Mười hai
nhân duyên.
Cho
đến hiện tại, chúng ta đã và đang bàn luận về hạnh nhẫn
nhục, tức là một trong sáu hạnh chủ yếu của Bồ Tát.
Có ba loại hạnh nhẫn nhục chủ yếu: Chấp nhận sự hãm
hại của kẻ khác; tu hành phát nguyện thay người khác chịu
khổ; thẩm thấu bản chất của hiện thực như tánh Không,
sự phức tạp, v.v... của hoàn cảnh sẽ hỗ trợ hạnh hạnh
nhẫn nhục.
Một
điểm chưa được bàn là phải hành viên mãn sáu hạnh đó;
hành một hạnh nghĩa là hành cả năm hạnh khác. Ví dụ, lúc
hành hạnh nhẫn nhục, phải khuyến khích người khác hành
hạnh bố thí. Thứ hai, chân thành hành hạnh nhẫn nhục là
hạnh trì giới. Thứ ba, chính là hạnh nhẫn nhục. Thứ tư,
cố gắng hành trì hạnh nhẫn nhục nhờ hạnh tinh tấn. Thứ
năm, tỉnh giác hành hạnh nhẫn nhục nhờ hạnh thiền định.
Cuối cùng, nhờ hạnh trí huệ mới có khả năng quyết đoán
những việc đúng sai khi hành hạnh nhẫn nhục. Tất cả vừa
là thành phần của trí huệ và vừa là một nhất thể của
hạnh nhẫn nhục. Trí huệ đó bao gồm trí huệ liễu giải
tánh Không của pháp trần. Tương tự, các hạnh khác cũng
như thế. Ví dụ, lúc hành hạnh bố thí, hay trì giới, v.v...
phải hành viên mãn năm hạnh khác.
Nhiều
hành giả tự tu tự lợi cũng hành sáu hạnh đó. Tuy nhiên,
phải có động cơ chân chánh, tức là phát tâm Bồ Đề (tâm
nguyện đắc đạo vì lợi ích của chúng sanh), để hành trì
viên mãn sáu hạnh.
Nhờ
hành những hạnh đó mà phát triển trí huệ và tích lũy công
đức. Vì Phật quả được đặt tính hóa theo phạm trù của
hai thân Phật, nên có hai pháp tu hành chủ yếu (trí huệ và
phương tiện). Thứ nhất, cảnh giới của pháp thân, tức
là cảnh giới Phật quả giác ngộ cứu cánh. Thứ hai là báo
thân (rupakaya). Hai hiện thân đó có những diệu dụng khác
nhau: Cảnh giới pháp thân giống như sự tự giác viên mãn;
pháp thân đó được thị hiện qua báo thân để gần gũi
và cứu độ chúng sanh. Đó là Hiển giáo của Phật giáo Đại
Thừa; trong đó, động cơ phát tâm tu hành chủ yếu cho đến
khi viên mãn là tâm Bồ Đề (tâm nguyện chứng đạo giác
ngộ vì mục đích của tất cả chúng sanh). Kế đến, nhờ
tâm nguyện đó thúc đẩy, tiến bước hành trì sáu hạnh
đặc thù bao gồm sự kết hợp giữa phương tiện và trí
huệ. Sau khi chứng đắc Thập Địa, Bồ Tát sẽ thể nhập
Phật quả, bao gồm pháp thân và hóa thân.
Điểm
thù đặc khiến Mật giáo khác biệt với Hiển giáo là sự
kết hợp giữa phương tiện và trí huệ được hiểu ở mức
độ rộng sâu, vì nơi đó có hai loại nhận thức khác nhau
về Hiển giáo. Thứ nhất, phương diện trí huệ và phương
tiện hoàn toàn khác nhau. Thứ hai, tuy khác biệt, nhưng chúng
hỗ trợ lẫn nhau. Ngược lại, trong Mật pháp, sự kết hợp
đó được phát triển thâm sâu hơn; nghĩa là trong một cảnh
giới của tâm thức, cả hai phương tiện và trí huệ đều
được hành viên mãn; không phải có hai cảnh giới tâm thức
khác biệt hay hỗ trợ lẫn nhau, mà là phương tiện và trí
huệ cùng thể nhập vào một cảnh giới tâm thức. Đó là
nền tảng căn bản hình thành mọi thứ lớp tu tập Mật Thừa.
Mật
Thừa đôi khi được phân thành sáu loại và bốn nhóm. Điểm
khác biệt giữa ba nhóm Mật pháp đầu tiên và Mật pháp Vô
Thượng Du Già là trong Mật pháp Vô Thượng Du Già có trình
bày sâu rộng và nhấn mạnh vào sự hành trì Tịnh Quang mà
trong ba nhóm Mật pháp thấp hơn lại không có.
Để
hiểu ý nghĩa Tịnh Quang đúng đắn, phải hiểu về năng lực
trực giác đi đôi với tâm thức vi tế ở các cảnh giới
cao siêu. Vì vậy, luận điển Mật pháp Vô Thượng Du Già
bàn luận rất nhiều về vòng luân xa (chakra), mạch khí, dòng
khí quản chảy qua những nơi đó, và những yếu điểm đặc
biệt ở những huyệt chính của thân thể; tất cả đều
liên hệ mật thiết với tâm niệm và năng lực khác biệt.
Do đó, trong các ngẫu tượng của Mật pháp Vô Thượng Du
Già có những hình tượng rất đáng sợ hay kích thích. Nhiều
pháp môn Mật pháp Du Già Vô Thượng liên hệ với mạch khí,
vòng luân xa, khí lực vi tế, v.v... xử dụng vài thành phần
hình thành thân thể như sáu đại. Do sự chuyển vận của
các đại và khí lực trong thân thể, cộng với cấp độ
chuyển vận của khí huyết, chúng chi phối cảnh giới tâm
thức. Ví dụ, lắm khi trong cuộc đời, chúng ta có những
cảm thọ thoáng qua, hay cảm nhận tâm thức vi tế. Ngài Buddha-shrijnana
trình bày điểm này trong một quyển luận; Ngài bảo rằng
đôi khi phàm phu cảm nhận tâm thức vi tế thoáng qua như lúc
ngủ say sưa, té xỉu, hay lâm chung. Lúc đó, chúng ta tự nhiên
cảm nhận một hình thể tâm thức vi tế. Khi chúng vừa xảy
ra, nếu hành giả ứng dụng vài phương pháp thiền quán, thì
họ có nhiều cơ hội may mắn thể nghiệm Tịnh Quang vi tế;
đặc biệt là vào lúc ngủ say, lâm chung, v.v...
Trí
huệ và phương tiện nếu được kết hợp hành trì chặt
chẽ thì con đường tiến đến đạo giác ngộ sẽ được
hanh thông, mau chóng. Tuy nhiên, để tu hành thành tựu tất
cả những giáo lý đó , điều kiện tất yếu là phải dựa
vào sự phát triển và chứng ngộ tâm Bồ Đề.
Để
thành tựu phát tâm Bồ Đề, ngoài việc phát tâm từ bi phổ
cập, điều kiện đầu tiên là cần có tinh thần chịu trách
nhiệm và phát nguyện, tức là tự gánh vác trọng trách giúp
đỡ những người khác được thoát khỏi khổ đau.
Theo
truyền thống Phật giáo Tây Tạng, việc tu tập tâm Bồ Đề
từ bi rộng lớn cần có hai phương tiện chủ yếu: 'Bảy
điểm nhân duyên' và 'Hoán chuyển và bình đẳng hóa với
người khác'. Trong chương thứ tám của quyển luận Nhập
Bồ Tát Hạnh (của ngài Tịch Thiên) có bàn về cách tự hoán
chuyển và bình đẳng hóa với người.
Đó
là những quan điểm của giáo pháp Đại Thừa hướng đến
sự chứng đắc đạo giác ngộ viên mãn. Tuy nhiên, để phát
triển tâm từ bi chân thật (tức là không thể khoanh tay nhìn
xem chúng sanh đau khổ), mỗi cá nhân trước hết phải có
chánh kiến nhận thức về bản chất nghiêm trọng của khổ
đau.
Thông
thường, khi gặp ai đó đang chịu đau đớn, lập tức chúng
ta cảm thấy thương hại, rồi suy nghĩ: 'Ồ! Thật đáng thương
làm sao! Thật tội nghiệp làm sao!' Ngược lại, lúc thấy
ai đó thành công trên đường đời, thì thay vì khởi lòng
từ bi thương hại, quý vị lại khởi tâm ganh tỵ đố kỵ.
Đó chỉ là lòng từ bi trẻ con, vì chưa hiểu rõ nghĩa lý
chân thật của khổ đau. Để tăng thêm chánh kiến về khổ
đau và nghĩa lý của nó, phải thường hành trì theo những
pháp môn căn bản.
Chỉ
việc phát triển sự nhận thức về bản chất khổ đau và
nhận ra ý nghĩa chân thật của nó cũng chưa đủ, mà phải
tăng trưởng chánh kiến về khả năng chuyển hóa, tức là
giải thoát khỏi khổ đau; điều này phù hợp với sự hiểu
biết về giáo lý Tứ Diệu Đế, một giáo pháp đồng nhất
của Phật giáo Đại Thừa và Tiểu Thừa.
Tứ
Diệu Đế có hai nhóm nhân quả. Nhóm thứ nhất bàn về cuộc
sống liên hệ đến kinh nghiệm và sự hiện hữu của chúng
ta trong cõi Ta Bà; khổ làm quả, còn nguyên nhân của khổ
làm nhân. Nhóm thứ hai bàn về phương pháp thoát khỏi vòng
trói buộc của khổ đau, qua Diệt Đế (diệt khổ, hay quả)
và Đạo Đế (con đường dẫn đến đạo diệt khổ, hay nhân).
Đã hiểu hai nhóm nhân quả rộng sâu xong, kế đến hãy chú
tâm vào giáo lý mười hai nhân duyên; chúng là bản thảo chi
tiết dựa vào chủ đề tóm gọn của Tứ Diệu Đế.
Trong
mười hai nhân duyên có hai chiều thuận và nghịch. Về chiều
thuận, vô minh đứng đầu, rồi dẫn đến hành; hành dẫn
đến việc gieo ấn tượng vào tâm thức; tâm thức dẫn đến
danh sắc; cuối cùng là già, chết. Quán chiếu về vòng xích
này sẽ hiểu về nguồn máy tái sanh trong vòng sanh tử luân
hồi.
Khi
đi theo chiều nghịch và quán chiếu về sự chấm dứt của
mỗi vòng trong mười hai nhân duyên, sự chấm dứt của già
và chết tùy thuộc vào sự chấm dứt của sanh; sự chấm
dứt của sanh tùy thuộc vào sự chấm dứt của thủ, v.v...
Bằng cách đó, chúng ta hiểu về quá trình thoát khỏi vòng
xích khổ đau của cõi Ta Bà.
Tất
cả giáo pháp tu hành dựa vào sự nhận thức đúng đắn về
chiều thuận và nghịch của mười hai nhân duyên được tìm
thấy trong giáo pháp 'Ba mươi bảy phẩm trợ đạo'. Giáo pháp
đó bắt đầu bằng pháp tứ niệm xứ, v.v... Nói cách khác,
ba mươi bảy phẩm trợ đạo vốn liên hệ với giáo pháp
mười hai nhân duyên.
Giáo
pháp đầu tiên của ba mươi bảy phẩm trợ đạo là Tứ Niệm
Xứ: Thứ nhất, niệm nhớ về thân [vi] ; kế đến là niệm
nhớ về cảm thọ [vii] ; niệm nhớ về tâm [viii] ; niệm nhớ
về pháp [ix] .
Khi
quán niệm về thân, chúng ta quán chiếu về nhân duyên sanh
ra thân thể, rồi sẽ thấy sự bất tịnh của nó. Từ cách
nhìn đó, chúng ta sẽ thấy rằng dù ai đó dường như thành
công trên đường đời, nhưng họ cũng không đáng là đối
tượng để ganh tỵ, vì họ vẫn nằm trong vòng trói buộc
của khổ đau và bất mãn. Thật ra, nếu nghiêm túc nghĩ về
điều này, chúng ta thấy rằng được thành công trong xã hội,
thì vọng niệm càng nhiều, vì có sự tương phản phức tạp
giữa hy vọng và sợ hãi, cùng hiểu biết và sự chướng
ngại.
Những
gì ngài Thánh Đề Bà (Aryadeva) thuyết trong quyển Tứ Bách
Kệ Tụng (bốn trăm bài kệ) có lẽ rất đúng. Ngài thuyết
rằng tâm tình của những ai may mắn thành công trong xã hội
thường bị nhiều nỗi bức rức, phiền muộn; những kẻ
nghèo cùng bị phiền muộn vì sự đau khổ của thân thể.
Do
vô minh khống chế, tất cả chúng sanh đều sống cuộc đời
khổ đau. Phải gấp rút tinh tấn phát tâm tu hành giống như
mình là một bịnh nhân bị bịnh Sida, vì mạng sống của
mình được tính toán qua từng ngày. Cũng vậy, phải nghĩ:
'Vẫn còn bị thế lực vô minh tà kiến chi phối, thì sớm
muộn gì cũng bị trói buộc. Thế nên, tôi phải tu hành ngay
bây giờ'.
Tương
tự, không bao giờ có được niềm hạnh phúc chân thật nếu
vẫn bị ba độc [x] khống chế, sai sử. Thật ngu xuẩn và
đáng thương biết mấy, nếu biết có khả năng tự giải
thoát ngoài vòng trói buộc đó mà không chịu tinh tấn hành
trì.
Khi
quán chiếu về những điều này, rồi nói: 'Ba nẻo luân hồi
trong cõi Ta Bà', thì từ trong tâm khảm sâu xa thốt ra: 'Ồ!
Tôi phải thoát ra khỏi vòng đó'; nghia là nguyện ước được
giải thoát khỏi vòng trói buộc của ba độc.
Tuy
nhiên, để thành tựu, cần có thời gian tu tập thiền quán
dài lâu; đôi khi, có thể kéo dài suốt bao đời. Việc cấp
bách đầu tiên là phải đảm bảo được tái sanh vào những
cõi an lành như có thân người trang nghiêm khỏe mạnh trong
tương lai để tiếp tục tu hành hướng về mục tiêu giải
thoát dở dang.
Để
làm điều đó, việc cần thiết chủ yếu là sống cuộc đời
luân lý đạo đức, tức là tránh làm mười điều xấu bao
gồm ba nghiệp xấu về thân (giết hại, ăn cắp, tà dâm),
bốn nghiệp xấu về miệng (nói láo, nói lời độc ác, nói
lời chia rẽ, nói lời nhãm nhí vô ích), ba nghiệp xấu về
tâm (tham lam, sân hận, tà kiến). Để phát tâm tinh tấn sống
đời đạo đức qua cách hành trì mười điều lành, phải
thẩm thấu nguồn máy của luật nhân quả.
Tuy
nhiên, về quan điểm của động cơ ẩn tàng trong nghiệp quả,
về mối tương quan giữa hành vi và quả báo, và về cách
dẫn dắt chúng sanh đến cảnh giới cao siêu, thì chúng vẫn
còn vượt ngoài tầm hiểu biết thông thường. Vào lúc đầu,
không th? hiểu rõ khía cạnh vi tế nhất của thuyết nghiệp
báo. Do đó, có lẽ cần có đôi chút niềm tin hay dựa vào
lời đức Phật dạy về thuyết nghiệp báo. Vì vậy, sống
đời đạo đức trong khuôn khổ của luật nghiệp báo liên
hệ mật thiết với việc quy y Tam Bảo; nghĩa là gần như
thọ tam quy ngũ giới.
Phải
chắc chắn tự tin rằng sẽ sống theo năm giới căn bản,
luật nghiệp báo, đạo đức luân lý được thể hiện qua
sự hành trì mười điều lành. Nhận biết kinh điển có đề
cập sự quý báu của thân người sẽ tăng cường niềm hoan
hỷ phát khởi điều đó. Ở đây, chưa hề bàn về sự khiếm
khuyết bất tịnh của thân thể và những chất ở trong đó,
mà đang bàn về một thân thể trang nghiêm đẹp đẽ mang nhiều
ý nghĩa, tiềm năng, và cách dùng nó với mục đích thanh cao,
v.v..., để trưởng dưỡng lòng tự tín dũng mãnh. Vì thế,
ở giai đoạn đó, chớ chú tâm vào nhược điểm của thân
thể như sự bất tịnh, không hoàn hảo, v.v..., mà đặc biệt
nếu có vấn đề rắc rối về việc tự hận hay thiếu tự
tín, vì điều này có thể làm vấn đề nghiêm trọng và tệ
hại hơn; chỉ nên bàn về đặc tánh, lợi ích, và ưu điểm
của thân người để hiểu rõ tiềm năng của nó và cấp
bách phát nguyện dùng nó theo chiều hướng tích cực.
Kế
đến, hành giả được nhắc nhở về lý vô thường và sự
chết, qua một câu thông thường: Một ngày nào đó sẽ không
còn có mặt ở đây. Hãy tỉnh giác về lẽ vô thường và
hiểu biết thích đáng về tiềm năng lớn lao vô cùng cực
của thân người, để tự tín khẩn thiết phát nguyện: 'Tôi
phải xử dụng mọi thời gian quý báu của cuộc đời'.
Tuy
nhiên, trước hết phải tu hành. Ngài Chủng Đôn Ba (Dromtonpa)
bảo rằng vào lúc tu học, vẫn nhớ hành thiền quán; khi quán
chiếu về một đề tài nào đó, vẫn biết sự quan trọng
của việc tu học và hành thiền quán; khi thiền quán, vẫn
không lãng quên tầm quan trọng của sự tu học và quán chiếu.
Nói cách khác, Ngài luôn luôn kết hợp cả ba: Hành thiền,
quán chiếu, tu học. Đó là phương pháp tu hành hài hòa liên
tục; tức là không đánh mất sự quân bình giữa việc hành
trì và sự hiểu biết về giáo lý. Nếu hiểu nhiều mà không
hành thì chỉ theo lý thuyết suông. Nếu hành nhiều mà không
tu học thì dễ lạc đường.
Trong
quyển Tứ Bách Kệ Tụng, ngài Thánh Đề Bà tóm lược toàn
bộ giáo lý Phật pháp; trong đó có tiến trình tu đạo theo
chiều nghịch như đã bàn khái quát. Ngài dạy rằng vào lúc
đầu, phải tịnh hóa hành vi xấu xa của thân khẩu ý để
sống đời đạo đức luân lý. Vào giai đoạn thứ hai, phải
nhấn mạnh việc điều phục vọng niệm và tẩy trừ vô minh,
vì chúng chấp rằng muôn pháp có bản chất hiện hữu chân
thật. Vào giai đoạn thứ ba, phải tịnh trừ mọi tỳ vết,
tập khí, v.v... đã gieo trồng trong tâm thức. Đó là ba giai
đoạn tu hành hướng đến đạo giác ngộ viên mãn.
Thiền
quán.
Chúng
ta hãy dừng đôi chút để mặc niệm thiền quán. Trong những
lần thiền quán trước kia, như đã bàn, quý vị có thể cảm
nghiệm đôi niềm hoan hỷ, hay mệt mỏi. Hãy cố gắng tập
trung xem xét cái 'Ta' hay 'bản ngã' đang cảm nghiệm vui buồn
đó.
Chắc
chắn, nó không nằm ngoài thân và tâm. Giữa thân và tâm,
thật rõ ràng, không thể xem thân như 'bản ngã'. Cảm giác
cũng không phải là bản ngã; thông thường, lúc nghĩ về bản
ngã, chúng ta nói 'Tôi' cảm giác giống như có một 'Tác nhân
(năng giác)' và 'Sự (sở giác)'. Do đó, cảm giác không thể
được xem như con người. Quý vị cũng không thể cho rằng
sự nhận thức như bản ngã, vì nếu bảo 'Tôi' nhận thức,
thì dường như có 'Tác nhân' nhận thức và 'Sự' nhận thức.
Do đó, không thể cho rằng sự nhận thức là 'bản ngã' hay
con người.
Nếu
có quyền lựa chọn để thay đổi tâm niệm hiện tại với
tâm niệm tỉnh giác, sáng soi hoàn toàn, nếu có khả năng
thay đổi thân thể này với một thân hình hấp dẫn quyến
rũ hơn, và nếu y khoa cho phép thay đổi bộ não, có lẽ hầu
hết chúng ta sẽ mau mắn sẵn sàng làm những việc đó.
Thông
thường, tự cảm nhận chấp vào 'bản ngã' vì dường như
có một tác nhân chủ thể cảm nghiệm và nhận thức điều
đó. Ngoài ra, có lẽ 'bản ngã' làm chủ các căn hay có vật
thể gì thuộc một phần của 'bản ngã'.
Cũng
vậy, khi cảm thấy nóng giận phừng phựt, thì có sự chấp
ngã kiên cố về cái 'Tôi': 'Tôi nóng giận'. Tùy theo mức
độ sân hận kẻ thù, quý vị sẽ có sự chấp trước kiên
cố về họ rằng họ hoàn toàn xấu xa hay tốt đẹp. Tùy
theo cách nhìn về kẻ thù, đối tượng của sân hận, bất
cứ phẩm chất gì chúng ta phóng đại lên họ, sẽ là một
phần của hiện thực; nghĩa là họ vẫn mãi mãi hoàn toàn
xấu xa và không thể chuyển hóa. Tuy nhiên, sự thật đâu
phải như thế.
Đối
với tâm tình phàm phu, dường như muôn pháp hiển hiện với
bản chất độc lập, kiên cố. Tuy nhiên, nếu như thế, thì
càng tìm kiếm chúng chừng nào, chúng phải càng trở nên rõ
ràng chừng ấy. Trong thực tế, khi bắt đầu tìm kiếm, chúng
ta nhận thấy chúng dễ tan hoại, vô thường, biến đổi,
nên khó lòng tìm được.
Trong
ngành khoa học hiện đại, khi nghiên cứu về bản chất của
thực thể, các nhà vật lý học đã đi đến giai đoạn mà
họ đánh mất khái niệm về vật thể cứng rắn; họ không
thể đưa ra lý thuyết về đặc tính chân thật của sự vật.
Thế nên, họ bắt đầu nhìn sự vật theo quan điểm hỗ tương
bao quát hơn là quan điểm về một đối tượng bí mật, độc
lập, kiên cố.
Như
đã bàn, không thể tìm ra một sự vật đơn độc, kiên cố
như chúng ta thường cảm nhận, vì nó vốn vô thường biến
đổi. Tuy nhiên, chưa hẳn là muôn pháp không hiện hữu, vì
các căn cảm nhận và xác định được chúng qua những cảm
thọ khổ vui. Tóm lại, có sự khác biệt giữa sự cảm nhận
muôn vật và cách thức chúng hiện hữu; nghĩa là cảm nhận
của chúng ta khác với hiện thực. Nhờ hiểu sơ qua về sự
khác biệt đó, chúng ta dễ dàng nhận ra cung cách hành xử
và suy nghĩ về người khác, hoàn cảnh xung quanh, và chính
mình, qua việc chấp chặt rằng tất cả đều hiện hữu độc
lập, kiên cố, rồi vỡ lẽ rằng chúng nào hiện hữu như
cách thức hiển hiện. Hãy nhất tâm đi đến kết luận rằng
muôn pháp không có bản chất hiện hữu chân thật và không
tồn tại độc lập như chúng ta thường nghĩ.
Do
có hiện hữu, vậy chúng hiện hữu theo cách thức nào? Vai
trò hiện hữu của chúng ra sao? Buộc lòng chúng ta phải kết
luận rằng chỉ có thể hiểu về sự hiện hữu và đặc
tính của chúng qua mối tương quan: Muôn pháp được xác định
qua nhiều nhân duyên (và danh tướng) tác động hỗ tương.
Kế đến, hãy đi đến kết luận rằng muôn pháp không có
và không hưởng đặc ân về một bản chất hiện hữu độc
lập. Đó là ý nghĩa của sự thiền quán về tánh Không.
Khi
thiền quán về tánh Không, chớ suy nghĩ: 'Ồ! Đây là tánh
Không', 'Ồ! Sự vật không hiện hữu theo cách này nhưng có
thể hiện hữu theo cách khác'. Chớ cố gắng khẳng định
về điều chi. Đơn giản, chỉ việc kết luận rằng muôn
pháp thiếu tánh chất độc lập trong hiện thực, nhưng không
phải để tâm trống rỗng hoàn toàn. Phải đặt tâm vào nơi
vắng bặt của sự hiện hữu độc lập và bản chất hiện
thực của muôn pháp.
Chú
Thích Của Dịch Giả
[vi]
Bất Tịnh
[vii]
Là Khổ
[viii]
Vô Thường
[ix]
Vô Ngã
[x]
Tham Sân Si