Ngày thứ
nhất. Buổi thứ nhất.
Nói
chung, tất cả tôn giáo lớn trên thế giới đều nhấn mạnh
về tầm quan trọng của hạnh từ bi và nhẫn nhục. Đặc
biệt, mọi truyền thống Phật giáo, bao gồm Tiểu Thừa, Đại
Thừa, Kim Cang Thừa, đều thuyết rằng từ bi là nền tảng
căn bản của sự tu tập tâm linh.
Để
hỗ trợ cho việc phát triển và thực thi tâm hạnh từ bi,
việc chủ yếu là phải vượt qua những chướng ngại. Nơi
đó, hạnh nhẫn nhục đóng vai trò quan trọng, vì nhờ hành
hạnh nhẫn nhục mới có thể vượt qua những sự chướng
ngại của tâm từ bi.
Khi
bàn về hạnh nhẫn nhục, chúng ta phải hiểu rằng có rất
nhiều cấp độ; bắt đầu từ hạnh nhẫn nhục đơn giản
như có khả năng chịu đựng nóng lạnh đôi chút, rồi tiến
lên cấp độ cao nhất của hạnh nhẫn nhục mà đại hành
giả hay đại Bồ Tát thường hành trì. Do phát sanh từ ý
chí hành trì kiên cố, không bị nghịch cảnh xoay chuyển,
nên phải xem hạnh nhẫn nhục giống như ý chí sắt đá, chứ
không yếu mềm. Tổng quát, chúng ta có thể thẩm định hạnh
nhẫn nhục theo những nghĩa đó. Thực sự, ngay cả việc nhẫn
chịu sự cực khổ về thân xác đôi chút như chịu đựng
khí hậu nóng hay lạnh, cũng giúp cho tâm niệm thay đổi rất
nhiều. Nếu hiểu rõ rằng sự nhẫn chịu những khó khăn
trong hiện tại mang lại lợi ích dài lâu, thì chúng ta càng
có nghị lực chịu đựng những khó khăn hằng ngày. Thật
vậy, đối với các hành giả Bồ Tát địa đang hành hạnh
nhẫn nhục cao thượng, trí huệ cũng đóng vai trò hỗ trợ
quan trọng.
Bên
cạnh giá trị cao siêu của hạnh nhẫn nhục theo quan điểm
Phật pháp, trong cuộc sống hằng ngày, việc thực nghiệm
hạnh nhẫn nhục cũng mang lại lợi ích lớn lao: Tăng nghị
lực nhiếp trì tâm thanh tịnh, an lạc, tự tại. Thế nên,
nếu thường hành hạnh nhẫn nhục, dù sống trong hoàn cảnh
căng thẳng cùng cực, nội tâm thanh tịnh tự tại sẽ không
bị khuấy động.
Luận
điển mà tôi sẽ thuyết giảng trong những buổi diễn giảng
liên tục là luận điển Phật pháp, đặc biệt thuộc về
Phật giáo Đại Thừa. Những hạnh được trình bày trong quyển
luận này thuộc về quan điểm của hành giả Bồ Tát Đại
Thừa phát tâm Bồ Đề. Tuy nhiên, rất nhiều phương pháp
được trình bày trong quyển luận này cũng phù hợp và có
thể ứng dụng cho những ai chưa hành hạnh Bồ Tát, hoặc
chưa xem đạo Phật là tôn giáo của mình.
Quyển
luận này được gọi là Bodhisattvacharyavatara theo tiếng Phạn
và được dịch là Nhập Bồ Tát Hạnh Luận. Hạnh Bồ Tát
có ba bậc. Thứ nhất, nhập hạnh Bồ Tát liên hệ chủ yếu
với sự phát tâm Bồ Đề, tức tâm nguyện lợi tha muốn
đạt đạo giác ngộ viên mãn vì lợi ích của chúng sanh.
Thứ hai, thực tiễn hành trì, bao gồm lục độ: Điều kiện
tất yếu của sự phát tâm Bồ Đề; nhẫn nhục lại là một
trong lục độ đó. Thứ ba, công hạnh của Phật quả được
viên mãn nhờ hành hạnh Bồ Tát.
Trong
phẩm thứ nhất của quyển luận Nhập Bồ Tát Hạnh, ngài
Tịch Thiên bàn về công đức và lợi ích của việc phát
tâm Bồ Đề, tức tâm nguyện lợi tha muốn đạt Phật quả
vì sự lợi ích của chúng sanh. Ngài viết:
'Con
đảnh lễ đấng Ma Ni
Vị
sanh xuất tâm cao quý.
Con
quy mạng nguồn an lạc
Vị
mang lại niềm hạnh phúc
Cho
đến kẻ từng hại Ngài'.
Trong
bài kệ này, Ngài viết rằng những ai đã phát tâm lợi tha
vô thượng vốn đáng được tôn sùng quý kính, vì tâm nguyện
lợi tha phát triển khả năng cứu hộ chúng sanh vô cùng tận.
Vì tâm nguyện lợi tha bao la là cội nguồn của niềm hạnh
phúc an lạc của chính mình và vô lượng chúng sanh, nên lúc
gieo duyên với người đã phát tâm Bồ Đề, thì dù việc
đó có tiêu cực, nhưng vẫn để lại ấn tượng sâu sắc
suốt đời. Dù có phạm lỗi hay có duyên xấu khiến phải
chịu quả xấu, nhưng sẽ được quả lành lợi lạc dài lâu
trong tương lai, vì đã từng gieo duyên lành với người đã
phát tâm Bồ Đề. Đó là năng lực của tâm nguyện lợi tha
bao la.
Nền
tảng chủ yếu của tâm nguyện lợi tha bao la là tâm từ bi.
Các vị luận sư thường quy y lễ tán chư Phật, chư Bồ Tát,
hay Bổn Tôn Thiền Quán trong phần đầu của các bài kệ tụng.
Ngược lại, trong phần đầu của quyển Nhập Trung Luận,
ngài Nguyệt Xứng đảnh lễ tâm từ bi, rồi nhấn mạnh tầm
quan trọng và sự quý giá của tâm đó ở mọi phần sau. Dù
vừa phát tâm tu hành hay đang hành trì, chớ xem thường giá
trị quý báu của tâm đó lúc vừa phát tâm Bồ Đề. Lúc
thành Phật, giá trị và tầm quan trọng của tâm từ bi vẫn
hiện hữu. Chúng ta nhận thấy rằng tuy có những cách dạy
hành hạnh từ bi với sự giải thích khác biệt - tại sao
quan trọng hóa việc hỗ trợ tâm từ bi - nhưng mọi tôn giáo
lớn trên thế giới đồng quy về một điểm: Lấy tâm từ
bi làm gốc.
Có
thể định nghĩa sơ về tâm từ bi như tâm niệm bất bạo
động, bất hại, nhưng điều này mang lại sự lầm lẫn tai
hại với tâm niệm chấp trước.
Vì
vậy, chúng ta thấy rằng có hai loại tâm từ bi. Thứ nhất,
tâm từ bi dựa vào tâm niệm chấp trước, đắm nhiễm. Tâm
từ bi và cảm giác thân thiết đó hoàn toàn thiên vị: Chủ
yếu dựa vào việc xem đối tượng đắm trước là người
rất thân thiết. Ngược lại, tâm từ bi chân chánh vượt
ngoài sự đắm trước: Không màng người đó có là bè bạn
thân quyến hay chăng. Tâm đó dựa vào lý lẽ rằng ai ai cũng
có bản chất muốn vui và tránh khổ như mình; ai ai cũng có
quyền làm hoàn mãn tâm nguyện căn bản đó như mình. Nhờ
nhận thức quyền bình đẳng căn bản, chúng ta sẽ phát tâm
đồng thể đại bi chân chánh.
Hiển
nhiên, trí huệ là thành phần hỗ trợ và sẽ thẩm định
mức độ sâu rộng của tâm từ bi. Đạo Phật bàn về ba
loại tâm từ bi chủ yếu. Thứ nhất, tâm từ bi không được
trí huệ hỗ trợ. Thứ hai, tâm từ bi được sự hỗ trợ
của trí huệ thấy rõ chân tánh vô thường giả tạm của
chúng sanh. Thứ ba, với trí huệ thấu suốt chân tánh cứu
cánh (tánh Không thật có) của vạn vật, tâm từ bi vô ngã
được rải khắp muôn loài. Dù cần phát khởi và hành trì
tâm từ bi chân chánh và tâm nguyện lợi tha vô lượng, nhưng
tất cả chúng ta vốn sẵn có những tiềm năng đó.
Theo
những điểm căn bản khác biệt với lý thuyết Phật tánh,
một trong những niềm tin căn bản của tôi là ngoài việc
có sẵn tiềm năng căn bản của tâm từ bi, bản chất căn
bản của nhân loại và tất cả chúng sanh là hiền hòa. Điển
hình, hãy xem xét tình thương dưỡng dục của người khác
và cảm giác thọ nhận của mình từ sơ sanh đến lúc chết.
Ngoài ra, khi có cảm giác từ bi, chúng ta thấy nó ảnh hưởng
tự nhiên ra sao ngay trong nội tâm. Hơn nữa, nơi hành vi và
tâm niệm, càng từ bi thánh thiện thì dường như càng thích
hợp với cấu trúc thân thể về việc ảnh hưởng đến sức
khỏe và niềm hạnh phúc, v.v... Lại nữa, phải ghi nhận hậu
quả xấu cho sức khỏe ra sao nếu làm ngược lại điều đó.
Do đó, tôi thiết nghĩ chúng ta có thể suy luận rằng tánh
chất căn bản của con người là hiền hòa. Nếu như thế,
việc cố gắng sống phù hợp nhiều hơn với tánh chất hiền
hòa căn bản này là điều hữu lý.
Tuy
nhiên, chúng ta nhận thấy có rất nhiều sự xung đột căng
thẳng trong nội tâm, gia đình, xã hội, quốc gia, quốc tế,
v.v... mỗi khi giao thiệp với những người khác. Làm sao giải
thích những việc đó?
Tôi
thiết nghĩ, một trong những nhân duyên đưa đến sự xung
đột đó là tri kiến của chúng ta. Cũng nhờ trí thông minh
mà chúng ta tự tìm ra cách khắc phục những sự xung đột
đó. Lòng từ bi là điều kiện tất yếu khi dùng kiến thức
con người để khắc phục những sự xung đột do nó tạo
ra. Tôi thiết nghĩ, nếu nhìn vào thực tại thì thật rõ rằng
ngay trong nội tâm, cách khắc phục sự xung đột hay nhất
là tinh thần hòa hợp; tinh thần đó liên hệ với tâm từ
bi.
Một
phương diện của tâm từ bi là tôn trọng quyền lợi và quan
điểm của người khác. Đó là nền tảng căn bản của sự
hòa hợp. Tôi nghĩ rằng dù có biết đến hay không, điều
kiện tất yếu của tinh thần hòa hợp vốn dựa vào lòng
từ bi rộng sâu. Do đó, vì tánh chất căn bản của con người
là hiền hòa, nên dù có tạo bao nghiệp xấu, nhưng đáp án
cứu cánh vẫn quay về tình thương căn bản của nhân loại.
Thế nên, tình thương nhân loại (lòng từ bi) vừa là điều
kiện tất yếu của tôn giáo, vừa là điều thiết yếu trong
cuộc sống hằng ngày.
Hiện
tại, thật quí hóa nếu nhìn hạnh nhẫn nhục theo ngữ cảnh
đó; nghĩa là, dù khó đâu, việc hành hạnh nhẫn nhục là
điều quý báu.
Ngài
Tịch Thiên viết bài kệ đầu tiên trong phẩm Nhẫn Nhục
Ba La Mật:
1.
Công đức làm các điều lành, như cung kính Như Lai, cùng hành
hạnh bố thí, suốt trăm ngàn kiếp sẽ bị thiêu đốt chỉ
do niệm sân.
Ngụ
ý của bài kệ nói rằng để có khả năng tu hành thành tựu
hạnh nhẫn nhục, điều kiện tiên quyết là phải có ý chí
dũng mãnh tinh tấn, vì càng thiết tha tinh tấn mạnh mẽ chừng
nào thì càng có khả năng chịu đựng bền bỉ những nghịch
cảnh khó khăn sẽ gặp trên bước đường tu tập. Ngoài ra,
hành giả cũng sẽ sẵn sàng tình nguyện chấp nhận những
khó khăn cần thiết trên đường đạo.
Kế
đến, bước sơ khởi là phát tâm thiết tha tu hành mạnh mẽ;
để được như thế, điều thiết yếu là phải quán chiếu
về tánh chất tiêu cực của tâm sân hận cũng như sự ảnh
hưởng tích cực của tâm nhẫn nhục.
Bài
kệ trên nói rằng dù chỉ khởi tâm sân hận trong một khoảnh
khắc cũng có tiềm năng hủy hoại công đức tích lũy trong
ngàn kiếp. Quyển Nhập Trung Luận của ngài Nguyệt Xứng (Chandrakirti)
viết rằng một niệm sân hận trong khoảng sát na sẽ hủy
hoại bao công đức tích lũy trong trăm kiếp. Sự khác biệt
giữa hai quyển luận này được giải thích theo quan điểm
về đối tượng của người khởi tâm sân hận. Nếu đối
tượng bị sân hận là vị Bồ Tát hàng thượng thủ và người
khởi tâm sân hận không phải là Bồ Tát, thì công đức sẽ
bị hủy hoại nhiều hơn. Ngược lại, nếu Bồ Tát này tức
giận Bồ Tát khác thì công đức có lẽ sẽ bị hủy hoại
ít hơn.
Tuy
nhiên, phải xác định loại công đức nào được tích lũy
trong nhiều kiếp rồi bị một niệm sân hận hủy hoại. Quyển
Nhập Bồ Tát Học Luận và Nhập Trung Luận đều đồng ý
rằng công đức tích lũy từ trí huệ chân chánh ít bị hủy
hoại hơn công đức tích lũy từ phương tiện thiện xảo.
Điển hình, những công đức tích lũy từ trí huệ như phát
khởi trí huệ hiểu rõ tánh chất cứu cánh của hiện thực
(trí huệ liễu giải tánh Không), trí huệ đạt được từ
thiền định, và công đức hành thiền quán vẫn nằm ngoài
sự hủy hoại của tâm sân hận. Ngược lại, công đức tích
lũy từ những phương tiện thiện xảo như hành hạnh bố
thí hay trì giới có thể bị tâm sân thiêu hủy.
Nơi
đây nhấn mạnh về chữ 'nhiều kiếp', tức là cách tính
thời gian đặc biệt của Phật giáo dựa vào triết học A
Tỳ Đạt Ma; 'nhiều kiếp' nghĩa là một 'đại kiếp', tức
là bao gồm hai mươi trung kiếp. Điều này cũng liên hệ với
vũ trụ quan Phật giáo, tức là lý thuyết giải thích về
quá trình biến chuyển của vũ trụ. Ví dụ, theo vũ trụ quan
của hệ A Tỳ Đạt Ma, chúng ta phân chia giai đoạn biến chuyển
làm bốn phần: Thành, trụ, hoại, không. Những giai đoạn
này được chia chẻ phù hợp với hệ thống chính xác. Điểm
thích thú là so sánh lý thuyết vũ trụ học hiện đại về
lý 'vụ nổ tạo ra vũ trụ (Big Bang)'; lý thuyết đó giải
thích quá trình biến chuyển của vũ trụ vào khoảng từ mười
lăm đến hai mươi tỉ năm.
Theo
bài kệ này, công đức được trí huệ thấu suốt chân tánh
của hiện thực (trí huệ liễu giải tánh Không) và bất cứ
công đức nào dựa vào sự chứng đắc thiền định Xa Ma
Tha (tĩnh lự hay nhất tâm) hỗ trợ vốn vượt ngoài phạm
vi hủy hoại của tâm sân hận. Do đó, chúng ta thấy rõ giá
trị của thiền định Xa Ma Tha và trí huệ thấu suốt tánh
Không.
2.
Không có gì tiêu cực bằng sân hận; không có gì kiên cố
bằng nhẫn nhục. Do đó, bằng mọi cách, tôi phải cố gắng
thiền quán về hạnh nhẫn nhục.
Nói
chung, có nhiều phiền não như kiêu căng, ngạo mạn, ganh tỵ,
tham lam, biên kiến, v.v... Song, trong các phiền não đó, sân
hận là tiêu cực nhất, vì có hai lý do.
Thứ
nhất, sân hận là chướng ngại vật lớn nhất cho hành giả
phát tâm Bồ Đề lợi tha từ bi.
Thứ
hai, khi sân hận phát khởi, nó có khả năng hủy hoại công
đức và tâm an lạc.
Theo
tâm lý học Phật giáo, sân hận là một trong sáu phiền não
chính. Tiếng Tây Tạng viết chữ 'sân hận' là 'zhe sdang',
và được dịch sang tiếng Anh là 'nóng giận' hay 'sân hận'.
Tuy nhiên, tôi cảm thấy phải dịch là 'sân hận', vì theo
nghĩa 'nóng giận' của tiếng Anh thì trong vài hoàn cảnh đặc
biệt, nó có thể là tích cực. Điều này xảy ra khi nóng
giận được lòng từ bi kích thích, hoặc nó hiện hành như
chất xúc tác cho hành vi lành. Trong những trường hợp hiếm
hoi đó, nóng giận có thể tốt; ngược lại, sân hận hoàn
toàn tiêu cực.
Vì
thế, chớ dịch chữ 'zhe sdang' là 'sân hận' theo ngữ cảnh
của Mật Thừa. Đôi khi chúng ta nghe câu 'dùng sân hận để
tu đạo'; cách dịch đó sai lầm. Trong ngữ cảnh này, 'sân
hận' không phải là chữ chính xác; phải dùng chữ 'nóng giận',
tức là 'dùng nóng giận để tu đạo'. Do đó, chữ 'zhe sdang'
có thể dịch là 'nóng giận' hay 'sân hận', nhưng dùng chữ
'sân hận' thì hay hơn, nếu bàn về phiền não.
Hai
câu cuối viết: 'Do đó, tôi phải cố gắng bằng mọi cách
để thiền quán về hạnh nhẫn nhục'.
Vì
mục đích hỗ trợ cho hạnh nhẫn nhục, điều thiết yếu
là phải có khả năng đề kháng lực của nóng giận và sân
hận, mà đặc biệt là sân hận. Phải dùng mọi cách để
phát triển duyên lành với hạnh nhẫn nhục. Ngoài việc áp
dụng cách đó trong cuộc sống hiện tại, phải quán tưởng
hoàn cảnh, rồi xem xét sự phản ứng ra sao đối với hoàn
cảnh đó. Phải thường cố gắng giải tỏa sân hận và phát
triển khả năng nhẫn nhục.
3.
Tâm tôi sẽ không được an lạc nếu nó vẫn nuôi dưỡng
sân hận phiền muộn. Tôi sẽ không tìm được niềm vui, vì
hay bị bất an và mất ngủ.
Câu
này trình bày hậu quả tai hại hiện thời của sân hận.
Ví dụ, ngay khi sân hận khởi lên mạnh mẽ, nó hoàn toàn
khống chế chúng ta và hủy hoại tâm an lạc tự tại. Khi
trú bên trong, nó khiến chúng ta cảm thấy bồn chồn bực
bội, rồi mất ăn, mất ngủ, v.v...
Nói
chung, tôi tin rằng mục đích cuộc sống của chúng ta là được
hạnh phúc trọn vẹn. Theo quan điểm đạo Phật, khi bàn về
bốn yếu tố mang lại niềm hạnh phúc trọn vẹn, hai loại
đầu tiên đi liền với niềm hạnh phúc tạm thời ở thế
gian, mà không có ý nguyện tu đạo giác ngộ giải thoát cứu
cánh. Để hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc đó, chìa khóa
chính là tâm niệm. Tuy nhiên, khi hưởng niềm vui đó, theo
quan niệm phổ thông, chúng ta lầm xem những yếu tố phụ
trợ như chính yếu; điển hình, sức khỏe tráng kiện được
xem như một trong những yếu tố tất yếu cho cuộc sống hạnh
phúc. Một yếu tố khác là tài sản cá nhân. Theo quan điểm
thông thường, chúng ta xem chúng như cội nguồn của niềm
hạnh phúc. Yếu tố thứ ba là bạn bè. Chúng ta thường xem
rằng để hưởng hạnh phúc đầy đủ, cần có bạn bè để
tin tưởng và cảm thông.
Trong
cuộc sống, chúng được xem là cội nguồn của niềm hạnh
phúc. Tuy nhiên, để dùng chúng hoàn toàn vào mục tiêu hưởng
thụ niềm hạnh phúc mỹ mãn, tâm niệm đóng vai trò quan trọng.
Nếu sân hận nổi lên, nó sẽ hại sức khỏe, tức là hủy
hoại một nhân duyên của cuộc sống. Dẫu có tài sản kếch
sù, nhưng trong một giây phút bực dọc, chúng ta cảm thấy
muốn phá bỏ hết. Vì vậy, tài sản chưa đảm bảo mang lại
niềm hạnh phúc đang tìm cầu. Cũng vậy, khi chúng ta nổi
giận, dẫu người bạn thân nhất cũng dường như khó chịu
'lạnh lùng' tránh xa.
Điều
này, chứng tỏ tâm niệm rất quan trọng trong việc quyết
định chúng ta có đạt được niềm hạnh phúc chăng. Thế
nên, hãy tạm gác bàn về việc tu hành; ngày ngày, tâm càng
an lạc thanh thản bao nhiêu thì cuộc sống càng hạnh phúc
bấy nhiêu.
Song,
khi bàn về tâm an lạc thanh thản, chúng ta chớ lầm lẫn với
tâm niệm vô ký, lạnh lùng, và hoàn toàn vô tri, bất giác,
rỗng không. Đó chẳng phải nghĩa là tâm an lạc bình thản.
Lòng
từ bi thiện cảm là cội gốc của tâm an lạc bình thản
chân thật; tâm này liên hệ với tánh giác sáng suốt. Nếu
nội tâm rối loạn và chưa được điều phục, thì dẫu đủ
mọi điều kiện tiện nghi bên ngoài, nhưng chúng vẫn không
bao giờ mang lại niềm hạnh phúc an lạc mong muốn. Ngược
lại, nếu nội tâm thanh tịnh an lạc, thì dẫu có thiếu nhiều
tiện nghi vật chất thiết yếu, nhưng chúng ta cũng có thể
hưởng niềm hạnh phúc chân thật.
Nếu
xem nguyên nhân sân hận phát sanh, nói chung nó khởi lên khi
chúng ta bị tổn thương hay cảm thấy bị người khác đối
xử tệ hại, ngược lại với những điều mong muốn. Trong
khoảnh khắc đó, nếu xét rõ cách nó phát sanh, chúng ta xem
nó đến như người bạn thân bảo vệ và giúp mình chống
lại hoặc trả thù kẻ đã gây tổn hại và phiền muộn cho
mình. Vì vậy, sân hận nổi lên như áo giáp hay người bảo
vệ. Song, trong thực tế, đó chỉ là ảo ảnh, vì nó là vọng
tưởng.
Trong
quyển Nhập Trung Luận, ngài Nguyệt Xứng bảo rằng có thể
biện hộ cho việc dùng sức mạnh để trả thù sức mạnh
nếu điều đó có thể giúp ích, hay ngăn ngừa hoặc giảm
thiểu mối tổn hại. Song, chẳng phải như thế, vì những
thương tích trên thân thể hay sự tổn hại vật chất đã
xảy ra. Do đó, trả thù sẽ không có cách nào làm giảm bớt
hay ngăn ngừa sự tổn hại hoặc thương tích đó.
Thay
vì hành hạnh nhẫn nhục, nhưng lại phản ứng tiêu cực với
tình cảnh đó, thì không những mất đi lợi ích thực tiễn
mà còn gieo tâm niệm xấu xa, khiến bị đọa lạc trong tương
lai. Theo quan điểm đạo Phật, trong tương lai, cá nhân phải
tự chịu hậu quả về việc trả thù. Vì vậy, tâm thù hận
đánh mất lợi ích thực tiễn và gây tai hại dài lâu.
Song,
nếu bị đối xử bất công tệ bạc và nếu vấn đề đó
chưa được giải quyết, thì kẻ ác có thể chịu hậu quả
cực kỳ thảm khốc sau này. Trong hoàn cảnh đó, cần phản
kháng mạnh mẽ với lập trường từ bi chứ không thù hận
kẻ ác. Một trong những giới Bồ Tát là nếu cần thiết,
phải phản kháng mạnh mẽ, bằng không thì bị phạm giới.
Ngoài
ra, như quyển Nhập Trung Luận đưa ra, khởi tâm sân hận dẫn
đến việc tái sanh vào những cõi thấp hèn trong vị lai; nếu
lửa sân cháy bừng trong phút chốc, dẫu cố gắng giữ nét
mặt tươi vui đến đâu, nhưng nó vẫn lộ vẻ xấu xa; nó
tỏa ra làn sóng hằn học mà mọi người xung quanh sẽ cảm
nhận được; dường như nước sôi tuôn trào trên thân của
kẻ đó. Trong giây phút đó, ngoài con người ra, súc vật cũng
cố tránh kẻ đó.
Sân
hận đưa đến quả báo nhãn tiền; nó khiến nét mặt thay
đổi xấu xa. Ngoài ra, khi sân hận bộc phát dữ dội, nó
khiến khả năng phán đoán đúng sai hay nhất và nhận định
hậu quả tốt xấu tạm thời cùng dài lâu của bộ não ngưng
hoạt động; con người hành động như kẻ điên cuồng. Đó
là những hậu quả tai hại của sân hận. Khi nghĩ về điều
này, điều thiết yếu là phải tránh khởi tâm tình bồng
bột đó.
Dẫu
có bạc triệu, học thức, luật pháp, vũ khí hạt nhân hay
hệ thống quốc phòng tinh xảo cũng không bảo vệ hay bảo
đảm chúng ta tránh khỏi quả báo xấu của sân hận.
Chỉ
có nhẫn nhục mới bảo vệ và là điểm tựa cho chúng ta
tránh quả xấu của sân hận.
Thiền
Quán.
Hiện
tại, chúng ta hãy tạm dừng trong năm phút để mặc tĩnh thiền
quán về những gì đã bàn luận vừa qua.
Hỏi:
Vào những đêm thuyết giảng vừa rồi, Ngài dạy rằng bản
chất tâm tánh của chúng ta vốn từ bi hiền hòa?
Đáp:
Đúng vậy.
Hỏi:
Thế thì sân hận đến từ đâu?
Đáp:
Câu hỏi này cần bàn luận trong nhiều giờ. Theo quan điểm
đạo Phật, đáp án đơn giản là nó có từ đời vô thủy.
Giải thích rộng hơn, đạo Phật thuyết rằng có nhiều tâm
thức khác nhau. Tâm thức vi tế nhất được xem là cội gốc
của đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Tâm thức vi tế này
là tâm ảo huyễn (pháp hữu vi) và phát sinh từ nhiều nhân
duyên. Đạo Phật kết luận rằng vật chất không thể sản
sanh tâm thức đó. Vì vậy, cách duy nhất là chấp nhận có
dòng tâm thức chuyển biến liên tục. Đó là nền tảng của
thuyết tái sanh.
Khi
có tâm thức, vô minh và sân hận cũng tự nhiên phát sanh.
Những tâm tình xấu xa hay lành thiện vốn phát sanh từ đời
vô thủy. Tất cả đều là phần tử của tâm niệm. Song,
những tâm tình xấu xa lại dựa vào vô minh, nhưng vô minh
nào có cội rễ vững chắc. Dẫu mạnh mẽ đến đâu, không
một tâm tình xấu xa nào có cội gốc kiên cố. Ngược lại,
những tâm tình lành thiện như từ bi hay trí huệ vốn có
nền tảng vững chắc, vì chúng dựa vào lý trí. Hiển nhiên,
phiền não như sân hận không có điều đó.
Tánh
chất căn bản của tâm thức vi tế vốn không lành không ác.
Thế nên, có thể thanh tịnh hóa và loại trừ những tâm tình
xấu xa. Tánh chất căn bản ấy chính là Phật tánh. Sân hận
và những tâm tình xấu xa vốn phát sanh từ vô thủy, nhưng
có thể chuyển hóa chúng. Điều chúng ta tin chắc là tâm thức
vi tế không có điểm khởi đầu hay kết thúc.
Hỏi:
Làm sao xem xét được lúc nào cần phải phản kháng quyết
liệt? Xin hãy giải bày phản ứng của Ngài về việc người
Tây Tạng bị diệt chủng.
Đáp:
Một trong những lý do cần phản kháng quyết liệt với kẻ
hại mình là vì nếu bỏ qua, điều nguy hiểm là kẻ đó sẽ
có thói quen tạo nghiệp xấu, rồi sẽ khiến cho họ bị đọa
lạc và mất mát dài lâu. Do đó, vì lòng từ bi thương xót
kẻ đó, điều thiết yếu là cần phản kháng mạnh mẽ. Tóm
lại, do thương và hiểu mới hành động như thế.
Khi
trực diện với Trung Cộng, chúng tôi luôn tránh khởi những
tâm tình xấu xa và cẩn trọng không để chúng khống chế.
Do đó, nếu sân hận dường như nổi lên, chúng tôi cố gắng
kiềm chế và xả bỏ tâm niệm đó, bên cạnh khởi lòng từ
bi thương xót người Tàu.
Theo
quan điểm căn bản, một trong những lý do tại sao phải khởi
lòng từ bi thương xót những kẻ ác hung bạo, vì họ đang
gây tội lỗi; trong lúc gieo nhân, họ tích lũy nhân duyên sẽ
dẫn đến hậu quả khôn lường về sau.
Chúng
tôi cố gắng trực diện quán chiếu như thế với người
Tàu. Vâng! Quý vị nói đúng; đó là thí điểm trực diện
với thù hận và hung bạo. Đồng thời, chúng tôi cũng không
quên giữ lập trường chính nghĩa và phản kháng mạnh mẽ
nếu cần.
Hỏi:
Thông thường, khi đứng trước sân hận, dù không bực mình,
nhưng dường như khiến người khác giận dữ hơn. Làm sao
giải quyết vấn đề này?
Đáp:
Tôi nghĩ rằng đây là câu hỏi rất hay. Trong trường hợp
đó, chúng ta phải nhanh chóng quyết đoán và nhạy bén về
bối cảnh thực tế. Quý vị nói đúng; trong vài trường hợp,
dù không tức giận, nhưng do phản kháng mạnh mẽ, khiến cho
người khác giận nhiều hơn. Nếu như vậy, có lẽ nên bỏ
qua việc đó mà không phản kháng mạnh mẽ.
Tuy
nhiên, ở đây quý vị phải xem xét hậu quả phản ứng của
mình về tình cảnh đó. Nếu kẻ ác cứ tiếp tục làm theo
thói xấu để rồi sẽ nhận lấy quả xấu trong tương lai
dài lâu, thì có thể cần phản kháng mạnh mẽ. Tuy nhiên,
nếu vì phản kháng quyết liệt khiến cho hoàn cảnh căng thẳng
và họ sân hận thêm, thì tốt nhất là bỏ qua. Thế nên,
quý vị phải nhạy bén về mỗi trường hợp đặc biệt.
Đây
là một trong những giáo lý của đạo Phật. Về cá nhân,
điều lý tưởng là ít có quan hệ, ít có nhiệm vụ, ít có
việc cần lo, v.v... Tuy nhiên, liên quan đến quyền lợi chung
của cộng đồng, quý vị phải dấn thân và hành sự càng
nhiều càng tốt.
Hỏi:
Tại sao một niệm sân hủy hoại nhiều công đức, thay vì
chỉ một phần công đức? Phải chăng cần nhiều kiếp tích
lũy công đức để được giây phút hạnh phúc, còn sân hận
nào để chúng ta hưởng giây phút đó?
Đáp:
Thật khó trả lời và giải thích tại sao như thế. Có lẽ
đối với những việc đó, nhà Phật gọi là 'hiện tượng
(pháp) cực kỳ bí ẩn'. Nói chung, khi bàn về bản chất hiện
thực và đối tượng quán sát, đạo Phật chia ra làm ba loại.
Một loại bao gồm tất cả sự việc mà chúng ta cảm nhận
rõ ràng. Kế đến, loại thứ hai là những sự việc dường
như không rõ ràng, nhưng quý vị có thể biết nhờ cảm giác
và suy luận. Điển hình, trí huệ thấu suốt bản chất của
tánh Không; điều này tuy không rõ ràng, nhưng nhờ dùng căn
thức suy luận, quý vị có thể cảm nhận về tánh Không của
muôn pháp. Cũng vậy, các pháp vô thường luôn luôn thay đổi
là những điều quý vị có thể hiểu rõ nhờ suy luận. Loại
thứ ba của hiện tượng (pháp trần) được gọi theo danh
từ chuyên môn là 'những hiện tượng (pháp) cực kỳ bí ẩn'.
Liên
quan về câu hỏi như một niệm tức giận một vị Bồ Tát
có khả năng hủy hoại công đức được tích lũy trong bao
kiếp. Đó là những vấn đề không thể hiểu theo luận lý
lô gích hay suy luận, vì chúng không rõ ràng. Chỉ nhờ dựa
vào kinh điển chứng thực mà chúng ta mới chấp nhận chúng.
Tuy nhiên, chỉ những kinh điển có những điểm thiết yếu
đặc biệt mới có đủ thẩm quyền chứng thực.
Nơi
đây, điều quan trọng là làm sao người Phật tử gieo duyên
lành với kinh điển, nhất là những bộ kinh có thẩm quyền.
Theo truyền thống, bộ phái Tỳ Bà Xa (Vaibhashika) duy trì quan
điểm rằng kinh điển là những lời dạy chắc thật của
Phật Thích Ca Mâu Ni, nên có thể chấp nhận giá trị chân
thật của chúng. Vì vậy, các luận sư thuộc bộ phái đó
không thể phân biệt giữa kinh điển Quyền [i] và Thật [ii]
. Tuy nhiên, tất cả bộ phái Đại Thừa duy trì quan điểm
rằng phải có khả năng phân biệt nhiều loại kinh điển
khác nhau. Có thể chấp nhận vài loại kinh điển 'Chân Thật'
theo ngôn từ và định nghĩa. Ngược lại, đối với những
loại kinh điển 'Quyền Thừa', không thể được chấp nhận
theo ngôn từ, mà cần sự diễn dịch nhiều hơn.
Thực
tế, làm sao xác định được một loại kinh điển đặc thù
nào là kinh điển 'Chân Thật (có định nghĩa và ngôn từ
rõ ràng)? Nếu điều này cần tham khảo với những bộ kinh
khác, thì tiến trình đó sẽ diễn biến mãi mãi, vì cũng
cần tham khảo thêm những bộ kinh có thẩm quyền khác, v.v...
Bàn về cứu cánh, thẩm quyền dựa vào lý trí của con người.
Nhờ lý trí, chúng ta định lập sự khác biệt giữa kinh điển
'Chân Thật' và kinh điển 'Quyền Thừa (cần sự diễn dịch)'.
Nếu
như thế, làm sao chúng ta xác định giá trị của bộ kinh
bàn về hiện tượng thuộc loại thứ ba (hiện tượng cực
kỳ bí ẩn)?
Như
đã bàn, điều duy nhất là dựa vào thẩm quyền của kinh
điển, hay những lời chứng thực của đức Phật để chúng
ta chấp nhận giá trị của chúng. Để làm việc đó, điều
chủ yếu là phải có niềm tin vào vị thầy đó, tức là
đức Phật. Lại nữa, tuy không d?a vào kinh điển, nhưng xem
xét lời giảng của đức Phật bàn luận về hiện tượng,
bao gồm sự trình bày về đường đạo và bản chất cứu
cánh của hiện thực, v.v... mà chúng ta có thể hiểu rõ qua
lý trí và suy luận. Một khi đã xác định giá trị quan điểm
của Ngài, quý vị mới phát triển niềm tin vào đấng đạo
sư đó. Ngoài ra, chúng ta phải xem xét những kinh điển đặc
biệt trình bày về những hiện tượng cực kỳ bí ẩn đó
để đảm bảo rằng không có điều tương phản ngay trong
bộ kinh đó.
Nhờ
kết hợp những nhân duyên đó, chúng ta nhận thấy rằng đức
Phật vốn là vị đạo sư đáng tin cậy và trong kinh điển
không có sự mâu thuẫn. Kế đến, quý vị có thể chấp nhận
sự chứng thực của đức Phật về những đề tài được
đưa ra.
Hỏi:
Làm sao dạy hạnh nhẫn nhục cho con cái? Khi chúng sân hận,
phải đối phó ra sao?
Đáp:
Về câu hỏi thứ nhất, thật khó lòng dùng lời giải thích
cho trẻ em về giá trị và tầm quan trọng của hạnh nhẫn
nhục. Điểm thiết yếu nơi đây là phải làm gương tốt
cho con cái. Nếu quý vị thường cáu kỉnh với sự trêu chọc
nhỏ nhặt, nhưng lại dạy con cái: 'Con phải nhẫn nhục, vì
nhẫn nhục rất quan trọng', thì lời này hoàn toàn mất hiệu
quả.
Về
câu hỏi thứ hai, điều này đối với tôi thật khó nói.
Tuy nhiên, nhiều lý lẽ tổng quát được trình bày trong quyển
luận này có thể chỉ dẫn quý vị làm thế nào để ứng
dụng và phát triển hạnh nhẫn nhục ngay trong những hoàn
cảnh đó.
Hỏi:
Có thể dùng phương pháp nào để giảm bớt sân hận khi nó
vừa phát sanh chăng?
Đáp:
Điều cần thiết nơi đây là phải xem xét hoàn cảnh và nhân
duyên đưa đến sự phát sanh sân hận trong khoảnh khắc đó,
rồi theo đó mà phản ứng và giải quyết vấn đề. Tuy nhiên,
điều này cũng liên hệ đến cách tu của cá nhân trong cuộc
sống hằng ngày (sẽ bàn đến đề mục này vào phần cuối
của quyển sách).
Hỏi:
Nếu không có hình thức cực đoan của nhẫn nhục như mềm
dẻo, làm sao Bồ Tát phản kháng mạnh mẽ?
Đáp:
Có sự hiểu lầm đôi chút về định nghĩa của Bồ Tát.
Chớ có ý niệm rằng Bồ Tát là người rất yếu kém. Thật
ra, có thể xem Bồ Tát như người rất can cường. Đối với
chí huớng, chư Bồ Tát rất cứng rắn và kiên quyết. Trong
cuộc sống, nếu có người không nhẫn nổi khi bị dẫm chân
và bị khinh bỉ, mà họ luôn phản ứng cứng rắn ngay lập
tức, chúng ta xem họ như những người có bản tánh can cường.
Nếu như thế, chư Bồ Tát phát nguyện quyết chí rằng sẽ
đương đầu với những tâm niệm xấu xa của chúng sanh. Điều
này dường như hơi tự phụ, nhưng dĩ nhiên vốn dựa vào
lý lẽ đúng đắn. Loại can đảm này có vẻ hơi kiêu ngạo,
nhưng không theo hướng xấu xa.
Nếu
đọc những bài phát nguyện của chư Bồ Tát như chương 'Hồi
Hướng' thứ mười của quyển Nhập Bồ Tát Hạnh Luận, chúng
ta nhận thấy chư Bồ Tát có nhiều lời nguyện và quan điểm
sống mà trong thực tế khó lòng hiểu rõ. Vì vậy, tôi xem
các ngài như những dũng sĩ can cường dũng mãnh, mà không
hèn yếu. Chắc chắn, các ngài có khả năng dùng lực phản
kháng quyết liệt khi cần.
Hỏi:
Khi chúng ta hồi hướng công đức lành nhờ sự tu hành xa
xưa, tâm sân hận hiện thời có hủy hoại những công đức
đó chăng?
Đáp:
Nếu việc hồi hướng của quý vị được ước nguyện chứng
đắc giải thoát hay tâm Bồ Đề, tâm lợi tha, trí huệ thấu
suốt tánh Không của muôn pháp hỗ trợ mạnh mẽ, thì dĩ
nhiên công đức đó sẽ vượt ngoài phạm vi bị hủy hoại
và sẽ được bảo vệ.
Hồi
hướng công đức là pháp môn quan trọng của đạo Phật.
Trong quyển Hiện Quán Trang Nghiêm Luận, khi trình bày về cách
thức hồi hướng chân thật, ngài Di Lặc bàn về tầm quan
trọng của tâm Bồ Đề kiên cố. Khi hồi hướng công đức,
quý vị phải có tâm Bồ Đề kiên cố, vì hành hạnh đó
để mang lại lợi ích cho chúng sanh. Ngoài ra, khi hồi hướng
công đức, quý vị phải có sự nhận thức rõ ràng về tánh
Không của các pháp hay tánh chất huyễn hóa của chúng. Một
khi đã hồi hướng, thì công đức đó được 'Ấn chứng'
qua sự nhận thức rằng công đức đó vốn có bản chất
của tánh Không; hạnh hồi hướng và đối tượng của hạnh
đó cũng có bản chất của tánh Không. Điều này được gọi
là 'ba pháp ấn'. Vì thế, nhờ những hạnh đó mà quý vị
giữ gìn được công đức.
Để
việc tu hành được hữu hiệu và kiên cố, chú tâm vào một
góc độ của việc hành trì cũng chưa đủ. Điều thiết yếu
là phải có nhiều nhân duyên hỗ trợ như trí huệ, hồi hướng,
v.v... Khi tu theo Đại Thừa, điều này đặc biệt rất đúng.