều liên quan và tùy thuộc rất nhiều người, do
đó ta không thể làm ngơ đi tìm hạnh phúc cá nhân và bỏ
quên những người khác. Suy nghĩ được vậy mới có thể
khởi lòng thương yêu và cứu giúp tất cả mọi người. Khởi
tâm xong chưa đủ, ta cần phải thực hiện. Nhưng làm sao thực
hiện được khi chính bản thân ta chưa trừ được tham sân
si, phiền não, chưa làm chủ được thân tâm. Do đó điều
quan trọng thứ hai là làm sao đạt được giác ngộ giải
thoát một cách nhanh chóng hầu cứu giúp tất cả chúng sanh.
Muốn vậy ta cần phát Bồ Ðề Tâm (Bodhicitta), tức phát nguyện
thành Phật để cứu độ chúng sanh.
Hai
điều trên, phát nguyện giải thoát khỏi luân hồi và nguyện
thành Phật để cứu độ chúng sanh, là những nền tảng căn
bản nhưng tối quan trọng trong việc chuẩn bị và chuyển
hướng tâm linh cho hành giả. Sau khi phát nguyện mạnh mẽ,
ta có thể bước sang phần thực tập sơ khởi, hay dự bị
tu tập. Phần này nhằm mục đích thanh lọc, tiêu trừ những
nghiệp chướng thô kệch, giúp ta tích tụ thêm nhiều công
đức để sau này ít gặp trở ngại và tiến nhanh đến đạo
quả. Phần thực tập sơ khởi đầu tiên là lạy Phật. Trong
lúc lạy Phật, ta phải quán chiếu luôn sự quy y Tam Bảo,
khởi lòng tin chắc rằng nương về Tam Bảo là phương tiện
duy nhất giúp ta thoát khỏi sự lặn hụp trong đau khổ của
luân hồi. Lạy Phật cũng giúp ta chừa bỏ tánh cống cao ngã
mạn, và sự kham nhẫn chịu đựng sẽ tẩy trừ bớt những
nghiệp xấu của ta.
Bài
thực tập kế là thiền quán về Kim Cang Tát Ðỏa (Vajrasattva
méditation). Pháp này cũng nhằm tẩy trừ nghiệp xấu. Tiếp
theo sau là cúng dường Mạn Ðà La (offrande du Mandala), phần
này giúp ta tích tụ rất nhiều công đức. Cuối cùng là bài
tập về Guru Yoga, phần này củng cố mối giây liên hệ giữa
ta với vị Thầy (Lama hay Guru) và tất cả những vị Tổ trong
tông phái. Qua trung gian bài thực tập này ta tiếp nhận được
sự chân truyền và gia hộ của chư Tổ.
Sau
khi hoàn tất phần tu tập dự bị cũng như nghe giảng giáo
lý và suy tư về những chỉ thị của vị Thầy, ta có thể
bước vào phần chính của thiền Ðại Thủ Ấn: đó là tu
tập miên man về pháp Ðịnh Tâm (Samatha) và quán chiếu thâm
sâu (Vipasyana). Thành tựu pháp Ðịnh Tâm sẽ giúp ta nhận
ra (hay nhận lại) bổn tánh của tâm. Quán chiếu thâm sâu
sẽ giúp ta thực chứng "tánh Không" (Vacuité, Sunyata) hay thực
tướng của vạn pháp. Tu tập đứng đắn và thành tựu được
hai pháp này chắc chắn sẽ gột sạch vô minh và tất cả
phiền não từ lâu đã phủ dày tâm ta.
Trở
về sống hoàn toàn với "cái biết" (hay tánh giác) từ ngàn
xưa, trong sáng, tròn đầy và đồng thời phát triển cùng
cực tâm Bồ Ðề (Bodhicitta), danh từ nhà Phật thường gọi
là Ðại Trí và Ðại Bi, lúc đó ta có thể cất tiếng ca
hát khúc khải hoàn, vì ta đã đầy đủ năng lực vô cùng
tận để cứu giúp chúng sanh vô số lượng.
Theo
truyền thuyết Tây Tạng, xưa kia khi thuyết về Hiển giáo,
đức Phật đã dùng hóa thân là Thích Ca Mâu Ni Phật, nhưng
khi thuyết về Mật giáo thì lại dùng hóa thân là đức Phật
Vajradhara, và chính hóa thân này đã truyền dạy về Ðại
Thủ Ấn. Giòng truyền thừa này bắt nguồn từ Ấn Ðộ do
ngài Tilopa truyền cho Naropa, sau đó nhà đại dịch giả Marpa
đã đem về xứ Tây Tạng truyền lại cho đệ tử là Milarépa,
nhà đại hành giả Du Già Tây Tạng, nổi tiếng là đã đạt
được giác ngộ hoàn toàn ngay trong một đời, nhờ sự tu
hành khổ cực và tinh tấn cũng như hết lòng tôn kính vị
Thầy của mình. Tiếp theo là Gampopa, vị này truyền lại cho
nhiều đệ tử, trong số đó có ngài Tusum Khyenpa, tức là
Karmapa đệ I, sáng Tổ của giòng "Karma-Kagyu". Giòng này tiếp
tục truyền thừa cho đến ngày nay và vị Tổ hiện đại
là ngài Karmapa đệ XVI.
Kinh
sách Tây Tạng luôn luôn nhắc nhở rằng tu hành theo Phật
Pháp, nhất là Ðại Thủ Ấn hay những pháp môn phức tạp
của Mật giáo (Tantra), rất cần sự hướng dẫn cẩn thận
và tỉ mỉ của một vị Thầy (Lama, Guru), nếu không sẽ rất
dễ lạc đường. Hơn nữa vị Thầy chính là trung tâm điểm
của pháp quán Guru Yoga, một pháp quán trọng yếu và căn bản
của tất cả trường phái Phật Giáo Tây Tạng. Như vậy vị
Thầy cần phải là một người đã giác ngộ và đắc đạo,
có khả năng tiếp độ dẫn dắt đệ tử nhận ra bổn tánh
của tâm. Do đó người đệ tử cần đối xử và xem vị
Thầy của mình không khác một đức Phật sống. Sự tôn kính
và phục vụ một vị Thầy như vậy chắc chắn sẽ làm tăng
trưởng nhiều căn lành, và đương nhiên sẽ dẫn đến đạo
quả một cách nhanh chóng. Tuy vậy việc này không phải là
dễ làm, vì dù cho hết lòng tin tưởng nơi vị Thầy (mà ta
cho là đắc đạo), đôi lúc ta cũng cảm thấy hình như vị
Thầy của mình còn mang vài tật xấu. Nhưng thực ra hành động
của vị Thầy chỉ là sự phản ảnh của những vô minh nghiệp
chướng còn lưu lại trong tâm ta mà thôi. Có một phương thức
tu tập tên là "Lo Djong" của trường phái Kadam Tây Tạng, mà
ngài Gampopa đã phối hợp với Ðại Thủ Ấn, dạy rằng mỗi
khi có một sự tranh chấp xảy ra, ta hãy nhận phần lỗi về
mình và phần phải về đối phương. Làm được như thế
ta sẽ chuyển tất cả nghịch cảnh thành những thiện duyên
lợi ích cho sự tu hành.
Mong
rằng tập sách này sẽ đem lại lợi ích cho mọi đọc giả
và hành giả.
Alexander
Berzin
Dharamsala,
Ấn Ðộ, 1977.
-ooOoo-
Mở
đầu
Xin
thành tâm xưng tán và đảnh lễ tất cả chư Tổ của phái
Kagyu. Tuy đã giác ngộ và trở về với Pháp thân từ vô lượng
kiếp, các ngài vẫn luôn luôn thị hiện dưới nhiều hình
thức để cứu độ chúng sinh. Chỉ cần nghe danh của các
ngài cũng đủ khiếp phục mọi lo âu và đem lại tin tưởng.
Sau
khi đảnh lễ Thầy Bổn Sư (Lama) và chư Tổ của tông phái,
tôi xin nói đôi lời về Ðại Thủ Ấn, tinh hoa thâm thúy
của Kim Cang thừa (Vajrayana) để khuyến khích những đệ tử
đang tìm cầu giải thoát. Ðây là con đường độc nhất mà
chư Phật đã đi qua, và đã được truyền khẩu từ thời
đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho đến vị Thầy Bổn Sư [1] của
ta. Nó là tinh hoa của tâm chư Phật ba đời, là phương pháp
dẫn đến giác ngộ giải thoát ngay trong một đời.
Muốn
tu học Phật pháp một cách hữu hiệu cần phải có một chí
nguyện chân chính. Cái gì đã thúc đẩy ta đi tìm cầu giải
thoát? Trôi lăn trong sinh tử luân hồi từ đời vô thỉ đến
nay, tất cả chúng sinh, ít nhất trong một kiếp nào đó, đều
đã làm cha mẹ ta và chắc chắn đã thương yêu đối xử
rất tốt với ta. Cũng như ta, tất cả chúng sinh đều muốn
sung sướng an vui, nhưng vì bị vô minh che lấp nên chỉ tạo
điều ác và gây khổ cho nhau. Do đó ta cần phải giác ngộ
giải thoát để trước cứu mình (tự độ), sau cứu người
(độ tha) thoát khỏi vô minh, đau khổ. Theo Kim Cang thừa, ước
nguyện thành Phật để cứu độ cha mẹ (là tất cả chúng
sinh) được gọi là Bồ Ðề Tâm. Nhờ Bồ Ðề Tâm thúc đẩy,
ta sẽ tinh cần học hỏi và tu tập Phật pháp một cách chân
chính.
Trước
hết có ba điều sai lầm cần phải tránh. Thứ nhất: không
nên giống như một cái chậu úp ngược, tâm thức hạn hẹp,
khiến cho giáo pháp không thể thấm nhuần. Thứ hai: không
nên giống như một cái chậu lủng đáy, nghe nhiều nhưng không
nhớ được gì cả. Thứ ba: không nên giống như một cái
chậu dơ, với những lầm đoán, những khái niệm biên kiến,
khiến ta luôn luôn nghi ngờ và bóp méo giáo pháp.
Tiếp
theo là sáu phiền não cần phải trừ bỏ trong khi nghe giảng
giáo lý:
- Kiêu
ngạo: khinh thường giáo pháp
-
Không tin tưởng hay nghi ngờ
-
Không hứng thú: vì chí nguyện không vững
-
Không chú ý: vì bị trần cảnh cám dỗ
-
Hôn trầm: vì nhắm mắt định tâm
-
Thất vọng hay nản chí vì không hiểu ý nghĩa
Ngoài
ra còn có năm cách thâu nhận (nghe giảng) không đứng đắn:
1) ghi nhớ văn tự mà không hiểu ý nghĩa; 2) ghi nhớ ý nghĩa
bỏ quên văn tự; 3) và 4) cho rằng văn tự và ý nghĩa đều
không quan trọng; 5) ghi nhận giáo pháp sai thứ tự hoặc hiểu
lầm.
Tóm
lại nếu ý thức được tự thân là một bệnh nhân, vọng
tưởng vô minh là căn bệnh, vị Thầy (Lama) là bác sĩ, và
Phật pháp là thuốc hay, chắc chắn ta sẽ được nhiều lợi
lạc.
Chú
thích:
[1]
Lama-racine: Dịch là Thầy Bổn Sư. Theo Tây Tạng thì không
hẳn là vị Thầy mà ta đã quy y hay thọ giới, vì ta có thể
có nhiều Thầy. Vị Thầy nào đã làm cho ta giác ngộ (bổn
tánh) thì vị đó được xem là Bổn Sư. Trong trường hợp
chưa giác ngộ thì vị Thầy nào hướng dẫn, giúp đỡ ta
nhiều nhất có thể được xem là Bổn Sư.
WP:
Diệu Hỷ