Ngày thứ
tư. Buổi thứ hai.
(Soạn
giả ghi chú: Trong phần thuyết giảng cuối cùng, đức Đạt
Lai Lạt Ma bắt đầu bằng phần đối thoại vấn đáp để
trình bày giáo lý mười hai nhân duyên.)
-ooOoo-
Hỏi:
Phải chăng cần có kinh nghiệm thực chứng để liễu ngộ
và phát tâm từ bi? Ví dụ, nói chung nhiều người trong hội
trường này có cuộc sống vật chất và tinh thần tương đối
đầy đủ, như không bị nghèo đói và chịu áp bức chính
trị. Phải chăng điều này có nghĩa là chúng ta nên vượt
ngoài tin tức truyền hình để đi tiếp cận những kinh nghiệm
thực tế? Phải chăng đây là cách quân bình tâm niệm lạnh
lùng hữu hiệu nhất?
Đáp:
Vào lúc đầu, nhờ trực tiếp đối phó với hoàn cảnh khổ
đau sẽ mang lại ấn tượng sâu sắc để phát khởi lòng
từ bi. Bên cạnh đó, có nhiều cách quán chiếu về khổ đau.
Ví dụ, như đã bàn qua, nhờ trực tiếp gặp người đang
chịu khổ đau mà khởi lòng từ bi, dù quý vị không lâm vào
hoàn cảnh như thế. Ngoài ra, đối với những kẻ đang tạo
nghiệp xấu, hãy khởi lòng từ bi và nhớ rằng họ đang chứa
nhóm duyên xấu và sớm muộn gì họ sẽ lãnh những quả báo
không mong muốn. Trong trường hợp này, tuy chưa thực sự chịu
khổ đau, nhưng họ đang ở giai đoạn tạo nhân khổ đau.Về
trường hợp thứ hai, họ đang chịu khổ đau, nghĩa là đang
ở giai đoạn quả báo.
Lại
nữa, như đã bàn luận, có nhiều mức độ khổ đau khác
nhau. Ví dụ, những gì chúng ta thường xem như cảm nghiệm
sung sướng, nhưng thật ra chúng vốn là khổ đau vì vô thường
biến hoại (Hoại Khổ), vì trong đó ẩn tàng bản chất bất
như ý của vòng luân hồi. Thế nên, vừa phát triển lòng
từ bi dựa trên sự lãnh hội thâm sâu như thế, quý vị không
cần thể nghiệm sự khổ đau tức khắc để thúc đẩy nó
hành sự.
Hỏi:
Ngài dạy rằng lòng từ bi bao gồm nhẫn nhường, thương mến,
và không hãm hại người khác. Phải chăng lòng từ bi đó
không khiến chúng ta tích cực cứu giúp những kẻ khốn cùng
như làm giảm bớt sự khổ đau của những bịnh nhân, những
người túng quẩn cùng cực, những nạn nhân của sự bất
công? Đạo Phật đôi khi bị phê bình về việc lãng quên
sự khổ đau đang hiện hữu trong xã hội. Xin Ngài hãy giải
thích về điều này.
Đáp:
Tôi thiết nghĩ điều này tương đối đúng. Như đã bàn qua,
tăng ni Phật giáo phải nên hoạt động xã hội như các huynh
đệ người Cơ Đốc giáo đang làm. Vào cuối thập niên sáu
mươi, trong dịp viếng thăm Thái Lan, tôi đặc biệt đề cập
vấn đề này với vị tăng thống Thái Lan; Ngài giải thích
rằng theo giới luật, tăng ni phải sống tách biệt với xã
hội; điều này rất đúng, nhưng quan điểm của tôi cũng
đúng: 'Vâng, đối với giới luật, điều này rất đúng.
Tuy nhiên, đồng thời mục đích duy nhất của việc tu hành
là mang lại lợi ích cho người khác. Do đó, về mặt thực
hành, nếu chúng ta có thể làm nhiều hơn thì đó là điều
rất quý giá'.
Chớ
quên đi ý nghĩa ẩn tàng của việc tịnh tu trong tu viện.
Về phần tự lợi, càng ít dấn mình và càng ít bận rộn
chừng nào thì hay chừng ấy. Ngược lại, khi đến lúc phục
vụ cho người, càng có nhiều việc chừng nào thì càng hay
chừng ấy.
Hỏi:
Đạo Phật có cố gắng 'truyền giáo' hay gởi những đoàn
truyền giáo đi khắp thế giới chăng?
Đáp:
Vào thời vua A Dục có các đoàn truyền giáo đạo Phật. Tuy
vậy, trên căn bản, theo truyền thống, Phật giáo không nhấn
mạnh việc truyền đạo hay gởi những đoàn truyền giáo để
làm việc hay tạo dựng phong trào đổi đạo. Ngoại trừ,
khi có người đến cầu thọ giáo pháp, thì dĩ nhiên trách
nhiệm của chúng ta là phải giải thích Phật pháp cho họ.
Hoàn cảnh xưa kia có thể khác biệt, nhưng thế giới ngày
nay trở nên nhỏ dần và tinh thần hòa hợp tôn giáo rất
quan trọng. Do đó, tôi tin tưởng rằng không cần đặt vấn
đề về đoàn truyền giáo của Phật giáo. Tuy vậy, thấy
các tôn giáo khác có nhiều đoàn truyền giáo, tôi vẫn rất
e dè. Nếu một bên cố gắng truyền bá tôn giáo của mình
và một bên khác cũng làm như thế, thì điều lô gích là
có thể có sự công kích lẫn nhau. Vì vậy, tôi thiết nghĩ
điều này không hay cho lắm.
Tôi
tin rằng giữa năm tỷ con người, con số tín đồ chân thành
rất ít. Dĩ nhiên, tôi không tính đến những người tự cho
rằng 'tôi là người Cơ Đốc giáo' dựa vào tín ngưỡng gia
đình, và nhất là thường ngày không để tâm đến tín ngưỡng.
Loại bỏ những người đó, con số tín đồ chân thành có
lẽ khoảng một tỷ người; nghĩa là đại đa số (bốn tỷ
người) vốn là vô tôn giáo. Do đó, chúng ta phải tìm cách
tìm đến đại đa số (bốn tỷ) người đó để giúp họ
trở thành con người tốt sống đạo đức luân lý mà không
cần có tín ngưỡng. Bàn về lòng từ bi và những hạnh liên
hệ, tôi xem chúng như những phẩm hạnh lành thiện của con
người mà không nhất thiết thuộc về lãnh vực tôn giáo.
Thế thì chúng ta có thể làm người vô tôn giáo, nhưng phải
làm công dân tốt biết lẽ phải, có trách nhiệm dấn mình
vào việc góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.
Trong phạm vi này, tôi thiết nghĩ phải có nền giáo dục chân
chánh. Ngành thông tin cũng chiếm vai trò rất quan trọng.
Hỏi:
Vì bị hai người phản bội và đối xử bất công, khiến
tôi mất một số tiền lớn, nên không đủ khả năng lo cho
gia đình. Xét ra, trước kia nếu cẩn thận để ý thì có
lẽ phát giác ra việc này sớm hơn để tránh họ và tránh
bị hại. Do đó, tôi là người đáng bị phiền trách. Làm
sao tôi xả bỏ việc tự hận vì sự mất mát đó? Tuy biết
việc tự hận là điều không tốt, nhưng tôi không thể xả
bỏ được.
Đáp:
Thật khó lòng hỷ xả cho mình; nếu đã lâm vào hoàn cảnh
đó thì chỉ nên dùng một hoặc hai cách quán tưởng đặc
biệt. Thật ra, chúng ta đã bàn luận những cách đương đầu
với hoàn cảnh đó trong những ngày trước. Nhờ thường xuyên
tu học, hành trì, và làm quen, chúng ta sẽ có khả năng đối
đầu với những hoàn cảnh đó.
