MỤC LỤC
Mục
Lục
Lời
của dịch giả
Tựa
tái bản
Tựa
Tăng Duệ
Chương
01: Quán nhân duyên
Chương
02: Quán khứ lai
Chương
03: Quán lục tình
Chương
04: Quán ngũ ấm
Chương
05: Quán lục chủng
Chương
06: Quán pháp nhiễm người nhiễm
Chương
07: Quán ba tướng
Chương
08: Quán tác, tác giả
Chương
09: Quán bổn trụ
Chương
10: Quán nhiên, khả nhiên
Chương
11: Quán bổn tế
Chương
12: Quán khổ
Chương
13: Quán hành
Chương
14: Quán hiệp
Chương
15: Quán hữu vô
Chương
16: Quán phược giải
Chương
17: Quán nghiệp
Chương
18: Quán pháp
Chương
19: Quán thời
Chương
20: Quán nhơn quả
Chương
21: Quán thành, họai
Chương
22: Quán Như lai
Chương
23: Quán điên đảo
Chương
24: Quán tứ đế
Chương
25: Quán niết-bàn
Chương
26: Quán thập nhị nhơn duyên
Chương
27: Quán tà kiến
LỜI
CỦA DỊCH GIẢ
Phật
pháp vốn cao siêu huyền diệu, nếu không có các bậc hiền
triết tiếp nối ra đời thì thiết tưởng rằng chúng ta cũng
chỉ nhìn Phật pháp bát ngát bao la như trời biển chứ không
biết làm thế nào tỏ ngộ và áp dụng vào đời sống tu
hành.
Bộ
luận này đã mang lại cho chúng tôi một vài tia sáng tỏ ngộ
khi thâm tâm còn nặng trĩu Ngã chấp và Pháp chấp. Để đánh
dấu phút giây thức tỉnh mà người đã gợi lên cho chúng
tôi, ấy là T.T.V.C. (bậc Giáo thọ Sư của chúng tôi) khiến
chúng tôi sáng tỏ vấn đề, diệt được phần nào kiến
chấp Ngã và Pháp. Vì lẽ đó, tôi mạo muội dịch Luận này,
trong khi kiến thức còn nông cạn; đối với nghĩa lý của
nó thì hoằng vĩ bao la!
Bộ
luận này có ra được cũng gặp phải nhiều trở ngại khó
khăn. "Trở ngại khó khăn," khi dùng từ ngữ này, tôi biết
rằng tôi đã đi sai tinh thần Trung quán luận. Tư tưởng Trung
quán luận là Zùnyatà (Tánh Không), chỉ con người cùng tất
cả hiện tượng sự vật trong vũ trụ, không gian, thời gian,
đều không có yếu tính quyết định. Có ra, là do duyên hợp
nhiều nhân tố phương tiện và điều kiện hình thành, như
huyễn, như hóa. Kể cả nghiệp lực của con người cũng không
thật, mà tại sao tôi lại nói danh từ trên. "Trở ngại khó
khăn" là quan niệm về nghiệp lực.
Trước
khi nghe bộ Trung Quán Luận, tôi có một vấn đề gọi là
lợi tha. Tôi đề đạt lên vị Giáo thọ sư của chúng tôi.
Nhưng không được bậc Thầy giải quyết thỏa đáng. Tôi
rất buồn, song lúc này Trung quán luận đã đến với tôi
kịp thời giải quyết những vấn đề cho chúng tôi làm tôi
nhẹ nhàng thanh thản hẳn lên. Lúc học tôi có ý nghĩ rằng
tôi sẽ dịch bộ luận này từ Hán văn ra Việt văn hầu phổ
biến để được lợi ích. Vừa nghe vừa dịch đến khi nghe
hết là tôi dịch xong. Tôi đọc lại bản thảo, nhưng tự
thấy chưa vừa ý nên dẹp bỏ. Thế là tôi"nhập thất chặt"
hai tháng để dịch lại. Thắm thoát hai tháng trôi qua kỳ
hạn nhập thất đã mãn và tôi cũng dịch xong bộ Luận. Đem
trình T.T.V.C duyệt lại và bắt đầu tính việc in. Trong lúc
đợi chờ cho qua dịp tết để in tập này. Thầy G.Đ. khuyên
tôi nên viết đại ý mỗi phẩm. Tôi về đọc lại bản Trung
quán luận chữ Hán mỗi phẩm thì nhận thấy Luận này hàm
sức quá nhiều ý nghĩa, lại thêm dẫn dụ nhiều chiều hướng,
khó mà tóm tắt đại ý mỗi chương. Về phần giải thích
Tụng văn đã có Ngài Thanh Mục Phạm Chí.
Tôi
dựa vào ý nghĩa của những bài tụng cũng như lúc nghe thâu
thập được và có tham khảo phần lược thích bản dịch
Trung quán luận của T.T.Q.L. xin lược giải thích đại khái
mỗi chương, hầu giúp bớt phần nào khó khăn cho những độc
giả cần nghiên cứu Trung quán luận để ứng dụng vào đời
sống tu hành theo đúng chánh pháp.
Lần
này, tôi hiện cho được bộ Luận để kHỏi phụ lòng chư
bậc Tôn túc đã nâng đỡ về phương diện tinh thần cho chúng
tôi, đó là Hòa Thượng Viện Trưởng Viện hóa đạo, GHPGVNTN,
Sư Trưởng Huệ lâm, Sư Bà Diệu Không và Thầy Tuệ Sỹ,
đã góp sức nhiều trong việc phiên dịch; cùng chư Tăng Ni
trợ giúp những phương tiện khác và những Phật tử quen
biết, trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ tài lực cho chúng
tôi. Với tinh thần hộ đạo Pháp của toàn thể quý vị,
chúng tôi tưởng không nêu ra đây cũng đủ cảm thông.
Ngưỡng
mong các bậc Tôn túc chứng minh cho, và xin tri ân Chư Tăng,
Chư Ni cùng toàn thể quý Phật tử.
Nam
mô Long Thọ Bồ Tát.
Thiền
thất Diệu Trạm
Đầu
Xuân năm 1974 Thích nữ Chân Hiền
TỰA
TÁI BẢN
Từ
khi bản dịch này hoàn thành, khoảng vào năm 1983, đến nay
tôi không biết đã được xuất bản mấy lần. Nhưng sự
tái bản lần này vẫn cần thiết, vì nhu cầu nghiên cứu
Phật pháp ở nuớc ta, và nhất là sự phổ biến của Thiền
và Mật. Nếu không y trên Tánh Không để nghiên cứu và tu
tập, thì Thiền và Mật dễ dẫn đến những phản tác dụng
được gọi là tai biến của Thiền, hay của Mật.
Trong
một dịp gặp Ni sư Chơn Hiền tại chùa Già lam, tôi có Hỏi
Ni sư về việc xuất bản bản dịch Trung luận của Ni sư
mà tôi có duyên được biết cách đây gần hai mươi năm.
Cho đến nay, tôi vẫn chỉ biết qua bản thảo. Nhân có lần
lục các thứ tịch cũ tại Thứ viện chùa Già lam, tôi tìm
thấy bản in Roneo, đã bị mối mọt gặm khá hỏng. Vì tiếc
công trình dịch thuật, một công trình rất khó đối với
một tác phẩm được xem là khó hiểu nhất trong số các tác
phẩm triết học vĩ đại nhất và có ảnh hưởng lớn nhất
của triết học Đông phương trước đây, và Tây phương ngày
nay, nên tôi mang đi nhờ Phật tử nhập văn bản vi tính trở
lại, và bổ khuyết những chỗ bị mối mọt khoét. Nhân đó,
tôi thêm một số ý kiến để hiệu chỉnh cho bản văn tương
đối khả dĩ hiểu được. Cái khó trong việc nghiên cứu,
và nhất là phiên dịch, đối với Trung luận, là vấn đề
ngôn ngữ. Phê bình tính hiện thức và chân thực của nhận
thức trong Trung luận thường bắt đầu từ những phê bình
cấu trúc ngôn ngữ. Y trên cấu trúc ngôn ngữ đế tiến hành
phân tích quá trính hoạt động nhận thức trên phương diện
tâm lý học. Rồi từ đó lại tiến lên vận dụng điều
mà ngôn ngữ triết học phương Tây gọi là “Biện chứng
pháp siêu nghiệm” để phê phán bản chất cũng như tính
năng và giới hạn của lý tính hay lý trí. Rồi từ đó, nhìn
trở lại các khái niệm cùng với những từ ngữ nội hàm
các khái niệm này trong Giáo pháp của Phật. Như thế để
có nhận thức khả dĩ nói là chân chính về giáo pháp của
Phật, mà như kinh Kim cang nói: “Ngã thuyết pháp như phiệt
dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.” Pháp
mà Ta nói, như là chiếc bè. Pháp cần phải được xả, huống
gì là phi pháp. Nhưng pháp nào cần xả, và xả như thế nào.
