CHƯƠNG
VI: QUÁN PHÁP NHIỄM, NGƯỜI NHIỄM
Hỏi:
Kinh nói: “Tham dục, sân nhuế, ngu si là căn bổn của thế
gian.” Tham dục có nhiều tên. Đầu tiên là ái. Kế đến
là trước. Kế đến nữa là nhiễm. Kế đến nữa là dâm.
Kế đến nữa là tham dục. Có nhiều tên gọi khác nhau như
vậy. Đó là kết sử, y chỉ vào chúng sanh. Chúng sanh là người
nhiễm, tham dục gọi pháp nhiễm, vì có pháp nhiễm và người
nhiễm nên có tham dục. Ngoài ra, hai thứ kia cũng thế. Có
sân nhuế thì có người sân. Có si nên có người si. Do nhân
duyên ba độc này mà phát khởi ba nghiệp. Do nhân duyên ba
nghiệp mà sanh khởi tam giới. Vì thế tất cả pháp được
hiện hữu.
Đáp:
Kinh tuy có nói đến tên gọi của ba độc; nhưng không thể
tìm thấy tính thực hữu của chúng. Vì sao?
50)Nếu
ngoài pháp nhiễm ra,
Trước
tự có người nhiễm.
Nhân
kẻ nhiễm dục ấy,
Hẳn
phải sanh pháp nhiễm[1] [1]
51)Nếu
không có kẻ nhiễm,
Làm
sao mà có nhiễm.
Hoặc
có hoặc không nhiễm,
Người
nhiễm cũng như thế[2] [2]
Nếu
trước quyết định có người nhiễm thì không cần pháp nhiễm,
vì người nhiễm trước đã có. Nếu trước quyết định
không có người nhiễm cũng không thể khởi lên nhiễm. Điều
chủ yếu là trước có người nhiễm sau mới phát khởi nhiễm
pháp. Nếu trước không có người nhiễm thì không có người
thọ nhận nhiễm. Pháp nhiễm cũng như thế. Nếu trước lìa
người ra quyết định có pháp nhiễm; thế là không nguyên
nhân, làm thế nào phát khởi? Như ngọn lửa mà không củi.
Nếu trước quyết định không pháp nhiễm thì không có người
nhiễm. Thế nên lời tụng nói, “Hoặc có hoặc không nhiễm,
người nhiễm cũng như thế.”
Hỏi:
Nếu không thể có sự kiện rằng pháp nhiễm và người nhiễm
quan hệ nhau mà phát khởi theo thứ tự trước sau; vì sự
khiện ấy không thể nhận thức được. Vậy giả sử chúng
đồng thời sinh khởi thì có lỗi gì?
Đáp:
52)Người
nhiễm và pháp nhiễm,
Đồng
tựu thành; không đúng.
Người
nhiễm pháp nhiễm đồng,
Thì
chẳng có tương quan[3] [3]
Nếu
người nhiễm và pháp nhiễm tựu thành trong cùng một lúc
thì không có đối đãi nhau. Không nhân người nhiễm mà có
pháp nhiễm, và không nhân pháp nhiễm mà có người nhiễm.
Vậy cả hai sẽ là thường, vì không nhân mà thành. Nếu thường
thì có nhiều lỗi; không đắc pháp giải thoát.
Lại
nữa, nay sẽ căn cứ trên tính đồng nhất và dị biệt để
bác bỏ pháp nhiễm và người nhiễm.
53)Người
nhiễm pháp nhiễm một;
Pháp
một làm sao hiệp?
Người
nhiễm pháp nhiễm khác;
Pháp
khác làm sao hiệp? [4]
Pháp
nhiễm và người nhiễm kết hợp[4] nhau do đồng nhất hay
do dị biệt? Nếu đồng nhất thì không có kết hợp. Tại
sao? Pháp nhất thể làm sao tự kết hợp? Như đầu ngón tay
không thể tự nó tiếp xúc chính nó. Nếu kết hợp do dị
biệt thì cũng không thể. Tại sao? Vì đã thành tựu một
cách riêng biệt rồi. Nếu mỗi cái đã tựu thành thì không
cần kết hợp nữa; dù có kết hợp thì cũng vẫn dị biệt.
Lại
nữa, nhất thể hay dị thể đều không thể kết hợp. Vì
sao?
54)Nếu
nhất thể mà hợp;
Kết
hợp không đồng bạn.
Nếu
dị thể hòa hợp:
Kết
hợp không đồng bạn.[5] [5]
Nếu
người nhiễm và pháp nhiễm là nhất thể, nhưng miễn cưỡng
gọi là kết hợp, tất ngoài nhân duyên ra mà có pháp nhiễm
người nhiễm.
Lại
nữa, nếu là nhất thể, thì không nên có hai tên; pháp nhiễm
và người nhiễm. Nhiễm, là pháp. Người nhiễm là nhân cách.
Nếu nhân cách và pháp là một tất là đại loạn. Nếu pháp
nhiễm, người nhiễm mỗi cái dị biệt, mà nói kết hợp
thì không cần các nhân duyên cũng kết hợp. Nếu dị thể
hòa hợp, thì tuy cách nhau xa cũng có thể hòa hợp.[6]
Hỏi:
Nếu nói không hòa hợp thì đúng vậy. Nhưng hiện thấy các
pháp dị biệt kết hợp lại với nhau.
Đáp:
55)Nếu
khác mà có hợp,
Nhiễm,
người nhiễm làm gì?
Hai
tướng ấy trước khác,
Nhiên
hậu nói tương hợp. [6]
Nếu
pháp nhiễm và người nhiễm, trước quyết định có tướng
dị biệt rồi sau mới hòa hợp, tất không thể hòa hợp.
Tại sao? Vì hai tướng này trước đã dị biệt nhưng sau miễn
cưỡng mà nói hòa hợp thôi.
Lại
nữa:
56)Nếu
nhiễm và người nhiễm,
Trước
đã thành tướng dị;
Đã
thành tướng dị biệt,
Làm
thế nào mà hợp? [7]
Nếu
pháp nhiễm và người nhiễm, trước tiên mỗi tự thể đã
thành tướng dị biệt, nay ông sao miễn cưỡng nói tướng
hòa hợp?
Lại
nữa:
57)Tướng
dị không tựu thành,
Thế
nên ông muốn hợp.
Tướng
hợp không tựu thành,
Mà
lại nói tướng dị. [8]
Ông
vì Pháp nhiễm và người nhiễm không tựu thành tướng trạng
dị biệt nên mới nói tướng hòa hợp. Trong tướng hòa hợp
có sai lầm. Pháp nhiễm và người nhiễm vốn không tựu thành.
Vì để chứng thành tướng trạng kết hợp nên lại nói tướng
dị biệt. Ông tự cho là quyết định, nhưng lời nói không
quyết định. Tại sao?
58)Vì
tướng dị bất thành,
Tướng
hợp cũng không thành.
Ở
trong tướng dị nào,
Mà
muốn nói tướng hợp. [9]
Vì
trong đây pháp nhiễm, người nhiễm không thành tựu tướng
trạng dị biệt, do đó tướng hòa hợp cũng không tựu thành.
Ông ở trong tướng trạng dị biệt nào mà nói tướng hòa
hợp?
Lại
nữa:
59)Pháp
nhiễm và người nhiễm,
Không
phải hợp, không hợp.
Các
pháp cũng như thế,
Chẳng
phải hợp, không hợp.[7] [10]
Tất
cả phiền não, tất cả các pháp cũng vậy. Không được chứng
thành bằng các điều kiện (nhân duyên) như kết hợp hay tản
mác, có trước hay có sau.[8]
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Nhiễm là các thứ ô nhiễm ác nghiệp, căn bản của tánh
ô trược là tham, sân, si, vô minh và các phiền não ái ố
v.v..
[2]
Nhiễm giả là người bị tham, sân, si, ái ố v.v.. làm ô nhiễm
hoặc người tạo các thứ ô nhiễm phiền não.
[3]
Muốn tìm ô nhiễm từ đâu có. Nó có trước người tạo
nhiễm hay có sau. Long Thọ Bồ tát giải bày trong bài tụng
thứ 3-4 rằng: Nếu như cho rằng trước tiên đã có người
nhiễm (nhiễm giả), trước có người nhiễm mới có những
ô nhiễm dục vọng (nhiễm pháp) xuất sanh. Quan niệm trước
có người nhiễm rồi sau có nhiễm ô không đúng. Ấy có nghĩa
nhiễm ô đã sẵn có trong mỗi người rồi. Đã có sẵn trong
mỗi người thì còn đâu có nhiễm hoặc cần gì cái nhiễm
bên ngoài nhiễm ô nữa. Như nếu cho rằng con người trước
không có nhiễm. Nhiễm giả không có, thì cũng không có, nhiễm
pháp và khởi nhiễm.
[4]
Bản Hán nói là hợp và thường cho phép hiểu là hòa hợp.
Tiếng Phạn ở đây là sahabhàva, nếu dịch sát, nói là cọng
hữu hay cọng thể. Tức là cả hai cùng tồn tại trong một
nhất thể (ekatva). Hai khái niệm, sahabhàva, và ekatva, ở đây
là căn bản của các quan điểm nhất nguyên luận và nhị
nguyên luận, là hai luận đề quan trọng hàng đầu trong lịch
sử tư tưởng Ấn độ. TS
[5]
từ câu 4-5 Ngài bài bác cho rằng nhiễm giả và nhiễm pháp
là đồng thời có, người nhiễm và pháp nhiễm ô là một,
là khác. Nhiễm giả và pháp nhiễm ô không thể đồng thời
có, bởi vì nếu người nhiễm và pháp nhiễm đồng lúc có
thì không có sự tương quan và tương đãi. Sự thật trong
thế gian là khi người tạo nhiễm ô tham sân v.v… và tham
sân ô nhiễm pháp xuất có sự nương tựa liên quan giữa nhiễm
giả và nhiễm pháp. Nhiễm giả và nhiễm pháp là một cũng
không đúng. Nếu một thì không thể nói hai bên hòa hiệp
nhau. Vì chỉ là một có cái nào khác nữa mà hòa hiệp. Còn
nhiễm giả và nhiễm pháp khác nhau cũng không đúng. Câu cuối
Long Thọ Bồ tát đúc kết: nói khác nói đồng, hiệp hay không
hiệp, đều là trong pháp tương đối. Chính bản thể chân
không (Sùnya) là không phải hiệp. Sanh tử tức Niết-bàn,
phiền não tức Bồ đề.
[7]
Để hiểu khá hơn bài tụng này, cần lưu ý sự cấu tạo
từ ngữ của tiếng Phạn. Từ sahabhàva đã nói gồm hai từ
saha, cùng nhau, và bhàva, tồn tại. Trong từ saha lại gồm
sa: nó và ha (do dha); được nối lại; nghĩa là hai cái nó
được nối lại. Như vậy, từ mâu thuẩn ngay trong khái niệm
nhị nguyên và nhất nguyên, luận tụng đưa ra một phát biểu
ngịch lý: sahàyaư vinàpi sahï, trong cái saha, không có cái
sa. TS
[8]
Trong Nho giáo, Ngài Mạnh Tử nói: Nhơn chi sơ Tánh bổn thiện:
tánh con người đầu tiên vốn là thiện. Ngài Tuân Tử nói:
Nhơn chi sơ Tánh bổn ác: Tánh đầu tiên con người vốn là
ác… Còn Dương Hùng nói, Tánh hỗn hợp, nghĩa là thiện ác
hòa lẫn nhau. Những lời nói của các nhân vật Nho giáo nói
nguồn gốc tánh con người là thiện, là ác v.v.. Lời nói
đó đúng hay không, nên xem lời lý luận của Long Thọ Bồ
tát trên đây thì rõ.
[9]
Vấn đề hợp và không hợp, tiếng Phạn là saha, asaha. Vấn
đế cũng là luận điểm căn bản trong các luận giải A-tì-đàm.
Đó là các pháp câu hữu (saha), là mối quan hệ tồn tại
và hoạt động của tâm và tâm sở, hay tâm sở với tâm sở.
Vì vậy, để có một nhận thức chính xác về bản chất
hoạt động của bộ máy tâm lý, cần nhận thức rõ ý nghĩa
saha này. TS
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt