Chương
III
Ngả
tâm linh
Có
nhiều người đi chùa nhưng họ đến để tìm một cái gì
đó không liên quan đến việc tỉnh thức tâm linh.
Người
Tàu đến chùa cúng Phật rất nhiều, để cầu buôn may bán
đắt, làm ăn phát đạt hoặc xin xâm xin quẻ, nếu được
quẻ tốt thì mừng cúng Phật nhiều, nếu gặp quẻ xấu thì
buồn bã bỏ về. Ðến chùa khấn vái xin xỏ như thế thì
chùa có khác gì đình miếu. Nhưng khổ nỗi chính những hạng
"Phật tử" như thế mới giúp cho chùa khá giả. Người Việt
Nam hiểu Ðạo hơn nên "Tu" cũng khá hơn, đến chùa tụng kinh
lễ Phật, học Ðạo nghe pháp, làm công quả.
Tụng
kinh nhiều thì cho là mình tu nhiều, tu khá, hết tụng kinh
bổn đến tụng kinh bộ, hết bộ này đến bộ khác. Lạy
Phật thì lạy xong ngũ bách danh, đến tam thiên rồi vạn Phật,
cho rằng lạy nhiều chừng nào thì tiêu tội chừng nấy.
Học
Ðạo nghe pháp cốt để áp dụng tu tâm sửa tánh, nhưng không
như thế mà lại dùng kiến thức để phân biệt Thầy này
hay Thầy kia dở.
Thay
vì làm công quả để học hạnh xả thí, lại làm công quả
để kiếm điểm với Thầy trụ trì.
Khá
hơn là những bậc xuất gia, từ bỏ nhà cửa vợ con đi tu.
Nhưng một thời gian sau lại bám víu vào ngôi vị đạo đức
của mình. Nói đến đây tôi nhớ lại chuyện của Tổ Huệ
Khả. Trong 33 vị Tổ Thiền Tông, tôi thán phục nhất vị
Tổ này, dám xả thí thân mạng, chặt tay cầu Ðạo. Là người
kế thừa Tổ Ðạt Ma, sau cùng dám xả luôn ngôi chùa, bỏ
luôn chức Tổ, chức Hoà Thượng, lăn xả vào chợ, đi vào
cuộc đời để tự thử thách mình, tự chứng nghiệm và
độ một tầng lớp khác.
Người
tu không khéo thường hay mắc phải bệnh "ngã tâm linh" (égo
spirituel). Mới biết tu một chút cho là mình đạo đức. Tu
hành chăm chỉ, được bao nhiêu công đức đều bị cái ngã
hốt hết.
Tuy
là một tu sĩ nhưng tôi không ưa chữ tu chút nào. Tôi đã
một lần bày tỏ trong quyển Bố thí ba la mật. Tu đâu phải
là làm những điều hình thức bên ngoài, đâu phải tính năm
cộng tháng vào chùa. Khoác áo cà sa mà không hiểu bài học
thương yêu, giảng nói từ bi mà chỉ biết ích kỷ củng cố
địa vị đạo đức của mình. Ngạn ngữ có câu: "Chiếc
áo không làm nên Thầy tu" kia mà! Ðối với tôi, tu là tập
sống với tâm linh. Chữ tâm linh (spirituel) khác với vật chất
(matériel). Tâm linh là tánh linh thiêng của con người, có thể
gọi đó là Thượng Ðế, Phật tánh hay Chân ngã... điều
đó không quan trọng. Ðiều quan trọng đầu tiên là ta có
biết đến tâm linh của mình hay không? Biết sống thật với
tình cảm, nội kết của mình hay không? Hay là chỉ thích đóng
kịch, mượn danh nghĩa chữ tu để khoe khoang mình là người
đạo đức.
Tôi
tu vì tôi không phải là người đạo đức. Tôi tu vì tôi
còn nhiều nội kết chưa được giải tỏa, còn nhiều bài
học ở đời mà tôi chưa hiểu. Tôi tu vì tôi hãy còn phân
biệt tốt xấu, ưa ghét. Hơn nữa bây giờ tôi không chắc
là tôi còn tu theo ý nghĩa phổ thông nữa không, nhưng tôi
biết là tôi muốn sống thật. Sống thật với chính mình,
với cả tâm hồn và thể xác của mình. Tôi không muốn làm
Thầy ai cả, nếu muốn thì chỉ làm Thầy chính mình mà thôi.
Có
nhiều người chỉ thích đóng vai Thầy và muốn học trò hay
đệ tử đóng mãi vai học trò đệ tử. Nhưng Thầy nào trò
nấy, cũng có người thích đi tìm một vị Thầy, một đấng
tôn sư bên ngoài để thờ phụng tôn kính.
Theo
tôi, một vị Thầy thật (chân Sư) là người dạy cho đệ
tử nhận ra ông Thầy của chính mình bên trong (le maître intérieur).
Ðức Phật là một chân Sư, ngài thành Phật và dạy cho chúng
ta khai triển Phật tánh của mình để thành Phật như ngài.
Ðức Phật đâu có muốn bị đúc tượng ngồi yên trên bàn
thờ cho chúng ta hì hụp lạy ở dưới.
Nhân
Quả
Luật
nhân quả là một thuyết khá quen thuộc đối với người
Việt, nhưng ở đây tôi muốn đề cập đến một cái nhìn
khác.
Tới
bây giờ, nhân quả thường được hiểu như một luật thưởng
phạt công bình: "Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ" hoặc
"gieo gió gặt bão" v.v... Bởi thế nhiều người đâm ra sợ
luật nhân quả và nhờ đó mà họ không dám làm ác, vì làm
ác sẽ bị quả báo xấu mai sau. Hoặc ngược lại, có người
cúng dường bố thí thật nhiều để mai sau thọ hưởng phước
báo.
Luật
nhân quả đúng là gieo nhân nào sẽ gặt quả nấy, nhưng theo
tôi nó không phải chỉ là luật thưởng phạt mà là một
luật cần thiết cho sự tiến hoá của con người.
Ðức
Phật có nói: Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ
thành. Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật thọ ký cho các đệ tử
sau này ai sẽ thành Phật hiệu là gì, ở cõi nào v.v... Như
vậy ta thấy không những đệ tử của Phật sẽ thành Phật
mà tất cả chúng sinh đều sẽ thành Phật, dù phải trải
qua vô lượng số kiếp.
Cuộc
đời là một trường học lớn (Ðại học đường), gồm
đủ mọi lớp từ thấp lên lao, từ mẫu giáo, tiểu học,
trung học lên đến đại học. Con người cũng đủ mọi tầng
lớp: giàu có, nghèo khổ, hiền lành, hung ác, thông minh, đần
độn, v.v... Sinh ra ở đời tức là đã ghi tên và được
nhận vào Trường Ðời rồi. Bổn phận của học sinh là phải
học giỏi, hiểu nhanh để lên lớp. Nếu lười học, trốn
học rong chơi, tâm trí u độn thì sẽ bị ở lại lớp, học
đi học lại bài cũ nhiều lần đến khi nào hiểu thì mới
được lên lớp.
Khi
đã học hết tất cả lớp của Trường Ðời rồi thì không
cần phải ghi tên học lại làm gì nữa. Ðó là trường hợp
của bậc thánh nhân như Phật, Chúa và các vị Ðạo Sư.
Mục
đích chân chính của người đời là phải học hỏi để
hiểu và tiến hoá đến mức toàn thiện. Bài học cao quý
nhất cần phải hiểu là bài học "thương yêu". Thương yêu
chính mình và kẻ khác. Danh từ trong Ðạo gọi là từ bi.
Nhưng thương yêu cũng phải biết cách, không nên thương yêu
theo kiểu ái luyến ích kỷ thường tình. Vì vậy cần phải
học thêm bài học "hiểu biết" mà danh từ Ðạo Phật gọi
là trí huệ.
Hiểu
biết để thương yêu, thương yêu để có hạnh phúc. Hiểu
biết ở đây không phải là loại trí khôn biết về chính
trị, kinh tế, thương mại, kỹ thuật, v.v... Có nhiều người
học giỏi, đậu bằng cấp cao về những bộ môn trên, nhưng
để làm gì chứ? Ðể đi làm kiếm ăn, nuôi gia đình hay dùng
nó vào việc ích kỷ hại nhân.
Ở
đời, dù giàu hay nghèo, khôn hay dại, ai ai cũng muốn sung
sướng hạnh phúc. Quả thì muốn mà nhân thì không biết gieo.
Hoặc gieo nhân ác mà cứ muốn quả lành. Tìm hạnh phúc mãi
không thấy, chỉ thấy khổ đau. Khổ quá bèn tìm đến Ðạo.
Ðạo dạy gì? Dạy luật nhân quả: gieo nhân nào thì gặt
quả nấy.
Ta
đau khổ thất tình vì bị người yêu ruồng bỏ, ta đâu có
ngờ trong nhiều kiếp trước vì không biết thương yêu ta
đã ruồng bỏ người. Là nạn nhân của chiến tranh, nhà tan
cửa nát, vợ con thất lạc, ta hận đối phương tàn ác dã
man. Ta đâu có nhớ trong nhiều kiếp trước vì không biết
thương yêu ta đã tàn sát kẻ địch không gớm tay.
Trong
kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu, bài kệ thứ nhất nói:
Tâm
dẫn đầu các pháp
Tâm
làm chủ, tác tạo
Nếu
với tâm ô nhiễm
Nói
lên hay hành động
Khổ
não bước theo sau
Như
xe, chân vật kéo.
Nguyên
nhân đưa đến khổ đau, không phải hoàn cảnh, không phải
người khác, mà chính tự nơi mình. Vì mải chạy theo vật
chất, bỏ quên tâm linh, không biết luật nhân quả, không
học sống thương yêu. Do đó phải chìm nổi lênh đênh trong
biển khổ luân hồi, trở đi trở lại Trường Ðời để
học đi học lại bài học nhân quả, bài học thương yêu.
Có
nhiều bậc cha mẹ thương con nhưng không biết dạy con, nuông
chiều thả lỏng con cái. Ðưa con đến trường phó mặc cho
giáo sư dạy dỗ. Nhưng ở trường học thời nay, người ta
chỉ dạy cho có bằng cấp, có nghề trong tay để ra đi làm
kiếm ăn. Chỉ trong Trường Ðời với những bài học sống,
bài học cay đắng, bệnh hoạn, tai nạn, khổ đau mới có
thể làm con người thức tỉnh về luật nhân quả.
Ngày
nay trong giới trí thức khoa học Âu Mỹ có nhiều người để
tâm nghiên cứu về hiện tượng luân hồi tái sinh. Nổi tiếng
là bác sĩ Ian Stevenson ở Ðại Học Charlottesville, tiểu bang
Virginia. Qua nhiều năm khảo cứu, điều tra nhiều nước trên
thế giới, ông ta đặc biệt để ý đến những dấu vết
bẩm sinh trên thân thể con người. Thí dụ trường hợp của
cậu bé Witjeratna Hami ở Tích Lan, khi mới sinh ra đã có một
bàn tay tàn tật. Vào tuổi biết nói, cậu tiết lộ: "Tôi
đã giết vợ tôi với bàn tay này trước khi tái sinh ở đây".
Người
Âu Mỹ không tin hoặc khó tin chuyện luân hồi nên những sách
như của Stevenson thích hợp với họ vì nó có tính cách khoa
học khảo cứu chứng minh luân hồi có thật. Nhưng đối với
người Á Ðông thì thuyết luân hồi không cần phải được
chứng minh nữa, vấn đề cần được nói tới là luân hồi
hay tái sinh giúp ta hiểu được cái gì? Rút tỉa được bài
học gì?
Bài
học nhân quả dạy ta phải có trách nhiệm trong sự sống
của mình qua hành động, lời nói và suy nghĩ. Nếu ta sống
vô ý thức, vô trách nhiệm, chỉ biết ích kỷ hại nhân thì
phải trở lại Trường Ðời học bài học luân hồi.
Nếu
nói về luân hồi với sự ích lợi của nó thì ta phải kể
đến Edgar Cayce (1877-1956), sinh trưởng ở tiểu bang Kentucky.
Ông ta có tài soi kiếp cho bệnh nhân. Sau khi đi vào giấc ngủ
thôi miên, ông đến cõi Trung giới (monde astral) nơi đó có
một chỗ ghi chép tất cả số kiếp của loài người trên
trái đất (annales akashiques). Chỉ cần đọc trong đó, Cayce
biết được và nói cho bệnh nhân hiểu lý do nào trong quá
khứ đã đưa đến căn bệnh hiện nay. Ðây cũng tương tựa
như túc mạng thông trong Ðạo Phật. Không những nói rõ nguyên
nhân căn bệnh, Cayce còn chỉ cho bệnh nhân cách chữa trị
và phần lớn các bệnh nhân đều lành bệnh. Những hồ sơ
bệnh án của Cayce, trên 14.000 trường hợp, được tồn trữ
tại ARE (Association for Research and Enlightenment) ở Virginia Beach.
Thí dụ trường hợp của một phụ nữ bị điếc. Cayce cho
hay trong kiếp quá khứ, cô ta đã bịt tai làm ngơ trước lời
cầu cứu của kẻ khác. Do vậy trong kiếp này, với bệnh
điếc, cô phải tập hiểu nỗi khổ của kẻ khác, không còn
bịt tai đóng cửa lòng với những ai đau khổ cầu cứu. Bạn
có thể tìm đọc quyển "Những bí ẩn của cuộc đời" do
Nguyễn Hữu Kiệt dịch, nói rõ về những loại nghiệp báo.
Có
đau răng, ta mới hiểu nỗi khổ của kẻ đau răng. Có những
người mạnh khỏe, chưa bao giờ bị bệnh nên thấy người
khác bệnh thì làm ngơ xem thường. Những người này trong
tương lai sẽ bị bệnh tật để cảm nghiệm nỗi khổ của
người bệnh. Hiểu được vậy để thương mình và kẻ khác,
nhờ đó nghiệp khổ được tiêu trừ. Nhưng nếu không hiểu
như thế mà cứ đi chùa cầu an cho hết bệnh thì bài học
về bệnh khổ vẫn chưa hiểu và đương nhiên sẽ phải học
lại.
Bệnh
khổ là một bài học cần phải hiểu. Không phải chỉ hiểu
trên phương diện nghiệp báo thôi mà phải học nghe nữa.
Con người có hai phần: thể xác và tâm hồn. Do đó phải
học nghe tiếng nói của thể xác và của tâm hồn. Phật tử
thường chúc quý Thầy pháp thể khinh an, hoặc tứ đại thường
hòa. Thân tứ đại (đất, nước, gió, lửa) đâu phải tự
nhiên mà hòa thuận, phần nào ít quá hoặc nhiều quá thì
sẽ sinh bệnh.Tu là tập làm chủ thân tâm. Nếu không biết
nghe tiếng nói của thân làm sao điều hòa tứ đại? Nếu
không biết nghe tiếng nói của tim (tâm) thì làm sao hóa giải
nội kết? Tứ đại bất hòa, nội kết không giải thì làm
sao pháp thể khinh an, thân tâm an lạc được?
Ðồng
ý bệnh khổ là một nghiệp báo, nhưng ai đã tạo ra nghiệp
đó, nếu không phải là chính ta?
Tình
thương
Như
đã nói ở vài trang trước, sau một thời gian đi tu, tim tôi
hình như khô cằn lại. Dù hai chữ từ bi tôi vẫn thường
đọc, thường nhớ nhưng nó chỉ là khái niệm tri thức. Tôi
đã quán chiếu nhiều về tình thương ngay từ lúc còn ở
Trung học. Tôi thấy những đôi nam nữ yêu nhau đắm đuối
nhưng không lâu bền. Do đó mặc dù tôi cũng có bạn gái hồi
còn học lớp 10 (đệ tam) nhưng không dám yêu hết mình vì
nếu yêu thật nhiều mà lỡ người kia bỏ mình thì sao? Chắc
chắn sẽ khổ nhiều. Thôi thì đành yêu nửa chừng, lỡ người
kia có bỏ thì mình cũng chỉ khổ phân nửa thôi.
Lên
Ðại Học, tôi thấy các cô gái Việt Nam con nhà nho giáo,
thấm nhuần quan niệm môn đăng hộ đối, đi chơi với bạn
trai chỉ tìm những người có bằng cấp bác sĩ, kỹ sư...
Như thế đâu còn tình nghĩa gì nữa! Nếu cố gượng yêu
nhau thì đó là một thứ tình yêu điều kiện, tiếng Pháp
gọi là amour conditionnel. Tôi yêu anh vì anh có bằng bác sĩ,
kỹ sư, vì anh sẽ thỏa mãn những ước muốn của tôi. Thêm
quan niệm cổ hủ của nho giáo, cha mẹ đặt đâu con ngồi
đó, trai gái cưới nhau vì tiền, vì danh, vì lợi, đâu phải
vì tình. Những cuộc hôn nhân như vậy, dùng lý trí tính toán
hơn thiệt, bóp chết con tim đâu còn cơ hội cho tình thương
hồn nhiên phát triển.
Ngẫm
thấy tình thương không có thật, con người sống với nhau
chỉ vì ích kỷ lợi mình, nên tôi không thương nữa, nếu
có thì chỉ còn thương hại mà thôi.
Ðến
khi vào Ðạo tôi được học hai chữ từ bi. Từ là ban vui,
bi là cứu khổ. Có nhiều Thầy muốn đề cao Ðạo Phật,
dạy rằng từ bi bao la rộng lớn hơn chữ bác ái của Ðạo
Chúa, vì bác ái chỉ là lòng thương người thôi, không cứu
khổ rốt ráo như Ðạo Phật.
Nhưng
phải có thương thì mới ban vui cứu khổ được chứ! Cha
mẹ có thương con thì mới mua đồ chơi cho con vui, thấy con
buồn khóc thì âu yếm dỗ dành.
Nếu
tôi không thương bạn mà bị bắt phải ban vui cho bạn thì
hơi khó làm. Nếu có làm chăng nữa thì đó là sự ban vui
cưỡng ép, đâu phải phát xuất từ tấm lòng (quả tim). Nhiều
lúc tôi rất ghét bạn nhưng cũng phải đối xử từ bi, vì
nếu không người ta sẽ bảo rằng tôi không phải là người
tu hành. Như thế là từ bi bất đắc dĩ.
Dịch
từ bi là ban vui cứu khổ nghe xuôi tai và đơn giản nhưng
làm mất ý nghĩa của tình thương .
Từ
bi thường đi cùng với hỷ xả. Từ bi hỷ xả là bốn đức
tính cao đẹp mà danh từ Ðạo Phật gọi là Tứ Vô Lượng
Tâm. Tiếng sanskrit là Brahma-Vihara, có nghĩa là nơi ở của
Phạm thiên, hoặc Apramana là vô lượng.
Từ
(maitri): tình thương yêu.
Bi
(karuna): lòng thương xót.
Hỷ
(mudita): mừng lây với cái vui của kẻ khác.
Xả
(upeksha): bình đẳng đối với mọi người dù thân hay thù.
Tại
sao gọi là vô lượng? Bởi vì chúng sinh vô lượng nên bốn
đức tính này cần phải tỏa đến khắp chúng sinh. Không
phải chỉ thương yêu vài người thân trong gia đình bạn bè
quyến thuộc mà phải thương yêu tất cả chúng sinh. Không
phải chỉ thương xót một nhóm người hay một quốc gia mà
phải thương xót tất cả mọi loài trên trái đất.
Trên
lý thuyết thì bao la như thế, nhưng thực tế nhiều khi một
người tôi còn không thương nổi làm sao thương hết chúng
sinh. Người đầu tiên mà tôi cần thương yêu đó chính là
bản thân tôi. Nếu tôi không biết thương yêu tôi thì làm
sao tôi có thể thương yêu kẻ khác được? Thương tôi ở
đây không phải là thương cái ngã (égo) của tôi, mà là thương
hết toàn thân tâm tôi (tout mon être). Không nên lầm lẫn giữa
cái ngã (égo) và con người (être). Thí dụ tôi chỉ cao 1m50,
so với người khác thì hơi lùn thấp nên tôi phải đi giầy
cao gót để người ta khỏi thấy tôi lùn. Cái ngã của tôi
muốn thấy tôi cao 1m60, nhưng con người thật của tôi chỉ
cao 1m50. Khi mang gót cao soi gương, tôi thấy tôi đẹp hơn và
tôi yêu tôi hơn, đó là tôi đang yêu cái ngã của tôi. Khi
bỏ giầy gót ra, nhìn gương thấy mình lùn nên tôi không yêu
con người của tôi nữa. Nếu tôi biết thương tôi thì tôi
đón nhận tất cả cao thấp, đẹp xấu, đó gọi là bình
đẳng. Có nhiều người chỉ thích người khác khen mình đẹp
tốt, đạo đức, không thích nghe nói đến tính hư tật xấu
của mình. Ðó là ái ngã, yêu cái ngã của mình. Ngã là một
khái niệm, ý niệm về cái ta không đúng với sự thật.
Tôi
là một Thầy tu, tôi cho rằng tôi đạo đức, thông hiểu
kinh điển, tu hành thanh tịnh, v.v... Ðó là tôi đang đúc kết
một cái Ta (ngã) về tôi, cái Ta này tôi chỉ muốn thấy nó
đẹp tốt và tôi từ chối ngoảnh mặt làm ngơ với những
phần xấu dở trong tôi. Như vậy tôi đâu có biết thương
toàn thể con người của tôi. Nếu tôi chỉ thấy mình là
người đạo đức thông kinh điển thì tôi đâu cần tu hành
làm gì nữa và cái ngã của tôi sẽ thấy tôi xứng đáng
làm Thầy thiên hạ. Nếu tôi không thấy không thương những
phần xấu dở trong tôi thì tôi cần gì phải tu nữa vì tu
là sửa tánh hư tật xấu. Chính những phần xấu dở trong
tôi, niềm đau nỗi khổ của tôi mới cần tình thương, cần
được chuyển hóa và cứu độ. Nếu tôi không biết thương
yêu những phần này mà chỉ thích ngắm nghía yêu mến cái
ngã tốt đẹp của tôi thì còn gì là từ bi nữa?
Trước
khi nói đến từ bi cứu độ chúng sinh, ta cần phải xét lại
xem ta đã biết thương chính con người của ta chưa? Hay là
ta chỉ biết thương cái ngã, thương những khái niệm về
ngã. Cái ngã của tôi muốn tôi có một ngôi chùa to nhất
nên tôi phải hăng say vận động, tích cực gom góp tài chánh,
quên ăn bỏ ngủ đến khi nào xong ngôi chùa mới hài lòng.
Như thế tôi đâu có biết thương thân tâm của tôi cần ăn
ngủ điều độ, tôi chỉ lo phục vụ cho cái ngã của tôi
thôi.
Trở
về Tứ Vô Lượng Tâm, tuy có bốn nhưng chỉ cần một là
đủ, đó là tình thương (maitri). Có thương thì đương nhiên
sẽ có xót. Bạn thương con bạn thì khi nó khổ chắc chắn
bạn sẽ xót xa tìm cách cứu giúp nó. Có thương thì mới
có sự thông cảm, có thông cảm thì mới có thể chia mừng
được với người khác. Bạn thương con bạn, khi thấy nó
thi đậu bạn cũng mừng lây. Có thương thì mới có thể đối
xử bình đẳng được. Bởi vậy chỉ cần làm sao khơi dậy
và làm tăng trưởng tình thương thì ba đức tính kia sẽ đầy
đủ.
Nhưng
làm sao khơi dậy tình thương? Tôn giáo nào cũng rao giảng
tình thương, nhưng sao con người vẫn chưa biết thương yêu
nhau? Không những thế mà lại còn nhân danh tôn giáo để chém
giết nhau.
Tôn
giáo dạy người ta tình thương để phục vụ tôn giáo, dạy
tình thương với những giáo điều. Những vị giáo chủ ra
đời để phục vụ chúng sinh, lấy tình thương cảm hóa con
người, nhưng đệ tử nối tiếp đời sau không có khả năng
thương yêu rộng lớn như các ngài nên bắt buộc phải hệ
thống hóa giáo lý và vô tình dần dần đóng khung tình thương.
Nếu thương Phật thương Chúa thì phải làm thế này thế
nọ, phải hy sinh tánh mạng bảo vệ tôn giáo, nhiều khi sùng
tín quá khích sẵn sàng chém giết vì tôn giáo.
Tôn
giáo ra đời để phục vụ tình thương chứ không phải lấy
tình thương để phục vụ tôn giáo.
Tình
thương không thể tìm thấy trong những buổi lễ cầu kinh,
trong sự nghiên cứu kinh điển hay nghe giảng giáo lý mà tìm
thấy ngay trong sự sống, trong sự tiếp xúc hằng ngày. Tình
thương cần được biểu lộ và thể nghiệm qua ba cửa: thân,
khẩu, ý và phát xuất từ tấm lòng (quả tim) chứ không phải
từ trí óc.
Tình
thương mà tôi muốn nói ở đây không phải là thứ tình yêu
nam nữ, tình bạn hoặc tình thương cha mẹ con cái. Ðương
nhiên những thứ tình kia cũng là một thứ tình khá đẹp,
một phần nhỏ của tình thương và là một đề tài bất
tận cho những thi sĩ, văn sĩ và nhạc sĩ.
Tôi
có thể nói quanh nói quẩn về tình thương nhưng tốt hơn
hết bạn hãy theo tôi vào một công viên hoặc một khu rừng,
một cánh đồng rồi bạn hãy nằm úp mặt xuống đất, dang
hai tay ra như đang ôm quả đất và nói thầm với quả đất
rằng bạn thương quả đất, biết ơn và cảm ơn quả đất.
Sau đó bạn đứng dậy đi tìm một cây nào khá to lớn, cành
lá sum sê, và bạn hãy dang hai tay ôm thân cây vào lòng, hít
thở nhẹ nhàng lắng nghe tiếng nói của cây. Nếu tâm bạn
lắng và cây kia cảm nhận được tình thương của bạn nó
sẽ trả lời.
Nếu
tim bạn đang khô héo vì bị loài người vô tình hất hủi
từ khước, bạn hãy hướng tình thương của bạn đến thiên
nhiên đi. Thiên nhiên và vũ trụ rất cần tình thương của
bạn. Tình thương vô điều kiện (amour inconditionnel). Bạn
hãy thương cỏ, thương cây, thương mây, thương gió đi. Tình
thương là một năng lượng cần được lưu chuyển và trao
đổi. Xin nhớ tình thương không phải là một khái niệm mà
là một kinh nghiệm.
Ðạo
Gì?
Ðọc
đến đây bạn có thấy tôi còn là một Thầy tu Phật Giáo
chánh tông nữa không hay là đã bị nhiễm nhiều thứ "ngoại
đạo"? Nhiễm như vậy là tốt hay xấu?
Tôi
xuất thân từ Ðại Thừa, tu tập thiền Tiểu Thừa, sau theo
Kim cang thừa và bây giờ tôi đang theo "Ðạo gì"? Ðạo gì
vì cho nó tên gì cũng được, cái đó không quan trọng. Quan
trọng ở chỗ tôi có sống thực được với chính mình hay
không, có vượt qua được những khái niệm chấp trước nhị
biên của tôn giáo hay không?
Theo
"Ðạo gì" thì không có gì tốt hay xấu, chỉ có những kinh
nghiệm khổ đau hay sung sướng để tiến hóa. Có người cần
kinh nghiệm khổ đau để trưởng thành, có người cần kinh
nghiệm sung sướng để nghỉ xả hơi trên quãng đường luân
hồi bất tận.
Ðạo
Chúa phát xuất từ nước Do Thái, nhưng ngày nay dân Do Thái
đâu có theo Ðạo Chúa mà theo Ðạo Do Thái (Judaisme). Ðạo
Phật bắt nguồn từ Ấn Ðộ nhưng hiện nay đa số dân Ấn
theo Ấn Ðộ Giáo (Hindouisme) chỉ có khoảng ba phần trăm theo
Phật Giáo. Như vậy Ðạo nào hay nhất?
Nhiều
năm về trước, khi mới ra làm giảng sư tôi hăng say biện
luận cho Ðạo Phật là Ðạo hay nhất. Ðó chỉ vì tôi chưa
được học về những Ðạo khác. Gần đây, sau khi ra thất
được đọc quyển "Hành trình về phương Ðông" do Nguyên
Phong dịch, tôi như bừng tỉnh sung sướng thấy được những
chân trời mới. Thấy chân lý không phải là sở hữu của
riêng một tôn giáo nào. Chẳng cần tham vọng nói đến chân
lý, tôi chỉ muốn tập sống với thương yêu, hiểu biết,
thông cảm và tha thứ.
Sau
đây tôi xin trích dịch một bài trong báo Prema số 28 nói về
"Ðạo hay nhất" của Sathya Sai Baba, một đạo sư Ấn Ðộ
hiện đại.
Thuở
xưa có một ông vua hiền đức, cai trị công bằng, dân chúng
trong nước sống thanh bình. Một hôm, dưới sự đề nghị
của cận thần tả hữu, vua triệu tập tất cả trưởng lão
tôn túc của các tôn giáo trong nước. Khi tất cả có mặt
đầy đủ, vua nói:
- Thưa
các vị giáo chủ, hôm nay ta mời các vị tới đây bàn luận
vì ta muốn chọn một Ðạo trong các Ðạo để tôn lên làm
quốc giáo. Ta đặt niềm tin nơi các vị, với sự minh triết
xin các vị hội thảo bàn luận với nhau để tìm cho ta một
Ðạo nào hay nhất, đáng được hưởng ân phúc của hoàng
gia. Ðạo nào cũng được miễn sao mọi người đều đồng
ý kính phục, không ai có thể bắt bẻ hay chối cãi.
Trải
qua nhiều năm mà vua vẫn chưa được trả lời, bởi vì ai
cũng cho Ðạo của mình là hay nhất, nhưng người khác lại
không chịu. Cứ thế mà tranh luận giằng co từ năm này sang
năm khác. Rồi một hôm, có một hiền giả du phương ghé qua
nước của nhà vua nọ. Sau khi nghe chuyện nhà vua tìm một
Ðạo hay nhất mà chưa ra, bèn đến xin yết kiến nhà vua:
- Tâu
bệ hạ, tôi có thể chỉ cho bệ hạ một Ðạo hay nhất mà
không ai có thể bắt bẻ hay chối cãi được.
Vua
nghe qua rất đỗi vui mừng vì hy vọng của mình sắp được
toại nguyện sau bao năm dài trông đợi.
- Thật
vậy sao! Xin hiền giả hãy nói cho ta nghe ngay lập tức. Ta
đã chờ giờ phút này quá lâu rồi!
- Xin
bệ hạ kiên nhẫn một chút. Tôi sẽ tiết lộ cho bệ hạ
tên của Ðạo này ở một nơi thật yên tĩnh vắng vẻ. Ðúng
trưa mai xin hẹn bệ hạ ở bờ sông Hằng, chúng ta sẽ vượt
sông qua bờ bên kia và ở đó tôi sẽ nói cho bệ hạ biết
tên của Ðạo này.
Sang
ngày mai, đúng hẹn, vua và vị hiền giả gặp nhau tại bờ
sông Hằng. Vua ra lệnh cho một chiếc thuyền đến gần để
chở hai người sang bờ bên kia. Khi chiếc thuyền đến gần,
vua sửa soạn bước lên thì hiền giả chặn lại, nói rằng
ông ta muốn khám xét lại chiếc thuyền coi có tốt và bảo
đảm không.
- Chiếc
thuyền này không được vì có một miếng ván bị nứt ở
dưới đáy, nước có thể tràn vào. Hiền giả thưa.
Vua
lại gọi chiếc thuyền khác đến. Sau khi khám xét, vị hiền
giả tìm thấy vài miếng ván bên hông thuyền hơi lỏng vì
thiếu đinh. Nhà vua lại gọi một chiếc khác đến. Sau khi
khám xét kỹ càng, hiền giả lại từ chối vì lý do nước
sơn của thuyền đã bị tróc.
Cứ
như thế, vua gọi hết chiếc thuyền này đến chiếc thuyền
khác, chiếc nào hiền giả cũng moi ra được khuyết điểm.
Dần dần nhà vua mất kiên nhẫn, chiều đã qua, hoàng hôn
sắp đến. Sau cùng vua không nhịn được nữa:
- Thưa
hiền giả! Từ trưa tới bây giờ, ta đã gọi biết bao nhiêu
chiếc thuyền, chiếc nào ngài cũng từ chối hết. Xin hỏi
ngài, thuyền tróc sơn một chút hoặc thiếu vài ba cái đinh
thì đã có sao? Nó vẫn có thể đưa mình qua sông được kia
mà! Sao ngài lại để ý đến những khuyết điểm nhỏ nhặt
như vậy.
Lúc
bấy giờ vị hiền giả nhìn vua mỉm cười nói:
- Bệ
hạ đã tự mình nhận thấy rằng dù có vài ba khuyết điểm
nhưng tất cả những chiếc thuyền kia đều có thể đưa mình
qua sông được. Cũng thế, tất cả Ðạo trong nước của
bệ hạ đều giống như những chiếc thuyền kia. Ðạo nào
cũng có thể đưa bệ hạ đến sự thể nhập với Thượng
đế. Ði tìm khuyết điểm của nhiều Ðạo khác nhau là một
điều vô ích, thiếu sáng suốt. Bệ hạ hãy trở về lo việc
triều đình, tiếp tục lấy đức trị dân và hãy bình đẳng
kính trọng các Ðạo giáo xem Ðạo nào cũng như Ðạo của
chính mình vậy.
Nghe
xong, vua liền phục xuống chân vị hiền giả đảnh lễ. Và
khi ngẩng lên, vua sung sướng cảm thấy mình thực sự thấm
nhuần sự minh triết.