Đó là vấn đề.
Nhận
xét đại khái như vậy để thấy rằng trở ngại lớn nhất
và cũng là khởi đầu nhất là cấu trúc ngôn ngữ tiếng
Phạn. Trong tình hình nghiên cứu Phật pháp ở nước ta, ngữ
pháp tiếng Phạn còn rất khá xa lạ. Ngay trong bài tụng mở
đầu mà ta quen gọi là “bài tụng Bát bất” cũng cần có
một khái niệm sơ đẳng về ngữ pháp tiếng Phạn để có
thể tuơng đối dễ nắm bắt hơn.
Tất
nhiên, chân lý siêu việt ngôn ngữ. Tổ Huệ Năng, ngay cả
chữ Hán còn không biết huống hồ là tiếng Phạn. Nhưng xưa
nay ai dám nói là mình hiểu Trung luận hơn Tổ Huệ Năng?
Vì
vậy, trong bản dịch tiếng Việt này, nơi phần cước chú,
ngoài những ghi chú nhận xét của Ni sư dịch giả, thỉnh
thoảng tôi cũng thêm một số gợi ý, mà phần lớn là dựa
nguyên bản Sanskrit hiện có, với hy vọng bản dịch sẽ trở
nên dễ hiểu hơn.
Bản
dịch Hán có những đặc điểm riêng của nó. Không thể nói
bản Hán tuyệt đối trung thành với chính tác giả là Ngài
Long Thọ. Do khác biệt về những quy ước cấu trúc giữa
hai hệ ngôn ngữ Phạn và Hán, nên nhiều chỗ dịch giả Hán
là Ngài La-thập đã phải thực hiện những biến đổi cần
thiết. Những biến đổi này đại bộ phận phản ánh tư
tưởng của dịch giả mà vấn đề có phản ánh trung thực
chính tư tưởng của Ngài Long Thọ hay không, đấy là vấn
đề ngoài khả năng phê phán của chúng ta. Vì vậy, điểm
căn bản là bản dịch tiếng Việt này hoàn toàn y trên bản
Hán của ngài La-thập, coi như không biết đến sự hiện hữu
của bản tiếng Phạn. Một vài cước chú đối chiếu nguyên
bản tiếng Phạn là cốt làm rõ ý nghĩa trong bản Hán, chứ
không có mục đích đi thẳng vào thâm ý của Luận chủ là
Ngài Long Thọ.
Trong
sở kiến hạn chế của mình, tôi nhận thấy bản dịch của
Ni sư Chơn Hiền tương đối sáng, và có thể là bản dịch
Việt đầu tiên. Vì vậy, tôi đã mạn phép xin góp thêm một
phần công đức nhỏ, gọi là tùy hỷ và tán trợ một công
trình rất khó thực hiện đối với một tác phẩm rất khó
hiểu này.
Nguyện
cầu Phật pháp sáng tỏ thế gian.
Phật
lịch 2544,
Quảng
Hương Già-lam
NGUYÊN
CHỨNG cẩn chí.
TỰA
TRUNG LUẬN
TĂNG
DUỆ
TRUNG
LUẬN có năm trăm bài kệ, là tác phẩm của Long Thọ. Lấy
chữ Trung mà nêu Danh, là để soi tỏ cái Thật, lấy chữ
Luận mà gọi tên, là để suốt cùng ngôn ngữ. Cái Thật
mà không được nêu danh thì không thể tỏ ngộ, do đó gá
vào Trung để mô tả. Ngôn ngữ mà không được giải thích
thì không thể suốt cùng, do đó mượn Luận để hiển bày[1].
Khi cái thật đã được mô tả, ngôn ngữ đã được hiển
bày, thì sự thực hành của Bồ tát, và sự quán chiếu nơi
đạo tràng bấy giờ được buông lửng[2] một cách rỡ ràng
vậy.
Vả,
phiền não mê hoặc sanh ra từ kiến chấp điên đảo, cả
ba cõi vì thế mà phải nổi chìm; sự chứng ngộ thiên không[3]
khởi lên từ trí tuệ yểm ly[4], bậc cảnh giới[5] do đây
mà thành lạc nẽo. Vì thế biết rằng, sự giác ngộ tuyệt
đối là do ở sự quán chiếu bao la; mà trí tuệ nhỏ nhoi
bị buộc ràng bởi tâm hạn hẹp[6]. Quán chiếu mà không bao
la, thì không đủ để san bằng hữu và vô, thống nhất đạo
và tục. Cái biết mà không suốt cùng, thì chưa thể bước
vào Trung đạo, xóa tuyệt nhị biên[7]. Nẽo đạo tục nếu
không được san bằng, lối nhị biên chưa được xóa tuyệt,
thì đấy là nỗi ưu tư của Bồ tát vậy.
Vì
lẽ đó, Đại sỹ Long Thọ phân chiết bằng Trung đạo, khiến
cho hạng hiểu lầm ý thú[8] trông theo ngón trỏ đạo Huyền[9]
mà một phen chuyển hướng; bao quát bằng tức hóa[10], khiến
cho khách xu hướng huyền môn[11], quên hỏi han, trong phút giây
thấu triệt[12]. Vời vợi thay[13], thật có thể nói, dọn
đường thẳng vào thiên không[14], rợp cửa huyền trong vũ
trụ[15]; quạt gió huệ qua cành khô[16], tuôn cam lồ lên cây
úa[17] ấy vậy.
Kìa
kiến trúc trăm từng được dựng, thì nhà cỏ nhà tranh bên
cạnh đáng kể là quê mùa; khi thấy sự hoằng vĩ bao la của
luận này, thì biết rõ sự chứng ngộ thiên không càng thấp
hèn quá lắm.
May
thay Châu quận[18] của phương vực này bỗng đâu lại được
Linh thứu dời sang đó trấn giữ; tâm tình biên địa hiểm
hóc nhờ thế mà được thấm tràn dư âm của nắng rỡ. Rồi
đây về sau, bậc hiền triết mỗi khi đàm đạo mới có thể
luận đến lẽ thật vậy.
Nghe
nói ở các nước bên Thiên trúc, những người dấn thân vào
sự học không ai không thưởng thức luận này, và coi nó là
cẩm nang trọng yếu[19]. Những người thấm bút mực để
đưa ra giải thích quả không phải là ít. Bản giải thích
được công bố ở đây vốn là của vị Phạm chí người
Thiên trúc, tên gọi là Tân-già-La (Piígala), đời Tần dịch
là Thanh Mục. Ông tuy là người có tin và hiểu chánh pháp
sâu xa[20], nhưng văn từ không được trau chuốt và chính xác,
trong đó lại có nhiều sai lầm, thiếu sót và trùng lập.
Pháp sư (La Thập) mới cắt xén để bổ sung, khiến cho lý
phù hợp với kinh được thấu suốt. Văn hoặc có thừa hay
thiếu, chưa phải là hoàn hảo toàn vẹn vậy.
Bách
luận[21] nhắm đối trị ngoại giáo để dẹp bỏ lẽ tà;
tác phẩm này nhắm chỉnh lý nội giáo để khai thông sự
bế tắc.
Đại
trí thích luận[22] thì uyên bác; Thập nhị môn luận[23] thì
cô đọng. Nghiệm xét cả bốn tác phẩm này, quả thật như
mặt trời soi tận cõi lòng, không cái gì mà không soi suốt
rạng ngời.
Tôi
thưởng thức vị ngọt ấy đến đổi tay không rời sách,
quên luôn cả sự quê vụng của mình, bèn gởi gắm cõi lòng
tỏ ngộ vào một bài tựa; đồng thời tóm tắt phẩm một
lên đầu mỗi phẩm. Ấy thế nhưng nào dám giải thích, mà
chỉ là bày tỏ nỗi vui mừng với những ai cùng chung chí
hướng vậy thôi.
Nguyên
Chứng
dịch
và chú thích.
Quảng
hương Già-lam,
Mùa
an cư, Pl. 2527- 1983.
[1]
Danh 名 và thật 實 là mối quan hệ giữa lý luận và thực
tiễn, giữa ngôn ngữ và thực tại; đây là đề tài quan
trọng chung cho các hệ tư tưởng của Trung quốc; nhất là
Lão Trang, hệ tư tưởng mà Tăng Duệ chịu ảnh hưởng rất
nhiều trước khi biết đến đạo Phật. Trong phần mở đầu
của bài tựa này, Tăng Duệ giải quyết những mâu thuẫn
tranh luận giữa các hệ tư tưởng Trung quốc về vấn đề
Danh – Thật bằng thuyết Nhị đế của Trung luận như được
trình bày ở Chương 24 "Quán Tứ Thánh đế."
[2]
Huyền giải 懸解 , từ của Trang từ, chỉ trạng thái vượt
lên tất cả sống và chết, buồn và vui. Trang tử "Dưỡng
Sinh Chủ": "Thích lai phu tử thời dã, thích khứ phu tử thuận
dã. An thời nhi xử thuận, ai lạc bất năng nhập dã. Cổ
giả vị thị đế chi huyền giải." 適來夫子時也適去夫子顺也安時而處顺哀樂不能入也古者謂是帝之懸解.
Giải
thích của Cát tạng (T42n1824_p0002c02), có hai ý nghĩa: (a) Sự
tu nhân của Bồ tát đã thành tựu và sự quán chiếu tại
Đạo tràng đã được hiển lộ, bấy giờ hoàn toàn vượt
ngoài những nỗi buồn vui sống chết; giống như nỗi buồn
và nỗi vui không len vào được tâm tư. (b) có trói buộc gọi
là huyền (treo) không có trói buộc gọi là giải (cởi). Có
trói buộc chỉ cho bị trói buộc vào các thiên chấp đoạn
và thường; các kiến chấp khi đã vắng bặt được gọi
là giải.
[3]
Thiên ngộ 偏悟, sự chứng ngộ thiên lệch hay phiến diện,
chỉ cho hàng Nhị thừa chứng ngộ sanh không mà không tỏ
ngộ được pháp không.
[4]
Yểm trí 厭智, trí tuệ do nhàm chán sanh tử với nỗ lực
gấp rút để đi vào Niết-bàn vĩnh viễn tịch diệt.
[5]
Cạnh giới 耿介, giữ tiết tháo không bị lung lay. Sở từ,
"Cửu biện"; "Độc cạnh giới nhị bất tùy hề, nguyện mộ
tiên thánh chi dị giáo" 獨耿介而不隨兮願慕先聖之異教.
Cát Tạng (T42n1824_p0003a21): Cạnh giới ở đây có nghĩa là
chí tiết 志節; giữ chặt khư sở tri và tự cho là đã rốt
ráo, không chuyển hướng tiểu tâm về Đại thừa.
[6]
Ải tâm 隘心, tâm hạn hẹp như quan ải hiểm yếu. Cát Tạng
(T42n1824_p0003b13), dẫn Kinh Thư: "Nhất nhơn thủ ải, vạn
phu mạc tiến."書云。一人守隘萬夫莫進.
[7]
Nhị tế 二際; Cát Tạng dẫn Niết bàn: "Sanh tử chi thật
tế, cập dữ Niết bàn thật tế."生死之實際及與涅槃實際.
[8]
Hoặc thú chi đồ 惑趣之徒, Cát Tạng (ibid.): hoặc nghĩa
là mê hoặc; thú nghĩa là hướng thú. Đây chỉ hàng Tiểu
thừa hiểu sai lầm về ý thú sâu xa của Phật.
[9]
Huyền chỉ 玄指, nói theo thí dụ "ngón tay chỉ mặt trăng."
[10]
Tức hóa 即化. Cát Tạng dẫn chứng Tăng Triệu: "Đạo viễn
hồ tai, xúc sự tức chân. Thánh viễn hồ tai, thể chi tức
thần."道遠乎哉。觸事即真。聖遠乎哉。體之即神 Lại
dẫn thêm Tựa Thập nhị môn luận: "Ngộ đại giác ư mộng
cảnh, tức bách hoá dĩ an quy." 悟大覺於夢境即百化以安歸
Ở đây, như vậy, tức hóa chỉ cho ý nghĩa tất cả các pháp
vốn vô sanh.
[11]
Huyền ngộ chi tân 玄悟之賓. Từ ngữ này thường chỉ cho
các nhà Huyền học Trung quốc chủ yếu là Lão Trang. Ở đây,
mượn nó để bao gồm các nhà siêu hình học Ấn độ.
[12]
Triêu triệt 朝徹, nghĩa đen, thấu triệt chỉ nội trong một
buổi mai; ở đây chỉ sự đốn ngộ. Từ ngữ này lấy từ
Trang tử, thiên Đại tông sư: "Dĩ sanh ngoại hỷ nhi hậu năng
triêu triệt. Triêu triệt nhi hậu năng kiến độc". 以生外矣而後能朝徹.
朝徹而後能見獨. Cát Tạng dẫn Quách Tượng để giải thích:
"Khiển sanh tử, vong nội ngoại, hoát nhiên vô trệ, kiến
cơ nhi tác, cố vân triêu triệt dã."遺死生亡內外豁然無滯見機而作。故云朝徹也.
Sau đó lại giải thích thêm: "Bất sùng triêu nhi triệt lý"
不崇朝而徹理, chẳng đầy một buổi mai mà đã thấu triệt
lý.
[13]
Đảng đảng 蕩蕩, Cát Tạng dẫn KinhThư: "Vương đạo đảng
đảng, vô thiên vô đảng."王道蕩蕩無偏無儻.
[14]
Xung giai 沖階, Xung tức xung hư; Lão tử: "Đạo xung nhi dụng
chi" 道沖而用之. Giai chỉ giai đoạn, ở đây chỉ Bồ tát
địa. Bồ tát địa được thành tựu do quán không, do đó
gọi là xung giai.
[15]
Huyền môn 玄門, mượn từ của Lão Tử: "Huyền chi hựu huyền,
chúng diệu chi môn."玄之又玄。眾妙之門.
[16]
Trần mai 陳枚, cành cây trơ trụi không lá. Ở đây chỉ hàng
phàm phu chưa có một chút Thánh trí.
[17]
Khô tụy 枯椊, cây úa, chỉ Nhị thừa với trí tuệ yểm
ly sanh tử, thủ chứng tịch diệt.
[18]
Xích huyện 赤縣, thường nói là "Thần châu xích huyện" 神洲赤縣
chỉ toàn bộ lãnh thổ Trung quốc.
[19]
Hầu khâm 喉衿; Cát Tạng, đây chỉ cho tông chỉ trọng yếu:
hầu (cổ họng) chỉ sự trọng yếu bên trong; khâm (vạt áo)…
chỉ sự trọng yếu bên ngoài.
[20]
Thâm pháp 深法; chỉ cho pháp của Đại thừa.
[21]
Bách luận 深法, Đề-bà Bồ tát (Àrya-Deva) tạo, Bà-tẩu
Khai sỹ (Vasu[bandhu?]-Bodhisattva) giải thích’ Hán dịch, Cưu-ma-la-thập;
Đại 30, No 1596.
[22]
Chỉ Đại trí độ luận, Long Thọ Bồ tát tạo, Cưu-ma-la-thập
dịch; Đại 25, No 1509.
[23]
Thập nhị môn luận 十二門論, Long Thọ Bồ tát tạo; Cưu-ma-la-thập
dịch; Đại 30 No 1568.
Chân
Thành Cảm Tạ Sư Bà Thích Nữ Chân Hiền Đã Trao Tặng
Thư
Viện Hoa Sen Cuốn Sách Này Nhân Dịp Ban Biên Tập Đến Thăm
Sư Bà Vào Đầu Xuân Giáp Thân 2004 tại Huế (Tâm Diệu)
Đọc
Thêm:
Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt