CHƯƠNG
VIII: QUÁN TÁC, TÁC GIẢ[1]
Hỏi:
Hiện thực có sự tạo tác, có tác giả và tác pháp được
vận dụng. Ba sự thể này phối hợp cho nên có quả báo,
thế nên biết có tác giả và tác nghiệp.
Đáp:
Từ trước tới nay trong mỗi chương, đã phá tất cả pháp,
chẳng còn pháp nào. Như đã phá ba tướng, sinh, trụ, diệt.
Vì ba tướng không nên chẳng có hữu vi. Vì hữu vi thì chẳng
có vô vi. Hữu vi, vô vi đã không, thì tất cả pháp đều
không. Tác và tác giả, nếu thuộc hữu vi, trong đoạn hữu
vi pháp đã phá hủy. Nếu thuộc vô vi, cũng đã hủy phá trong
vô vi. Đáng lẽ không nên lặp lại. Vì tâm chấp trước của
ông quá sâu dày nên lại Hỏi nữa. Nay sẽ đáp:
95)Tác
giả nếu thực hữu,
Không
tạo nghiệp thực hữu.
Tác
giả không thực hữu,
Không
tạo nghiệp bất thực.[2] [1]
Nếu
trước tiên tác giả đã thực hữu[3] và tác nghiệp đã thực
hữu, thì không thể có sự tạo tác. Bằng trước tác giả
không thực hữu, tác nghiệp không thực hữu thì cũng không
có sự tạo tác. Vì sao?
96)Nghiệp
thực hữu không tác,
Vì
nghiệp không tác giả.
Tác
giả thực không tác,
Vì
tác giả không nghiệp. [2]
Nếu
trước tiên tác nghiệp là thực hữu, thì chẳng cần đến
tác giả. Nếu rời tác giả mà có tác nghiệp, thì lẽ ra
có nghiệp được tạo. Nhưng điều ấy không đúng. Hoặc
trước tiên tác giả là thực hữu, cũng không cần có tác
nghiệp. Nếu rời tác nghiệp mà có tác giả thì điều ấy
không đúng. Hoặc trước tiên tác giả là thực hữu, cũng
không cần có tác nghiệp. Nếu rời tác nghiệp mà có tác
giả thì điều ấy không đúng. Do đó tác giả thực hữu
và tác nghiệp thực hữu đều không thể có sự tạo tác.
Tác giả không thực hữu và tác nghiệp không thực hữu thì
cũng không thể có sự tạo tác. Vì sao? Vì bản lai nó vốn
không có. Có tác giả và có tác nghiệp mà còn không thể
tạo tác, huống là không tác giả và không có tác nghiệp.
Lại
nữa:
97)Nếu
tác giả thực hữu,
Và
tác nghiệp thực hữu.
Tác
giả tạo tác nghiệp,
Liền
rơi vào vô nhân. [3]
Nếu
trước tiên tác giả là thực hữu và tác nghiệp cũng thực
hữu mà ông cho rằng tác giả có tạo tức là vô nhơn. Lìa
tác nghiệp có tác gỉa, lìa tác giả có tác nghiệp; thì không
từ nhân duyên mà hiện hữu.
Hỏi:
Nếu không từ nhân duyên mà có tác giả và tác nghiệp thì
có lỗi gì?
Đáp:
98)Nếu
rơi vào vô nhân,
Thì
không nhân, không quả.[4]
Không
tác, không tác giả.
Không
tác pháp vân.[5] [4]
99)Nếu
pháp không tạo tác,
Thì
không có tội phúc.
Vì
tội phúc đều không,
Quả
báo tội phúc không. [5]
100)Chẳng
quả báo tội phúc,
Cũng
không có Niết-bàn.
Những
gì được tạo tác,
Trống
không không kết quả. [6]
Nếu
rơi vào nghĩa vô nhân, thì tất cả pháp không nhân, không
quả. Pháp năng sanh làm nhân, pháp sờ sanh là quả, cả hai
sẽ không. Do cả hai đều không, cho nên không có sự tạo
tác. Chẳng có tác giả cũng không có tác pháp được vận
dụng, cũng chẳng có tội phúc. Vì tội phúc không có, nên
chẳng có quả báo tội phúc và con đường đi đến Niết-bàn.
Thế nên, không thể từ vô nhân phát sinh.
Hỏi:
Nếu tác giả không thực hữu, nhưng tác nghiệp thực hữu
thì có lỗi gì?
Đáp:
Một cái không, còn chẳng thể khởi lên tác nghiệp, huống
là cả hai cái đều không. Thí như người huyễn dựng ngôi
nhà bằng hư không, đấy chỉ có nơi ngôn thuyết mà không
tác giả và chẳng có tác nghiệp.
Hỏi:
Nếu không có tác giả, chẳng có tác nghiệp, thì không có
cái được tạo tác, nhưng ở đây nếu có tác giả, có tác
nghiệp vậy có thể có sự tạo tác?
Đáp:
101)Tác
giả thực, bất thực,
Không
tạo tác hai nghiệp.
Vì
có, không trái ngược,
Một
chỗ chẳng thể hai. [7]
Tác
giả vừa thực hữu vừa không thực hữu, không thể tạo
tác nghiệp vừa thực vừa bất thực. Tại sao? Vì có và không
trái nhau; trong một xứ chẳng thể có hai. Có, là thực hữu;
không, là chẳng thực hữu. Mỗi con người một sự việc,
làm thế nào có thể vừa có vừa không?
Lại
nữa:
102)
Có chẳng thể làm không,
Không
chẳng thể làm có.
Nếu
có tác, tác giả,
Lỗi
kia như trước nói. [8]
Nếu
có tác giả, mà chẳng có tác nghiệp, thì làm sao có cái được
tạo tác? Hoặc chẳng tác giả, nhưng có tác nghiệp cũng không
thể có cái được tạo tác. Vì sao? Như trên đã nói về
trường hợp có. Nếu trước đã có tác nghiệp, thì tác giả
sẽ tạo tác cái gì? Nếu là không có tác nghiệp, làm sao
có thể tạo tác? Như thế là phá nhân duyên và quả báo của
tội phúc v.v.. Thế nên lời tụng nói: “Cái có chẳng thể
tạo cái không, cái không chẳng thể tạo cái có.” Nếu có
tác và tác giả, lỗi kia như trước đã nói.
Lại
nữa:
103)Tác
giả không tạo nghiệp,
Thực
hữu hay bất thực.
Vừa
thực vừa bất thực,
Lỗi
kia trước đã nói.[6] [9]
Nghiệp
thực hữu đã phá hủy, nghiệp bất thực cũng phá hủy luôn,
nghiệp vừa thực vừa bất thực cũng phá. Nay muốn nhất
thời đồng phá hủy nên lời tụng nói: “Thế nên tác giả
không thể tạo tác ba trường hợp của nghiệp.” Nay tác
giả với ba trường hợp cũng chẳng có tạo nghiệp vì sao?
104)Tác
giả thực, bất thực,
Vừa
thực, vừa bất thực,
Không
thể tạo tác nghiệp;
Lỗi
ấy trước đã nói. [10]
Tác
giả thực hay bất thực, hay vừa thực vừa bất thực thảy
đều không thể tạo nghiệp. Vì sao? Như ở trên đã nói về
nhân duyên sai lầm của 3 trường hợp: đây càng nới rộng.
Thế thì trong mọi trường hợp không thể tìm thấy có tác
giả và tác nghiệp.
Hỏi:
Nếu nói rằng không có tác giả, chẳng tác nghiệp thì lại
rơi vào vô nhân?
Đáp:
Nghiệp ấy từ các duyên mà phát sanh, giả gọi là có, cũng
không phải là thực hữu như ông đã nói. Vì sao?
105)Nhơn
nghiệp có tác giả,
Nhơn
tác giả có nghiệp.
Thành
nghiệp nghĩa như thế,
Cũng
không thể khác hơn. [11]
Nghiệp
trước tiên chẳng quyết định. Nhân người khởi nghiệp;
nhân nghiệp, có tác giả, tác giả cũng chẳng có quyết định.
Nhân có tác nghiệp mà nói có tác giả. Cả hai sự thể ấy
phối hợp mà tựu thành tác và tác giả. Nếu do sự hòa hợp
mà phát sanh thì không có tự tánh, vì không có tự tánh, nên
là Không. Không thì không có cái gì được sanh ra. Nhưng tùy
theo sự ức tưởng phân biệt của phàm phu mà nói có tác
giả có tác nghiệp. Trong đệ nhất nghĩa chẳng có tác nghiệp,
tác giả.
Lại
nữa:
106)Như
phá tác, tác giả,
Thọ,
thọ giả cũng thế.
Và
tất cả các pháp,
Cũng
nên như thế phá.[7] [12]
Như
tác và tác giả, không thể tách rời nhau, vì chẳng tách rời
nhau, nên không cố định; vì không cố định nên không tự
tánh. Thọ và thọ giả cũng như thế. Thọ là thân ngũ ấm;
thọ giả là người. Như thế, ngoài người, không có năm
ấm; ngoài năm ấm chẳng có người. Chỉ từ các duyên mà
phát sanh. Như thọ và thọ giả, tất cả pháp còn lại cũng
nên như thế mà phá.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Nguyên đề trong bản Phạn hiện tại: Karma-kàraka-parìkwà,
quán nghiệp và tác giả. Nhưng ở đây từ nghiệp được
hiểu theo nghĩa rất rộng và rất tổng quát, nên dịch là
tác, hay tác nghiệp. Tức phê pháp khái niện hành dộng và
tác giả của hành động. TS
[2]
tác tức hành động tạo tác, tác giả là nói người hành
động. Ngoài tạo tác là tác giả, còn có tác pháp, nghĩa
là các pháp do tác giả hành động tạo tác ra nó. Như người
ăn cắp chiếc áo… Ăn cắp là chỉ hành động tạo tác,
người là chỉ nhân vật, chiếc áo là chỉ tác pháp. Do ba
nhân tố này nên mới tạo thành nhân quả nghiệp báo.
[3]
Trong Hán dịch phần này, các từ, định, quyết định, quyết
định hữu, đều dịch từ tính từ tiếng Phạn là sadbhùta,
có rính chất chân thực hiện thực, hay thực hữu. TS
[4]
Chữ nhân trong câu đầu, tiếng Phạn là hetu, nguyên nhân hay
lý do. Nhân trong câu thứ hai, tiếng Phạn là karaịa, chỉ
tác nhân hay động lực; cùng liên hệ là quả, tiếng Phạn
là kàrya, chỉ thành quả của hành động. Cả hai từ này
đều phái xuất từ động từ căn là KF, làm hay hành động
hay tạo tác. Trong câu thứ tư của bài tụng, Hán dịch sở
dụng tác pháp, tiếng Phạn là kriyà, chỉ sự thực hành,
thi hành, hành vi, hay phương thức hành động. Nhóm gia tộc
từ ngữ như vậy nên lưu ý, để có thể theo dõi sự phê
phán của Luận chủ. TS
[5]
Do đây, Long Thọ Bồ tát nêu những nghi vấn về tác nghiệp,
tác giả để đối đáp, tìm hiểu nguồn gốc chân lý của
nó. Có người cho rằng: trước có tác giả và định nghiệp.
Nếu trước có tác giả và định nghiệp, thì đâu cần đến
hành động tạo tác mới có nghiệp báo. Không tạo tác mà
có nghiệp quả là điều vô lý. Vả lại, trước đã có định
nghiệp rồi thì không cần đến tác giả tạo tác mới có
nghiệp báo. Quán niệm như thế là quan niệm vô nhân. Không
nhân thì không có quả, không tội phúc. Không tội phước,
nhân quả thì không địa ngục Niết-bàn. Nó không khác gì
hư không trống rỗng.
[6]
Từ câu 118 Long Thọ Bồ tát đề cao những ngoại đạo thường
chấp nhân sinh trước có định nghiệp và bất định nghiệp.
Ngài chứng minh rằng không thể trong một người hoặc một
chỗ mà có cả định và bất định. Bởi vì có và không
mâu thuẩn nhau.
[7]
Các pháp duyên sanh, cái này có thì cái kia có. Nhân vì nghiệp
mới có tác giả. Nhân vì tác giả, mới có nghiệp và tạo
nghiệp. Đấy chính là lý tương quan tương duyên, nên phải
nhận thức một cách thiết thực và hữu lý.
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt