Ngày thứ
ba. Buổi thứ hai.
76.
Nếu có ai cảm thấy vui vẻ nhờ tán thán (kẻ thù của tôi)
như người giỏi nhất, thì tại sao (tâm) ngươi không lại
tán thán kẻ đó để được hoan hỷ?
Đã
biết cách tránh phản ứng tiêu cực về sự tổn hại trực
tiếp đến cá nhân, bạn bè, thân quyến, hiện tại ngài Tịch
Thiên bàn về việc tránh nóng giận khi nghe ai đó tán thán
người bị gọi là 'Kẻ thù' đáng ghét. Thông thường, chúng
ta có xu hướng tức giận và chán ghét nghe lời đó. Vì vậy,
ngài Tịch Thiên dạy rằng chớ có thái độ như thế. Tức
giận khi nghe người khác khen ngợi kẻ thù của mình vốn
hoàn toàn vô lý, vì nếu xem xét kỹ càng, khi ai đó khen ngợi
người mình ghét, thì ít nhất trong tâm của họ có sự hài
lòng về kẻ đó; phải hoan hỷ về việc này vì kẻ thù (của
mình) đã khiến cho những người khác được hoan hỷ, vui
vẻ, và hài lòng. Nếu có khả năng, chúng ta cũng nên tùy
hỷ tán thán thay vì cố tình ngăn cản điều đó; đó là
vai trò quan trọng của niềm hoan hỷ. Những ai giải quyết
vấn đề như thế sẽ bớt tâm ganh ghét, sẽ thật sự hạnh
phúc, sẽ dễ được kết thân, và sẽ giúp người khác thay
đổi thái độ đối với mình.
77.
Đức Thế Tôn không răn cấm niềm hoan hỷ đó, vì nó là
nguồn sống của hạnh phúc và là phương pháp nhiếp thọ
người khác hay nhất.
78.
Kẻ thù có vui nhờ được tán thán. Nếu không muốn (họ
có được) niềm vui này, thì phải ngưng trả lương cho (công
nhân của quý vị), nhưng nào tránh được quả báo xấu trong
hiện tại và tương lai.
Nơi
đây, ngài Tịch Thiên dự đoán thêm lời biện hộ rằng ai
đó sẽ nói: 'Khi thấy kẻ thù được vui vì được khen ngợi,
dĩ nhiên tôi phải bất bình chán ghét lời khen đó'.
Ngài
Tịch Thiên bảo rằng nếu lời lẽ đó là nền tảng của
sự tức giận, thì điều này có nghĩa rằng những gì trái
ý vốn là sự vui vẻ của người khác. Nếu như thế, tại
sao chúng ta lại làm lụng cực nhọc để khiến người thân
được vui?
79.
Khi có ai bàn về phẩm hạnh của tôi, tôi cũng muốn họ được
hạnh phúc. Ngược lại, khi họ nói về phẩm hạnh của kẻ
khác, tôi không muốn họ được vui.
80.
Đã phát tâm Bồ Đề rằng nguyện cho tất cả chúng sanh được
hạnh phúc, thì tại sao tôi lại nóng giận nếu tự họ tìm
thấy nguồn hạnh phúc?
Trong
hai bài kệ trên, ngài Tịch Thiên giải thích những điểm
mâu thuẩn nội tại. Ngài ghi nhận rằng khi được ai đó
trực tiếp khen ngợi, chúng ta không những cảm thấy sung sướng
mà còn mong muốn họ được như thế. Tuy nhiên, lúc nghe họ
tán thán kẻ khác, thái độ của chúng ta đối với họ hoàn
toàn mâu thuẩn: Không muốn họ được vui. Kết quả, chúng
ta đánh mất niềm vui và sự an lạc nội tại.
Đặc
biệt, là hành giả Bồ Tát đã phát tâm hy sinh cuộc đời
để mang lại niềm vui cho chúng sanh và hướng dẫn họ đạt
đến cảnh giới hạnh phúc cứu cánh, mà còn ganh ghét niềm
vui của họ thì hoàn toàn sai trái. Thật vậy, phải tri ơn
họ nếu họ tự tìm lấy đôi chút hạnh phúc mà không dựa
vào sự hỗ trợ của chúng ta.
81.
Nếu nguyện cho tất cả chúng sanh mau chóng thành Phật và
được tôn sùng khắp ba cõi, thì tại sao tôi lại buồn bã
khi thấy họ được cung kính?
82.
Lẽ ra tôi phải lo lắng chu cấp cho thân bằng quyến thuộc,
nhưng họ tự có khả năng tìm nghề nghiệp sinh sống, thì
có phải đó là điều đáng vui mừng chứ đâu đáng buồn
phiền?
Ngài
Tịch Thiên tiếp tục nói ra rằng hành giả Bồ Tát đã phát
nguyện cứu độ tất cả chúng sanh đến quả vị Phật tối
thượng đáng được chúng sanh trong ba cõi tôn kính. Nếu như
thế, làm sao hành giả đó lại tự dằn vặt khi biết người
khác được thành công, hạnh phúc? Kế đến, Ngài đưa ra
một ví dụ rằng giả sử chúng ta có trách nhiệm lo lắng
về mặt vật chất cho người nào đó, nhưng họ lại có khả
năng sinh sống bằng nghề nghiệp, thì điều này giúp giảm
bớt gánh nặng của chúng ta. Vì vậy, trong hoàn cảnh đó,
chúng ta phải cảm thấy tri ơn và vui mừng rằng họ có khả
năng tự lập làm việc sinh sống. Cũng vậy, đối với hành
giả đã phát tâm Bồ Đề (thường phát nguyện hành trì hạnh
lợi tha), phải nhớ rằng khi nói 'tất cả chúng sanh' nghĩa
là tất cả mọi người bao gồm kẻ oán người thân.
83.
Nếu tôi không mong muốn họ được những điều như thế,
thì làm sao tôi lại nguyện cho họ được chóng giác ngộ
thành Phật? Tâm Bồ Đề ở đâu khi nóng giận vì thấy người
khác thọ nhận vật dụng?
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên hỏi: 'Nếu tôi không thể chịu
đựng việc người khác được thành tựu vật chất và sung
sướng, thì sao lại tuyên bố rằng tôi nguyện cho họ mau
chóng thành Phật?' Đây là đạo đức giả, vì chẳng có cách
nào phát được tâm Bồ Đề nếu suy nghĩ như thế.
84.
Nếu (kẻ thù) được cho hay không thì có gì chướng ngại?
Dù họ có được vật đó hay nó vẫn còn nằm trong nhà của
tín thí, thì trong cả hai trường hợp, tôi cũng không được
gì cả.
Nơi
đây, ngài Tịch Thiên ghi nhận rằng khi kẻ thù (của mình)
được vài sự lợi lạc về vật chất (do tín thí bố thí
cho), thì thật vô lý nếu chúng ta ganh ghét khó chịu. Dù kẻ
thù không thọ nhận vật đó từ tín thí của họ, thì nào
liên quan đến vấn đề mà chúng ta lo lắng! Nếu họ không
thọ nhận vật đó vì vẫn còn nằm trong nhà của tín thí,
thì chúng ta cũng không được ban cho vật đó.
85.
Do sân hận mà tôi đánh mất phẩm hạnh, công đức, và niềm
tin (mà người khác dành cho tôi). Hãy nói thử xem, tại sao
không tức giận (với chính mình) vì không tạo nhân duyên
lành để được lợi lạc?
86.
Còn nói chi đến việc sám hối nghiệp xấu (mà tâm niệm)
đã tạo. (Này tâm niệm) ! Tại sao ngươi muốn tranh hơn thua
với những người đã từng tạo bao công đức lành?
Thật
ra, ước nguyện chân thật của chúng ta là được thành tựu
đầy đủ vật chất; vừa sai trái và vừa tự hủy hoại
nhân lành (trong tương lai sẽ dẫn đến việc thành công ở
thế gian), nếu ganh ghét về sự thành tựu đó của người
khác. Nếu thật sự ước muốn được thành tựu vật chất,
chúng ta phải tức giận chính mình, kẻ ganh tỵ về sự thành
tựu của người khác.
Hơn
nữa, ngài Tịch Thiên dạy rằng khi thấy kẻ thù được thành
công vật chất, và được người khác khen ngợi, thay vì ganh
tỵ, chua cay, tức giận về việc đó, nếu chúng ta vui mừng
về sự thành công của họ, thì có thể sẽ chia xẻ được
sự thành tựu đó. Lại nữa, Ngài dạy rằng lúc ganh ghét
và tức giận về sự thành công đó, ngoài việc tranh hơn
thua với quả báo lành của người khác, chúng ta không thể
phát tâm sám hối nghiệp xấu đã tạo trong quá khứ.
87.
Nếu kẻ thù bị đau buồn, thì quý vị được vui sướng
điều gì? Chỉ có sự mong muốn (họ bị hại) không thể
khiến họ bị tổn hại.
88.
Nếu họ bị đau khổ như quý vị đã mong muốn, thì quý vị
được vui sướng gì? Nếu bảo rằng: 'Nhờ vậy mà tôi được
hài lòng', thì còn gì đáng khinh bằng?
89.
Đã cắn cần câu bén nhọn của ngư phủ phiền não, thì chắc
chắn tôi sẽ bị ngục tốt thiêu đốt trong hỏa ngục.
Trong
bài kệ đầu, ngài Tịch Thiên hỏi rằng dù có hành động
khiến cho kẻ thù bị đau buồn, thì có điều gì đáng cho
chúng ta vui mừng? Chỉ việc mong muốn hãm hại hay cầu mong
kẻ thù gặp việc bất trắc, thì không thể hại họ được?
Giả sử kẻ thù gặp rắc rối, bất trắc như chúng ta mong
muốn, thì chúng ta vui mừng được điều gì? Nếu bảo rằng:
'Vâng, trong trường hợp đó tôi cảm thấy rất hài lòng',
thì ngài Tịch Thiên dạy: 'Còn điều gì đáng khinh bằng?'
Ngài
kết luận rằng sân hận như cần câu của ngư phủ, nên phải
thận trọng tránh bị nó móc.
90.
Lời tán dương và danh vọng sẽ không chuyển thành công đức
hay mạng sống; chúng không giúp sức thoát khỏi bịnh tật,
và không ban cho niềm hạnh phúc chân thật.
91.
Sẽ tìm được giá trị trong những gì có ý nghĩa. Nếu chỉ
muốn thỏa mãn (đôi chút), thì thà lao mình vào cờ bạc rượu
chè, v.v...
Trong
hai bài kệ trên, ngài Tịch Thiên nhấn mạnh rằng chúng ta
chớ quá bận tâm đến thanh danh hay những lời lẽ (tốt hay
xấu) của người khác, vì thật ra, chúng khó lòng thay đổi
được cuộc đời. Do đó, phải lo những việc ưu tiên hàng
đầu và tầm cầu những gì có giá trị và ý nghĩa chân thật
trong cuộc sống, chứ chẳng phải chỉ có danh vọng trống
rỗng. Có thể đáp lại lời này qua câu: 'Lời này không đúng,
vì khi hưởng danh vọng và được người khác khen ngợi, tôi
rất hài lòng'. Nơi đó chỉ có sự thỏa mãn tạm thời. Nếu
đó là mục đích duy nhất, thì (như ngài Tịch Thiên đã bàn)
dựa vào đó cũng có thể biện hộ thói quen rượu chè, hút
sách, vì chúng cũng cho niềm vui tạm thời.
92.
Nếu vì danh vọng, tôi bố thí tất cả tài sản hay để bị
giết, thì chỉ những lời (tán thán danh vọng) ấy sau đó
làm được những gì? Một khi tôi đã bị giết, chúng sẽ
ban niềm vui cho ai?
Nơi
đây, ngài Tịch Thiên giải thích rằng đôi khi có nhiều người
hy sinh tài sản, vật chất, rồi cả tánh mạng chỉ vì danh
vọng. Xem xét rõ, trong thực tế họ không được lợi ích
gì về danh vọng. Cuối cùng, danh vọng chẳng là gì ngoại
trừ tiếng vang và lời trống rỗng. Một khi chết đi, còn
ai để hưởng lợi ích đó? Mục đích duy nhất của việc
tầm cầu danh vọng là để được cảm giác thỏa mãn, mà
đã mất mạng rồi thì ai được hưởng! Thế nên, lo lắng
tầm cầu danh vọng thực sự ngu muội. Con người thường
say sưa về ý niệm danh vọng.
93.
Khi tòa lâu đài bằng cát sụp đổ, trẻ con khóc rống; cũng
vậy, khi danh dự và lời khen bị giảm sút, tâm niệm ngây
dại như trẻ thơ.
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên đưa ra ví dụ: Lúc nô đùa trên
bãi biển, rồi xây tòa nhà bằng cát, trẻ con rất xem trọng
công trình này; khi tòa nhà đó sụp đổ, chúng khóc la kêu
gào. Những ai say mê với danh vọng hành sự cũng như thế.
94.
Âm thanh vô tình ngắn ngủi không thể nào nghĩ về việc tán
thán tôi. Tuy nhiên, nó là nguồn vui (của tôi) khi nó được
người khác thốt ra (lời tán thán thanh danh của tôi).
95.
Dù lời tán thán này có trực tiếp đến với tôi hay người
nào khác, làm sao tôi được lợi lạc qua sự vui mừng (của
người ban lời tán thán đó)? Niềm vui ấy chỉ là của họ,
nên tôi sẽ không được một phần nào.
96.
Nếu tìm được nguồn vui trong lẽ hạnh phúc của họ, thì
có chắc rằng tôi sẽ cảm thấy như thế đối với tất
cả người khác hay chăng? Nếu như thế thì tại sao tôi lại
buồn bã, khi người khác tự tìm nguồn vui cho họ?
97.
Do đó, niềm vui phát sanh từ ý nghĩ: 'Tôi được khen ngợi'
không thích đáng, vì đó chỉ là tánh ý trẻ con.
Trong
bốn bài kệ trên, ngài Tịch Thiên giải thích rằng nếu quán
chiếu nhân duyên khiến chúng ta vui vẻ khi được tán thán,
nó không phải là danh vọng. Lại nữa, nó không phải là âm
thanh, vì âm thanh có động có tịnh. Âm thanh nào có chủ tâm
giúp vui hay ban bố tình thương cho chúng ta. Có thể nghĩ rằng
khi ai đó khen ngợi mình, ngay lúc đó, ít nhất trong tâm của
họ có cảm giác vui vẻ, hài lòng, thỏa mãn, nên tôi cảm
thấy vui lây. Nếu như thế, chỉ họ mới có niềm vui đó,
chứ nào liên quan đến niềm hoan hỷ của chúng ta? Vậy thì
trong thực tế, làm sao chúng ta dự phần hạnh phúc đó? Nếu
đáp rằng điều này chỉ thứ yếu, vì điểm trọng yếu
điểm là nhờ lời tán thán chúng ta mà họ được vui. Thế
thì tại sao chúng ta lại không cảm thấy như thế khi có người
tán thán kẻ thù của mình? Ít ra trong tâm của người khen
ngợi kẻ thù của chúng ta cũng có cảm giác hoan hỷ. Vì thế,
trong bài kệ thứ chín mươi bảy, Ngài kết luận rằng niềm
vui phát sanh từ ý niệm: 'Tôi đang được tán thán', thật
không thích đáng, vì đó chỉ là tâm niệm ngây dại.
98.
Lời tán thán, v.v... khiến tâm tôi xao xuyến và cũng không
giúp tôi tỉnh mộng (về vòng luân hồi); tôi ganh tỵ những
ai có phẩm hạnh tốt, để rồi tất cả thiện hạnh thù
thắng bị đánh mất.
99.
Do đó, phải chăng những ai phá hoại thanh danh của tôi, chính
là những ân nhân giúp tôi tránh rơi vào những cõi bất hạnh?
Nơi
đây ngài Tịch Thiên nói rằng được khen ngợi thật sự
mang lại nhiều quả báo tai hại. Trước hết, được nổi
tiếng và được nhiều người tán thán sẽ chướng ngại
sự tu hành, vì khi đó, chúng ta rất bận rộn. Ngoài ra, điều
này còn khiến suy giảm ý niệm chán chường cõi thế tục,
vì lúc đó, đối với chúng ta mọi việc đều dường như
mỹ mãn. Kế đến, chúng ta nghĩ về vòng luân hồi trong cõi
Ta Bà: 'Ồ ! Sống ở đây nào tệ hại mà lại thật vui',
rồi nghĩ sai về khuyết điểm của cõi Ta Bà: 'Ồ ! Có thể
điều này do một hành giả bần cùng sống cô độc viết
lách. Họ chẳng biết gì về hiện thực của thế gian'. Thế
nên, nhận thức sai lầm về bản chất bất như ý của vòng
luân hồi là điều rất nguy hiểm. Thứ ba, được nổi tiếng
và được ca ngợi có thể khiến chúng ta cảm thấy tự hào,
rồi từ từ sanh ngã mạn, vì theo quan điểm thế gian, chúng
ta được thành công. Có thể thấy sự ganh tỵ giữa những
kẻ ăn xin, nhưng điều đó dường như mạnh mẽ khi được
thành tựu; nghĩa là dường như cường độ ganh tỵ tăng trưởng
cùng lúc với sự tăng trưởng của thành công.
Do
đó, hãy cẩn thận khi được tán thán. Phải quán chiếu thâm
sâu vì qua những nhân duyên đó, tiến trình tu đạo có thể
bị chuớng ngại.
100.
Kẻ tinh tấn tu hành vì đạo giải thoát không thể để danh
vọng lợi dưỡng trói buộc. Thế thì tại sao tôi lại tức
giận những người cứu tôi thoát khỏi sự trói buộc này?
101.
Những ai làm khổ tôi giống như tôi được chư Phật ban phước
lành. Họ đã ngăn cản tôi tránh đi đến cõi bất hạnh,
thì tại sao tôi lại nóng giận họ?
Nói
chung, trong kinh điển có diễn tả cõi của những người lý
tưởng; họ có tám đặc tánh giúp cuộc sống được như
ý, như được giàu sang phú quý, thành công trên đường đời,
v.v... Chúng là những điều kiện thuận lợi; nếu biết dùng
theo cách tích cực, thì chúng rất hữu dụng vì có thể hỗ
trợ cá nhân tiến bước trên đường đạo và cũng khiến
họ làm việc lợi tha hữu hiệu hơn. Tuy nhiên, khi có đầy
đủ các điều kiện về tài sản, địa vị, học vấn, v.v...
phải có những nhân duyên khắc chế để không bị hủ hóa
vì chúng. Lại nữa, chớ bao giờ quên dùng trí huệ quán chiếu
bản chất khổ đau của vòng luân hồi, để có thái độ
đúng đắn đối với tất cả điều kiện thuận tiện, rồi
xử dụng chúng như trợ duyên tu hành và hạnh lợi tha. Phải
giữ trung đạo, chớ đi thái quá. Đồng thời, phải có huệ
nhãn xem xét cách nào tu đạo hữu hiệu nhất. Nhận thức
được những điều đó, thì có thể nhìn những cá nhân cản
trở chúng ta tích lũy tài sản vật chất, danh vọng, quyền
thế, v.v... không như kẻ thù, mà như những vị hộ pháp giúp
chúng ta tránh bị hủ hóa và bị chướng ngại trên bước
đường tu đạo.
Thế
nên, trong bài kệ 100 và 101, ngài Tịch Thiên nhắc nhở rằng
chúng ta chớ bao giờ quên mất mục tiêu cứu cánh: Đắc đạo
giải thoát, tức Niết Bàn. Thế nên, chớ để danh vọng lợi
dưỡng làm vướng mắc. Chớ tức giận kẻ thù (những người
cản trở việc tích lũy vật chất của chúng ta, v.v...) vì
họ giúp chúng ta thoát khỏi sự trói buộc. Ngài Tịch Thiên
dạy rằng những điều mà họ làm thật giống như sự ban
phước lành của chư Phật, vì nhờ đó họ khóa cổng, bảo
vệ chúng ta tránh bước vào căn nhà khổ đau dẫn đến phòng
luân hồi bất hạnh.
102.
Nếu có ai cản trở tôi tích lũy công đức thì sao? Nếu tức
giận họ cũng là điều sai lầm; vì không có sự chịu đựng
nào bằng hạnh nhẫn nhục, nên chắc chắn tôi sẽ thực hành
hạnh đó.
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên đáp lại sự suy nghĩ rằng nếu
kẻ thù hủy hoại công đức của mình, thì đủ để tức
giận họ. Tuy nhiên, Ngài trả lời rằng tức giận họ cũng
không chánh đáng, vì hay nhất là hành hạnh từ bi để tích
lũy công đức và gieo tâm niệm lành. Đó là pháp môn chân
thật của Phật pháp. Để hạnh từ bi được thành tựu viên
mãn, phải hành hạnh nhẫn nhục. Vì vậy, không có sự chịu
đựng nào bằng hạnh nhẫn nhục; không có hạnh nào hay hơn
hạnh nhẫn nhục. Chớ tức giận về hành vi của kẻ thù;
phải dùng dịp may đó để tăng cường hạnh nhẫn nhục.
103.
Nếu vì sự thất bại mà tôi không thể kiên nhẫn với kẻ
thù, thì tự tôi cản trở việc gieo nhân lành để gặt công
đức.
Nơi
đây, bài kệ này bảo rằng dẫu nếu được ban cho cơ hội
này và nếu vì sự thất bại mà tôi không thể kiên nhẫn
với kẻ thù rồi bất bình, thì tôi tự cản trở mình dùng
dịp này để gặt công đức nhờ hành hạnh nhẫn nhục. Thế
nên, chính chúng ta hủy diệt nhân lành của hạnh nhẫn nhục.
104.
Nếu không nhờ kẻ thù tạo chướng duyên thì tôi không thể
hành hạnh nhẫn nhục. Thế thì tại sao tôi hờn trách họ?
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên tóm lược ý nghĩa của lý nhân
quả: Nếu không có nhân thì nào có quả, còn có nhân thì
ắt quả theo sau. Hạnh nhẫn nhục (của chúng ta) không thể
phát sanh nếu kẻ thù không gieo nghiệp xấu, nên hành vi đó
rất cần thiết (để có dịp hành hạnh nhẫn nhục). Tại
sao nói ngược lại rằng kẻ thù cản trở chúng ta hành hạnh
nhẫn nhục? Thật ra, kẻ thù tạo điều kiện thiết yếu
để hành hạnh đó.
105.
Lúc hành hạnh bố thí, kẻ ăn xin đâu phải là chướng duyên
của hạnh đó. Không thể bảo rằng những ai truyền giới
pháp là những vị tạo chướng duyên cho việc thọ giới.
Kế
tiếp, ngài Tịch Thiên dùng ví dụ về một kẻ ăn xin, người
đáng được bố thí đồ vật. Không th? bảo rằng họ làm
chướng duyên cho hạnh bố thí. Cũng vậy, làm sao bảo rằng
vị truyền giới sư ban truyền giới pháp là vị tạo chướng
duyên cho việc thọ giới?
106.
Thật ra, kẻ ăn xin trên thế gian thì rất nhiều, còn kẻ
hãm hại tôi thì rất ít; nếu không hãm hại người khác
thì họ nào gây rối?
107.
Tôi phải vui mừng khi có kẻ thù giúp tôi hành đạo Bồ Đề,
ví như trong nhà sẵn có của báu.
Trong
hai bài kệ trên, ngài Tịch Thiên thuyết rằng thật ra rất
dễ dàng hành hạnh bố thí vì thế gian có rất nhiều kẻ
ăn xin. Ngược lại, rất ít có dịp may để hành hạnh nhẫn
nhục, vì kẻ thù gây tổn hại chỉ khi chúng ta khiêu khích
họ. Nói chung, sẽ không bị hại nếu tránh gieo nhân xấu.
Khi gặp cơ hội đó, phải nhìn nó với niềm tri ơn và vui
mừng được kẻ thù ban bố, ví như tìm thấy của báu trong
nhà.
108.
Nhờ họ mà tôi hành hạnh nhẫn nhục, nên họ đáng hưởng
quả lành của hạnh đó trước nhất.
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên nói rằng việc tu hành thành
tựu hạnh nhẫn nhục nhờ biết kết hợp giữa sự tinh tấn
và dịp may mà kẻ thù ban bố. Vì vậy, phải nhận thức điều
đó và hồi hướng quả lành trước nhất của hạnh nhẫn
nhục cho kẻ thù được lợi ích.
109.
Mặc dù vậy, tại sao kẻ thù lại được cung kính? Họ nào
có chủ tâm khiến tôi hành hạnh nhẫn nhục. Thế thì tại
sao lại tôn kính thánh pháp? (Thánh pháp đó cũng không có
chủ tâm) nhưng lại tạo duyên lành cho việc tu hành.
Nơi
đây, ngài Tịch Thiên nhận định rằng chúng ta có thể suy
nghĩ: 'Tại sao tôi phải cung kính kẻ thù hay nhìn nhận sự
đóng góp của họ? Họ không có chủ tâm giúp đỡ hay ban
cho tôi d?p may hành hạnh nhẫn nhục'. Nếu như thế, chúng
ta cũng chớ nên tôn kính thánh pháp, tức là một trong ba ngôi
Tam Bảo, vì thánh pháp chân thật bàn về Diệt Đế và Đạo
Đế; những pháp này không có chủ tâm hỗ trợ, nhưng chúng
ta xem chúng như đối tượng đáng tôn kính. Điều quan trọng
là kết quả, chứ không phải nhân duyên.
110.
Điều chắc chắn là kẻ thù không thể được tôn sùng vì
họ có chủ tâm hãm hại tôi. Thế thì tại sao lại chịu
đựng được sự mỗ xẻ của bác sĩ giải phẩu (với chủ
ý tốt)?
111.
Thế nên, hạnh nhẫn nhục được phát sanh nhờ vào kẻ thù,
nên họ đáng được cung kính như thánh pháp, vì họ làm thắng
duyên cho hạnh đó.
Trong
hai bài kệ này, ngài Tịch Thiên giải thích rằng chúng ta
có thể suy nghĩ: 'Vâng ! Ngài nói rất đúng về pháp Diệt
Đế và Đạo Đế, vì những pháp đó tuy không có chủ tâm
trợ giúp, nhưng chúng ta lại tôn kính chúng. Ngược lại,
kẻ thù chỉ muốn hãm hại chứ nào có chủ tâm hỗ trợ
chúng ta. Vì vậy, chắc chắn họ không đáng được tôn kính'.
Ngài
Tịch Thiên bảo rằng nhờ kẻ thù có tâm hiểm ác, nên khiến
cho hành vi của họ rất thù đặc. Bằng không, nếu hành động
gây tổn thương là nghiêm trọng, thì phải xem các bác sĩ
như kẻ thù, vì họ (không có chủ tâm hãm hại) cũng thường
dùng những phương pháp trị liệu rất đau đớn như mổ xẻ.
Vì thế, lẽ ra hành vi chủ tâm hãm hại chúng ta khiến cho
kẻ thù thù đặc hơn, vì họ ban dịp may quý báu để hành
hạnh nhẫn nhục.
Do
đó, trong bài kệ 111, Ngài kết luận rằng nếu tôn kính thánh
pháp, chúng ta cũng phải đối xử kẻ thù như đối tượng
đáng được tôn kính vì họ làm thắng duyên cho hạnh nhẫn
nhục.
Thiền
quán.
Hiện
tại chúng ta hãy dùng buổi thiền quán để quán chiếu hạnh
'tong-len' (Thủ-Xả). Trước nhất, quán tưởng về chúng sanh
đang cầu cứu vì sống trong hoàn cảnh đau khổ bất hạnh.
Kế đến, quán tưởng chính mình như hiện thân của kẻ chấp
ngã, lạnh lùng với sự khổ đau và những nhu cầu cấp thiết
của chúng sanh. Kế tiếp, hãy làm trọng tài đứng giữa xem
xét cảm giác tự nhiên hướng về họ: Cảm thấy thương
hại chúng sanh yếu đuối cần cứu giúp, hay muốn giữ tâm
ích kỷ. Sau đó, hướng tất cả tâm lành tích cực về chúng
sanh đang tuyệt vọng cần sự giúp đỡ; quán tưởng ban cho
họ sự thành tựu, công đức lành, sinh lực mới, v.v... Kế
tiếp, phát nguyện thay họ chịu khổ vì quả xấu.
Điển
hình, chúng ta có thể quán tưởng một em bé ngây thơ đang
bị đói khát ở nước Somalia, rồi xem xét phản ứng tự
nhiên của mình về thảm trạng đó ra sao. Nơi đây, lòng từ
bi sâu xa về nỗi khổ đau của chúng sanh đó không dựa vào
tâm niệm: 'Ông ta là thân quyến của tôi. Bà ta là bạn của
tôi'. Quý vị cũng chưa từng biết người đó; vì thật ra
họ vốn là con người và quý vị cũng là con người, nên
lòng từ bi tự nhiên cho phép quý vị ra tay cứu giúp. Hãy
quán tưởng như thế, rồi nghĩ rằng đứa bé đó không có
khả năng thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn trong hiện tại. Kế
tiếp, tưởng tượng tự thọ nhận tất cả sự khổ đau
như đói khát, nghèo cùng, v.v... Tưởng tượng ban cho đứa
bé tiện nghi vật chất, sự thành công, v.v... của mình. Tu
tập tâm niệm qua hạnh thủ và xả như thế. Khi quán tưởng
sự tự thọ nhận, điều hữu ích là nên quán tưởng về
sự khổ đau, phiền muộn, khó khăn vì chất độc hay vũ khí
nguy hiểm (thường khiến lạnh mình khi vừa nhìn thấy chúng).
Cũng nên quán tưởng loài vật mà quý vị không thể nào dám
nhìn. Quán tưởng chúng như thế, rồi đưa chúng vào tâm.
Khi pháp quán đó có hữu hiệu, thì sẽ khiến quý vị cảm
thấy khó chịu đôi chút. Đó là dấu hiệu rằng việc quán
tưởng ấy đánh trúng vào tiêu điểm của sự chấp ngã mà
chúng ta thường có. Tuy nhiên, đối với những ai có vấn
đề với bản ngã của chính mình như tự hận và có ít niềm
tự tín, thì phải xem xét coi cách hành trì đặc biệt này
có thích hợp hay không.
Hỏi:
Ngài Tịch Thiên viết quyển luận này để khuyến phát tâm
Bồ Đề và hành hạnh Bồ Tát (là một trong những luận giải
thanh tịnh). Chúng ta phải tu học theo ở khía cạnh nào?
Đáp:
Đạo Phật có bàn đến ba giai đoạn nhận thức. Trước nhất,
nghe (Văn) là giai đoạn sơ khởi mà quý vị phải đọc hay
nghe để mang lại sự hiểu biết. Thứ hai, sau khi đọc hoặc
lắng nghe, hãy suy nghĩ (Tư) về vấn đề đó; nhờ có kinh
nghiệm thường làm quen và suy nghĩ, sự hiểu biết được
tinh thông hơn. Thứ ba, 'phát trí huệ nhờ thiền quán', nghĩa
là vừa thẩm thấu chủ đề và vừa có kinh nghiệm thiền
quán khiến phát triển trí huệ. Thế nên, có sự hài hòa
giữa trí huệ và kinh nghiệm thật chứng.
Lúc
đầu, có thể thấy sự khác biệt giữa năng tri và sở tri
(người nhận biết và đối tượng bị nhận biết). Tuy nhiên,
ở giai đoạn phát huệ thì không có năng quán và sở quán
(người quán chiếu và đối tượng được quán chiếu). Có
vài trường hợp đặc biệt mà cá nhân không cần thể nghiệm
điều này. Nói chung, đa số thiền sinh cần tỉnh giác, tinh
tấn đạt đến cảnh giới bất nhị, chứ nó không tự nhiên
đến. Ngoài ra, nhờ thể nghiệm lý bất nhị mà tự nhiên
không thấy sự khác biệt giữa tâm và cảnh.
Nói
chung, phiền não cũng như thế; dù tự nhiên đến, nhưng khi
chúng trực tiếp hướng về đối tượng đặc biệt, như
lúc sân hận người nào đó, và nếu chúng ta không chú ý
đến chúng, thì có lẽ chúng ít bộc phát. Ngược lại, liên
tiếp nghĩ về sự bất công và cách thức bị đối xử bất
công sẽ nuôi dưỡng và kích thích sân hận tăng trưởng m?nh
mẽ. Cũng vậy, liên tục nghĩ về vẻ đẹp và phẩm hạnh
của một cá nhân đặc biệt sẽ trưởng dưỡng và kích thích
phát khởi sự đắm trước mãnh liệt. Điều này chứng minh
rằng càng huân tập vọng niệm thì phiền não càng mạnh mẽ.
Như
đã bàn, vào lúc đầu, nhờ đọc t?ng và lắng nghe mà phát
huệ. Nhờ chuyên tâm quán chiếu mà đề mục được sáng
tỏ hơn. Chữ Tây Tạng 'nyams'og tu chud pa' nghĩa là đã thẩm
thấu đề mục. Nhờ liên tục làm quen, nên nó không còn xa
lạ, và sẽ có chánh kiến. Danh từ chuyên môn diễn đạt
nó: 'Sự chứng nghiệm tùy thuộc vào sự tinh tấn'; nghĩa
là cần tinh tấn hành trì mới tỏ ngộ. Nói chung, nhờ tinh
tấn làm quen với đề mục, nên giống như bản chất tự
nhiên từ từ nó sẽ rõ ràng hơn mà không cần suy gẫm hay
quán chiếu. Ví dụ, trước kia có thể cần phải thường
suy luận, quán chiếu, v.v... về lòng từ bi, nhưng sau này,
vừa thấy chúng sanh đau khổ, quý vị sẽ tự nhiên phát khởi
lòng từ bi chân thật. Cảnh giới đó được gọi là 'Sự
chứng nghiệm Vô Dụng Công'.
Từ
giai đoạn này đến giai đoạn kế hẳn có sự tiến bộ.
Chớ nghĩ rằng sự chứng ngộ và trí huệ đi khác hướng
và không quan hệ với nhau. Thật ra, một khi phát triển và
đạt được bất cứ sự chứng ngộ hay trí huệ qua sự nhận
thức và huân tập, thì chúng rất kiên cố dài lâu. Điển
hình, trong khoảnh khắc có thể liễu ngộ đôi điều rất
mãnh liệt, nhưng nếu thiếu trí huệ, nó sẽ không bền vững.
Sau vài ngày, khi nó bị phai dần, quý vị sẽ trở lại với
tập khí chấp ngã bình thường mà không thấy có sự chuyển
hóa tâm linh lớn lao. Thế nên, không thể tin cậy vào nó.
Tôi
thiết nghĩ có sự khác biệt giữa những cảnh giới chứng
ngộ. Tuy nhiên, qua kinh nghiệm cá nhân, đối với tâm Bồ
Đề, đôi khi chúng chỉ là lời nói. Dĩ nhiên, tôi hiểu những
lời đó theo trình độ ngôn ngữ, nhưng trong đó không có
cảm xúc gì. Cũng vậy, dĩ nhiên tôi có thể giải thích đôi
chút về nghĩa của tánh Không (Shunyata), nhưng không có nhiều
cảm xúc về lý đó. Cuối cùng, nhờ quán chiếu qua năm này
tháng nọ, chúng không chỉ là ngôn từ, mà mang ý nghĩa sâu
sắc hơn.
Hỏi:
Cuộc sống hằng ngày của người mẹ lo việc nội trợ đôi
lúc được rãnh rỗi. Hoàn cảnh chung quanh hoàn toàn theo thế
tục, không thuận cũng như không nghịch với việc tu đạo.
Tôi bị kẹt vì được gợi ý phải chấp nhận hoàn cảnh
tu hành như thế, nhưng tôi muốn có sự thay đổi tích cực
và tinh tấn phát triển tâm Bồ Đề cùng trí huệ. Xin Ngài
dạy cho những kẻ sơ cơ biết cách định đặt những ưu
tiên hàng đầu về việc hành trì với các điều kiện đó?
Đáp:
Ngay cả trường hợp cá nhân, nếu muốn tôi có thể than phiền
thiếu thời giờ, vì rất bận rộn. Tuy nhiên, nếu cố gắng
tinh tấn, quý vị luôn tìm được thời giờ rảnh rang đôi
chút vào buổi sáng sớm hay cuối tuần, nhưng nên hy sinh vài
thú vui cá nhân. Nếu cố gắng tinh tấn đúng mức, có thể
tìm được ba mươi phút vào buổi sáng và buổi chiều tối.
Có cách tính toán để tìm đuợc đôi chút thời giờ. Tuy
vậy, trước hết phải có sự hiểu biết tổng quát về cách
hành trì căn bản của Phật giáo.
Nếu
suy nghĩ nghiêm túc và nếu hiểu việc tu đạo theo ý nghĩa
chân thật, thì chúng ta nên hiểu Phật pháp trong phạm trù
cảnh giới tâm linh, tức là trạng thái tâm lý. Chớ giới
hạn việc hiểu biết về Phật pháp chỉ trong những hoạt
động của thân và khẩu như lễ bái tụng niệm. Nếu như
thế, dĩ nhiên cần định đặt thời gian hành trì hẳn hoi,
vì không thể vừa làm những công việc hằng ngày như nấu
nướng, quét dọn, v.v... mà vừa tụng chú, rồi lại làm phiền
muộn những người xung quanh. Tóm lại, đã hiểu Phật pháp
theo nghĩa lý chân chánh, thì nên biết rằng mọi hoạt động
đều liên hệ đến sự lợi ích của tâm niệm. Do đó, có
thể tu hành suốt hai mươi bốn giờ trong một ngày.
Ví
dụ, nếu thấy mình sắp mắng chửi người khác, lập tức
phải thận trọng và kiềm chế tránh làm việc đó. Cũng vậy,
nếu gặp hoàn cảnh sắp mất bình tỉnh, nên tỉnh giác tự
nhủ: 'Không được! Không thể làm được'. Nhìn sự hành
trì Phật pháp chân thật như thế thì sẽ luôn có thời gian
tu hành.
Tương
tự, lúc thiền quán về bản chất giả tạm vô thường của
các pháp, chung quanh sẽ có rất nhiều ví dụ điển hình nhắc
nhở mình về sự thật đó. Tuy nhiên, điều quan trọng là
trước hết phải tu học, vì nếu không có trí huệ thì khó
lòng hành trì.
Hỏi:
Xin Ngài dạy vài điều cho người thân của con đang hằn học
nói xấu kẻ thứ ba? Một bên, con muốn chia xẻ nỗi khổ
tâm với người thân. Một bên, con không muốn tán đồng sự
hằn học đó. Vậy thì phải nói như thế nào?
Đáp:
Tôi sẽ kể một câu chuyện. Lần nọ có vị đại sư phái
Ca Đương (Kadampa) là Cẩn Ba Ngõa (Gampowa) than phiền với ngài
Chủng Đôn Ba (Dromtonpa, vị khai sáng phái Ca Đương) rằng
thật khó có thời gian rảnh rang để hành trì vì mang rất
nhiều trách nhiệm. Ngài Chủng Đôn Ba đồng ý đáp:
- Vâng
! Điều này rất đúng. Tôi cũng không được rảnh rỗi.
Từ
đó, hai vị có duyên lành với nhau. Ngài Chủng Đôn Ba lại
thiện xảo bảo:
- Tuy
nhiên, ông nên biết những gì tôi đang làm đều là việc
Phật sự. Tôi cảm thấy rất hài lòng.
Cũng
vậy, nếu nhận thấy người thân đang hằn học nói xấu
kẻ khác, có thể quý vị phản ứng lập tức với sự đồng
tình thương hại. Kế đến, khi đã tin lẫn nhau, quý vị có
thể bảo: 'Nhưng...'
Hỏi:
Trong ngày lịch sử ký kết hiệp ước hòa bình giữa người
Do Thái và Palextin xin Ngài phát biểu ý kiến về sự kiện
trọng đại này và ban phúc lành cho nền hòa bình ở Trung
Đông được tiếp diễn vì vấn đề khó khăn mới vừa bắt
đầu được giải quyết.
Đáp:
Như đã đàm luận trong buổi sáng hôm nay, tôi đã bình luận
việc này như một sự kiện đáng tán dương. Quý vị có thể
hài lòng khi biết rằng tôi đã viết thơ cho thủ tướng Rabin
(của Do Thái) và chủ tịch Yasser Arafat (PLO của Palextin).
Hỏi:
Xin Ngài giải thích chi tiết về phương tiện thiện xảo.
Đáp:
Điều đó rất khó, vì tùy theo pháp môn mà có nhiều cách
khác nhau. Tương đối dễ dàng hiểu được vài ý nghĩa về
mặt trí huệ. Ngược lại, thật khó hiểu phương tiện thiện
xảo vì điều này rất đa dạng và phức tạp.
Nói
chung, có thể định nghĩa phương tiện thiện xảo là những
cách thức tu tập giả lập tạm thời như pháp môn thiền
quán hay các pháp môn khác. Hữu vi đi đôi với hình tướng,
còn vô vi đi đôi với tánh Không của muôn pháp. Về mặt
trí huệ, nhờ thiền quán thâm sâu nên liễu ngộ tánh Không,
tức bản chất rốt ráo của hiện thực. Những gì liên hệ
chủ yếu với khía cạnh hữu vi giả tạm của hiện thực
có thể được định nghĩa khái quát như phương tiện thiện
xảo.
Nói
chung, nhiều phương tiện thiện xảo như lòng từ bi, v.v...
không phải là tri kiến vì liên hệ mật thiết với tâm linh.
Ngược lại, trí huệ có thành phần tri kiến liên hệ với
sự hiểu biết. Tuy nhiên, thật khó lòng giải thích chi tiết
về phương tiện thiện xảo.
Hỏi:
Một trong những giới luật Bồ Tát dạy rằng phải hỷ xả
cho người đã sám hối. Đối với việc hỷ xả cho người
không sám hối thì như thế nào? Có nên muốn kẻ gây lỗi
với mình xin sám hối chăng? Tâm hỷ xả và nhẫn nhục quan
hệ như thế nào?
Đáp:
Nếu không hỷ xả cho kẻ sám hối, quý vị sẽ gây thương
tổn cho người đó. Họ sẽ nghĩ: 'Ồ! Họ vẫn chưa hỷ xả
cho mình'. Do đó, phải nên hỷ xả cho họ để giúp họ tránh
cảm giác bị tổn thương. Nếu đã gây lỗi với mình mà
họ lại không sám hối, thì việc yêu cầu họ làm điều
đó thật vô ý nghĩa, vì quý vị cầu khẩn họ sám hối.
Thật ra, điều này sẽ khiến họ cảm thấy khó chịu hơn.
Hỏi:
Tôi có vấn đề khó khăn trong việc tin tưởng thuyết tái
sanh. Có cách nào hay nhất giúp tôi tin tưởng điều đó?
Đáp:
Điều này thật rất dễ hiểu đối với người Tây Tạng,
vì chúng tôi có niềm tin mãnh liệt vào sự tái sanh. Tuy nhiên,
nếu cẩn thận và chân thành xem xét về nội dung của niềm
tin, thì đôi khi điều này trở thành vấn đề rắc rối vì
không giống như niềm tin về những vật thể cứng rắn chung
quanh mà chúng ta có thể cảm nhận qua bằng chứng cụ thể
về sự hiện hữu của chúng; những vấn đề như tái sanh
thật rất khó có sự tin tưởng kiên cố.
Tuy
vậy, ngay cả giữa những người rất đỗi nghi ngờ về thuyết
tái sanh hay cố tình từ chối sự hiện hữu của thuyết đó,
nếu quý vị hỏi họ tại sao chối bỏ hay ngờ vực cùng
cực về điều đó, thì họ sẽ đáp: 'Tôi chỉ cảm thấy
không thể tin vào việc đó'.
Nói
chung, có hai luồng triết học chủ yếu: Một bên, đồng ý
tin tưởng về việc tái sanh. Một bên, không đồng ý tin tưởng
về thuyết tái sanh hay thật tình chối bỏ sự hiện hữu
của điều đó. Tuy vậy, trong thực tế, nếu xem xét về việc
này, không phải nhóm thứ hai tìm thấy bằng chứng trái ngược
với sự hiện hữu của việc tái sanh, mà họ chưa tìm được
bằng chứng gì để xác định và tin tưởng sự hiện hữu
đó. Vì vậy, phải phân biệt giữa việc chưa tìm ra và đã
tìm ra bằng chứng để bài bác điều đó, vì chúng là hai
điều khác nhau.
Nơi
đây, cần phải hiểu rằng làm sao dùng bằng cớ để chứng
minh hay phủ nhận điều gì. Chúng ta cũng phải hiểu mục
tiêu của loại lý lẽ đặc thù nào đó. Ví dụ, có những
lý lẽ thuyết rằng nếu pháp nào đó hiện hữu thì chúng
ta sẽ có thể tìm ra nó nhờ một vài cách suy luận. Nếu
pháp nào thuộc về loại đó, thì nên suy luận về nó. Nếu
không thể tìm ra nó, quý vị có thể dùng điều đó để
làm bằng chứng cho việc pháp đó không hiện hữu, vì nếu
nó có hiện hữu, quý vị sẽ có khả năng tìm ra qua những
phương pháp đó. Ngoài ra, có những pháp khác có thể không
nằm trong phạm trù lý luận.
Hiện
tại, đối với vấn đề tái sanh, phải hiểu điều này dựa
vào dòng chuyển biến liên tục của tâm thức. Quý vị không
thể tìm được nếu căn bản chỉ dựa vào dòng hiện hữu
liên tục của thân thể, chứ chưa nói chi đến những gì
xảy ra cho tâm thức sau khi chết. Ngay cả khi còn sống, thật
rất khó khăn trong việc nhận diện rõ ràng bản chất tâm
thức là gì, sự liên hệ giữa tâm thức và thân thể như
thế nào, và có hay không có sự vật đặc biệt mà không
phải là vật chất và được gọi là 'tâm thức'. Hoặc giả,
có phải tâm thức chỉ là ảo tưởng? Đây là phạm vi rất
rắc rối vì nơi đó không có đáp án rõ ràng chính xác theo
phương pháp suy luận khoa học.
Mặt
khác, ngay cả trong hiện tại, chúng ta cũng tìm được những
cá nhân đặc biệt; họ có khả năng nhớ lại những kinh
nghiệm trong các đời quá khứ. Chúng ta cũng nhận thấy rằng
qua việc thiền quán, thiền sinh có những kinh nghiệm rất
huyền bí.