Hỏi:
Kinh điển nhà Phật có đề cập rằng không phải chỉ hạn
cuộc sự tu học (1 pháp môn) trong một đời. Tuy nhiên, tôi
cảm thấy điều đó là như thế và phù hợp với lý nhân
quả. Thế thì phải hiểu như thế nào mới hợp với chánh
kiến?
Đáp:
Tôi thiết nghĩ quý vị hiểu lầm đôi chút về vấn đề
này liên hệ với quan điểm tái sanh của Phật giáo. Theo đạo
Phật, điều chắc chắn là nhờ tu hành mà quý vị có trí
huệ và gặt nhiều kinh nghiệm mới mẻ. Ví dụ, bàn về tâm
thức, theo quyển Tập Luận (Adhidhramasamuccaya), thuộc hệ A
Tỳ Đạt Ma, thì phàm phu có năm mươi mốt loại tâm thức
khác nhau. Lúc hành thiền quán, có nhiều cảnh giới không
liên hệ với những tâm thức đó, nhưng phải cố gắng thể
nhập với chúng. Ví dụ, kinh điển Phật giáo thuyết về
những cảnh thiền khác nhau, nhưng phải hành trì miên mật
mới đạt đến đó.
Hỏi:
Làm sao hành thiền quán về tánh Không?
Đáp:
Tôi sẽ bàn luận về vấn đề này trong bài thảo luận sau
phần vấn đáp.
Hỏi:
Làm sao điều phục tâm niệm để không bao giờ cảm thấy
buồn bã cùng cực về bao nỗi khổ tràn ngập trên thế gian?
Nghĩa là làm sao giải quyết chúng với niềm hoan hỷ.
Đáp:
Việc thay đổi quan điểm sống không phải là điều đơn
giản, vì phải nhờ nhiều duyên và nhiều cách. Ví dụ, đạo
Phật nhấn mạnh việc kết hợp phương tiện và trí huệ.
Do đó, quý vị chớ nghĩ rằng chỉ cần tìm ra chìa khoá bí
mật thì mọi việc sẽ êm xuôi.
Điển
hình, về cá nhân, nếu so sánh, có sự thay đổi lớn lao giữa
tâm niệm vào ba mươi năm trước và tâm niệm hiện tại,
nhưng chúng chỉ xảy ra qua từng chặng đường. Dù được
xem như một hóa thân thánh thiện và dù bắt đầu tu học
Phật pháp vào lúc năm tuổi, nhưng vào lúc nhỏ tôi chưa thích
thú sự tu học. Kế đến, vào năm mười sáu tuổi, tôi mới
thật sự nghiêm túc cố gắng tu hành. Vào lứa tuổi hai mươi,
dù gặp nhiều chướng duyên trong lúc sang Tàu, nhưng có được
dịp nào, tôi đều cầu pháp với các vị đạo sư. Kế tiếp,
không giống như thuở xưa, tôi thật sự phát tâm tinh tấn
tu hành. Có lẽ vào năm ba mươi bốn hay ba mươi lăm tuổi,
tôi mới thật sự nghĩ về tánh Không. Nhờ kết quả của
việc tinh tấn hành thiền nghiêm túc, sự hiểu biết của
tôi về bản chất Diệt Đế trở thành chân thật, rồi cảm
thấy đôi điều: 'Vâng, việc đó có thể xảy ra', và nó
mang lại niềm khích lệ lớn lao. Tuy nhiên, việc phát tâm
Bồ Đề vào lứa tuổi ba mươi vẫn là điều khó khăn xa
vời, dù có lòng ngưỡng mộ tâm vi diệu đó. Kế đến, vào
lứa tuổi bốn mươi, nhờ nhiều nhân duyên mà chủ yếu là
nhờ hành theo luận điển của ngài Tịch Thiên và những quyển
kinh luận khác, cuối cùng tôi thể nghiệm đôi chút về tâm
Bồ Đề, nhưng vẫn còn nhiều tập khí. Tuy nhiên, qua bốn
mươi năm tu hành, hiện tại tôi tin rằng nếu có đủ thời
gian, vào thời điểm chín muồi, tôi có thể phát tâm Bồ
Đề.
Nghe
những kẻ tự cho rằng đã chứng đắc cảnh giới cao siêu
trong thời gian ngắn, đôi lúc những lời đó khó lòng khiến
tôi tránh buồn cười. Quý vị có thấy chăng, bàn về chiều
sâu thì cần có thời gian để phát triển tâm Bồ Đề. Nếu
có ai nói: 'Ồ! Nhờ chịu khổ nhọc qua bao năm mà sẽ có
sự thay đổi đôi chút', thì tôi nhận thấy sự tu hành có
phần tiến triển. Nếu có ai bảo: 'Ồ! Trong hai năm ngắn
ngủi, có sự thay đổi lớn lao', thì đó là điều không thực
tế.
Hỏi:
Tôi đã từng nghe rằng tâm được miêu tả hay định nghĩa
như kho chứa của tâm thức. Phải chăng mục đích hành thiền
là loại trừ tạp niệm ra khỏi kho chứa tâm thức? Hành điều
này sẽ khiến ánh sáng tâm niệm chiếu soi không?
Đáp:
Chúng ta dùng thuật ngữ Phật học 'thanh tịnh hóa tâm ô nhiễm'
chứ không dùng câu 'để tâm niệm rỗng không', vì chữ 'tâm
niệm' bao gồm tâm niệm xấu và lành. Mục đích hành thiền
quán là đạt đến cảnh giới 'vô niệm'. Phải hiểu câu
'vô niệm'với nhiều nghĩa khác nhau tùy theo cảnh giới, mà
Hiển pháp và Mật pháp đã trình bày. Theo Mật Pháp Du Già
Vô Thượng, câu này mang ý nghĩa đặc biệt qua những danh
từ 'Phụ Mật Tích' và 'Mẫu Mật Tích'. Câu 'vô niệm' thường
được dùng trong quan điểm giáo lý Đại Viên Mãn và Đại
Thủ Ấn, và xuất phát từ quan điểm Mật pháp Vô Thượng
Du Già.
Trong
quyển Đại Thủ Ấn, dựa vào nhiều lập luận, ngài Dakpo
Tashi Namgyal (một vị cao tăng thạc học) cho rằng pháp Đại
Thủ Ấn không thuộc về Hiển giáo hay Mật giáo, vì nó là
một giáo pháp độc đắc. Tuy nhiên, quan niệm về một pháp
môn nằm ngoài Hiển giáo hay Mật giáo là điều thật khó
hiểu. Dù sao đi nữa, pháp môn đó không phải là giáo pháp
của Phật giáo, vì Phật chỉ dạy Hiển giáo và Mật giáo.
Tuy vậy, nơi đây có giáo pháp mà không thuộc về cả hai
Hiển giáo và Mật giáo; nghĩa là có sự khác biệt ở trong
đó.
Dù
vậy, pháp Đại Thủ Ấn và Đại Viên Mãn chủ yếu dựa
vào sự kết hợp của tánh Không và Tịnh Quang. Một lần
nữa, chữ 'Tịnh Quang' mang hai ý nghĩa khác nhau. Thứ nhất,
nó bàn về đối tượng tánh Không và được hiểu theo phạm
trù của 'Tịnh Quang'. Thứ hai, nó bàn đến kinh nghiệm thực
chứng tánh Không. Do đó, 'Tịnh Quang' có thể có hai nghĩa
rộng về chủ thể và khách thể. Sự kết hợp giữa khía
cạnh chủ thể và khách thể của Tịnh Quang được nhấn
mạnh trong giáo pháp Đại Thủ Ấn và Đại Viên Mãn. Tuy nhiên,
khi dùng chữ 'chủ' và 'khách' ở nơi đây, chúng ta chớ có
cảm giác khó chịu về điều này. 'Ồ! Vẫn còn nằm trong
nhị nguyên đối đãi'. Các thiền sư không còn lạc vào cảnh
giới thiền định nhị nguyên đối đãi. Chỉ phàm phu mới
thấy chủ và khách đối đãi. Có hành thiền thâm sâu thì
mới cảm nhận không còn sự đối đãi giữa chủ và khách.
Thật
ra, cảnh giới 'Vô niệm' đã sẵn có trong chân tâm của chúng
sanh. Dù đó là mục đích tối hậu, nhưng chớ xem thường
tâm niệm hiện tại. Trong chương thứ hai của quyển Lượng
Thích Luận (Pramanavarttika), ngài Pháp Xưng viết nhiều lý lẽ
sâu rộng về điểm này, như bàn về dòng tâm thức, sự quán
chiếu, v.v... liên hệ với cảnh giới 'Vô niệm' cao siêu.
Cũng vậy, có hai loại thiền quán chủ yếu. Thứ nhất là
Quán, tức là dùng ý căn suy luận xem xét. Thứ hai là Chỉ,
tức là chuyên chú nhất tâm. Theo Mật pháp Vô Thượng Du Già,
Đại Thủ Ấn, và Đại Du Già, khi quán chiếu điều gì, phải
dùng Chỉ để chuyên chú nhất tâm, chứ không dùng Quán, để
quán chiếu và suy luận về đề mục.
Hỏi:
Xin Ngài từ bi bàn luận chi tiết về cách lựa chọn làm việc
lành và xấu. Nghiệp có chi phối hành vi và quan điểm chăng?
Đáp:
Thật ra, như quý vị đã đề cập, nghiệp chi phối hầu hết
mọi thái độ tư cách, quan điểm sống qua nhiều nhân duyên.
Tuy nhiên, cũng có thể tự do dùng ý chí chọn lựa tránh chịu
quả báo xấu bằng cách cố gắng khắc chế tâm niệm ngừng
chạy theo tập khí cũ. Nhờ thế mà thoát mình khỏi sự chi
phối của nghiệp.
Tuy
vậy, khó lòng thoát khỏi những động lực sinh lý. Thật
ra, theo đạo Phật, thân thể hiện tại vốn là sản phẩm
chung của vọng tưởng si mê. Nó là gốc rễ của cảnh giới
phàm phu, mà đặc biệt bị bao giới hạn và khổ đau, rồi
trong tương lai sẽ làm đòn bẩy phát sanh thêm nhiều khổ
đau. Sinh lý của thể xác như bức tường đen nặng nề kiên
cố che chướng chân tâm sáng soi. Ngược lại, nhờ thiền
quán thâm sâu mà điều phục được những động lực sinh
lý vi tế. Đặc biệt, nói chung Mật pháp thuyết về các căn
phần có những trạng thái thô thiển, vi tế, và cực kỳ
vi tế. Kế đến, nhờ tu tập, chúng ta có thể điều phục
các căn từ thô thiển đến vi tế.
Hỏi:
Theo sự hiểu biết của tôi, sự giác ngộ có lẽ là thoát
ngoài sự trói buộc của các ngoại duyên. Làm sao những vị
đã đạt đến cảnh giới này nhưng vẫn ở lại thế gian
nơi bản chất hiện hữu vốn tùy thuộc vào lý nhân quả
và luật tương đối.
Đáp:
Sự trói buộc của lý nhân quả vốn phổ cập mãi đến cảnh
giới Phật quả. Ví dụ, hãy bàn về tâm toàn giác của đức
Phật; tuy đã hoàn toàn giác ngộ, nhưng tâm đó vẫn còn tác
động hỗ tương với những đối tượng vô thường giả
huyễn bên ngoài, và nơi đó luật nhân quả vẫn hiện hành.
Phải dùng chánh kiến để hiểu rằng lắm khi Phật quả được
định nghĩa như một cảnh giới thường hằng vĩnh cửu trong
phạm vi chuyển biến liên tục, vì khi bàn về thân của đức
Phật, chúng ta nói đến hai thân: Thân vô thường chịu sự
chi phối của nhân duyên và thân thường hằng bất biến.
Hiện
tại, khi bàn về thân của đức Phật (Buddhakayas), có hiện
thân thường hằng biến đổi và hiện thân thường hằng
bất biến. Vì có hai khía cạnh về thân 'Buddhakaya' của đức
Phật, nói chung thân đó được xem rằng thường hằng vĩnh
cửu.
Hỏi:
Tôi không hiểu lời Ngài dạy rằng gây tổn thương vốn là
bản chất của kẻ xấu; chớ chấp về điều đó. Thế thì,
bản tánh của mọi người không phải là Phật tánh sao?
Đáp:
Tôi thiết nghĩ có sự hiểu lầm đôi chút về giả thuyết
mà Ngài Tịch Thiên lý luận. Bài kệ thứ ba mươi chín có
bàn về lý nhân duyên.
'Dù
gây tổn hại là bản chất ngu dại của họ, nhưng tức giận
họ cũng không đúng, vì vô lý nếu tức giận lửa có bản
chất thiêu đốt'.
Trong
đây có điều kiện 'Nếu'. Tuy vậy, phải hiểu câu 'bản
chất' mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo ngữ cảnh. Khi nói
về bản chất tâm niệm của chúng sanh vốn thanh tịnh, chúng
ta nói đến Phật tánh, một cảnh giới tỉnh thức hoàn toàn.
Điều này cũng nhắc nhở rằng khi đọc kinh luận bàn về
triết lý tánh Không của đạo Phật, phải có chánh kiến
để hiểu rõ nghĩa lý thâm sâu qua nhiều thuật ngữ. Điển
hình, một thuật ngữ chữ Phạn bàn về khái niệm tánh Không
là 'Svabhava'; vì mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo ngữ cảnh,
nên được dịch là 'bản thể' hay 'bản chất' hoặc 'tự
tánh'. Phải cẩn thận đọc những kinh luận đó; chớ dùng
định ki?n về thuật ngữ nào đó để gượng ép diễn dịch
trong mọi ngữ cảnh. Cũng đồng thuật ngữ đó, nhưng mỗi
trường phái như Trung Quán, Duy Thức, v.v..., dùng khác nhau;
nghĩa là phải có chánh kiến để hiểu ý nghĩa của nó dựa
theo ngữ cảnh.
Hỏi:
Xin Ngài giải thích về lễ truyền pháp quán đảnh Green Tara
vào buổi thứ tư. Cần phải phát nguyện những gì?
Đáp:
Truyền pháp quán đảnh Green Tara vào ngày mai chỉ là lễ ban
phước lành chứ không phải hoàn toàn là lễ truyền pháp
quán đảnh. Lễ này cũng sẽ được kết hợp với lễ quán
đảnh Diên Thọ; vì đây là một pháp môn độc đắc của
dòng Đạt Lai Lạt Ma kể từ vị thứ năm, nên không có sự
phát nguyện gì đặc biệt. Điều này có hay lắm không? Quý
vị được ban phước lành mà không phát nguyện gì cả.
Tuy
nhiên, nếu thọ giới Bồ Tát vào buổi sáng hôm đó thì phải
cần phát nguyện. Trong giới Bồ Tát, chủ yếu là mười tám
giới trọng và bốn mươi sáu giới khinh. Như đã nhắc nhở
vào buổi sáng hôm nay, nếu đây là lần đầu biết đến
Phật pháp, thì tốt nhất là chớ nên thọ giới.
Hỏi:
Xin Ngài khuyên nhủ cho một người Công giáo đang tu học theo
Phật giáo và đang cân nhắc việc thọ giới Bồ Tát trong
tuần này?
Đáp:
Điều đó được thôi !