CHƯƠNG
XV: QUÁN HỮU VÔ[1]
Hỏi:
Các Pháp thảy đều có tự tánh vì có lực dụng. Như chiếc
bình có tự tánh của bình, vải cũng có tự tánh của vải.
Khi nào các duyên hòa hiệp, tánh ấy xuất hiện phải không?
Đáp:
171)Trong
các duyên có tánh,
Điều
ấy thì không đúng.
Tánh
xuất hiện từ duyên,
Phải
là pháp tạo tác.[2] [1]
Nếu
các pháp có tự tánh, không thể xuất hiện từ các duyên.
Vì sao? Nếu xuất hiện từ các duyên thì đó là pháp tạo
tác, không có tự tánh cố định.
Hỏi:
Nếu tự tánh của các pháp được tác thành từ các duyên,
thì sai lầm ở chỗ nào?
Đáp:
172)Nếu
tánh do tạo tác,
Làm
sao có nghĩa này.
Tánh
không do tạo tác,
Không
lệ thuộc pháp khác. [2]
Như
vàng lẫn lộn đồng thì chẳng phải vàng ròng. Cũng thế,
nếu có tự tánh thì không cần đến các duyên. Nếu từ các
duyên mà xuất hiện nên biết chẳng phải là thật tánh. Lại
nữa, tánh nếu cố định thì không cần phải lệ thuộc cái
khác mới có thể xuất hiện. Không phải như dài và ngắn,
cái này và cái kia. Vì chúng không có tự tánh quyết định,
nên phải lệ thuộc cái khác mới có.
Hỏi:
Các pháp nếu không có tự tánh, vậy chúng có thể có tha
tánh?
Đáp:
173)Pháp
nếu không tự tánh,
Làm
gì có tha tánh.
Tự
tánh đối tha tánh,
Cũng
gọi là tha tánh. [3]
Vì
do các duyên tạo ra, và cũng vì do đối đãi mà thành cho nên
các pháp vốn không có tự tánh. Nếu thế, tha tánh đối với
tha tánh cũng là tự tánh, bởi từ các duyên mà sinh. Do nương
nhau nên cũng là không, không làm thế nào nói các pháp từ
tha tánh phát sanh vì tha tánh cũng là tự tánh.
Hỏi:
Nếu lìa tự tánh và tha tánh mà có các pháp thì có lỗi gì?
Đáp:
174)Lìa
tự tánh, tha tánh,
Làm
sao có các pháp.
Nếu
có tự, tha tánh,
Các
pháp mới được thành. [4]
Ông
nói lìa tự tánh và tha tánh mà có các pháp; điều này không
đúng. Nếu lìa tự, tha tánh, không có các pháp. Vì sao? Có
tự tánh, tha tánh thì pháp mới có thể tựu thành. Thí dụ
như chiếc bình là tự tánh thì y phục các thứ là tha tánh.
Hỏi:
Nếu lấy tự tánh, tha tánh để phá cái có thì ở đây có
thể có cái không?
Đáp:
175)Hữu
nên không thành tựu,
Vô
làm sao được thành.
Vì
nhơn có pháp hữu,
Hữu
hoại gọi là vô. [5]
Nếu
ông đã chấp nhận cái hữu không thành, thì cũng nên chấp
nhận cái vô cũng không. Vì sao? Pháp hữu bị hoại diệt,
nên gọi là vô. Vô, nghĩa là cái hữu bị hoại diệt mà thành
vô.
176)Nếu
người chấp hữu vô,
Chấp
tự tánh, tha tánh;
Như
thế tất không thấy,
Nghĩa
chân thật Phật pháp. [6]
Nếu
người đắm chấp các pháp, tất tìm cầu cái kiến chấp
về hữu. Nếu phá tự tánh thì có kiến chấp về tha tánh.
Nếu phá tha tánh thì có kiến chấp hữu. Phá hữu lại kiến
chấp vô. Nếu phá vô thì mê hoặc! Nếu hàng lợi căn ít
tâm chấp trước, biết rằng hủy diệt những kiến chấp,
tất được an ổn, sẽ không còn sanh khởi bốn thứ hí luận:
có, không, chẳng phải có, chẳng phải không; cũng có, cũng
không; người ấy, quyết định thấy nghĩa chân thật của
Phật Pháp. Thế nên nói bài tụng trên.
Lại
nữa:
177)Phật
hay diệt hữu vô,
Như
được nói trong kinh
Giáo
giới Ca-chiên-diên,
Lìa
Hữu cũng lìa vô. [7]
Trong
kinh “San-đà Ca-chiên-diên”, Đức Thế Tôn giảng cho Ca-chiên-
diên về ý nghĩa chánh kiến, lìa có, không. Nếu trong các
pháp có một chút gì là thực hữu; đức Phật không bao giờ
có thể hủy phá có không. Nếu phá có thì người ta cho là
không. Phật thông đạt tướng của chư pháp nên nói cả hai
đều không. Thế nên ông phải bỏ kiến chấp có không.
Lại
nữa:
178)Nếu
pháp thật có tánh,
Sau
không thể biến dị.
Tánh
nếu có tướng dị,
Điều
ấy không hề đúng. [8]
Nếu
các pháp đều quyết định có tánh thì không bao giờ có thể
biến dị. Vì sao? Nếu quyết định có tự tánh, không thể
có tướng dị biệt như ví dụ vàng thật ở trên. Vì nay
hiện thấy các pháp tương dị biệt, nên biết không có tướng
cố định.
Lại
nữa:
179)Nếu
pháp thật có tánh,
Sao
có thể biến dị?
Pháp
nếu thật không tánh,
Sao
có thể biến dị? [9]
Nếu
pháp quyết định có tánh, làm thế nào có thể biến đổi?
Nếu không tự tánh, chẳng có tự thể, làm sao có thể biến
đổi?
Lại
nữa:
180)Thật
có là chấp thường,
Thật
không là chấp đoạn.
Thế
nên người có trí,
Chẳng
nên chấp có không. [10]
Nếu
pháp quyết định có tướng hữu thì không bao giờ có tướng
vô; ấy tức là thường. Vì sao? Như nói ba đời. Trong đời
vị lai có tướng của pháp; pháp ấy đi đến hiện tại rồi
chuyển sang quá khứ mà không mất bổn tướng của nó, tức
là thường. Lại nói, trong nhân trước có quả; cũng là thường.
Nếu nói quyết định có cái vô; cái vô ấy, tất trước
có nay không, thế là đoạn diệt; đoạn diệt là không có
sự tương tục. Do vì hai kiến chấp mà xa lìa Phật Pháp.
Hỏi:
Vì sao nhơn chấp có mà sanh thường kiến; nhơn chấp không
phát sanh đoạn kiến?
Đáp:
181)Nếu
pháp có định tánh,
Phi
vô tức là tường.
Trước
có mà nay không.
Ấy
tức là đoạn diệt. [11]
Nếu
pháp tánh quyết định có; thì đó là tướng có chứ không
phải là tướng không, và không bao giờ có thể trở thành
không. Nếu không, thì không phải là có, tức là pháp vô.
Ở trên đã nói đến sự sai lầm này. Theo đó, nó sẽ rơi
vào thường kiến. Nếu pháp trước có, hoại diệt mà thành
không thì gọi là đoạn diệt. Tại sao? Vì cái có chẳng thể
là cái không. Vì ông nói có và không đều có tướng cố
định. Nếu có kiến chấp đoạn, thường thì không có tội,
phước v.v.. là hủy phá sự thực thế gian, thế nên phải
xả.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Đề chương theo bản Phạn hiện tại là “Svabhàva-parìkwà”,
phê phán khái niệm svabhàva, thường dịch là tự thể, hay
tự tánh. Đây là một trong các từ khóa của Trung luận. Từ
này cùng ngữ tộc với các từ hữu (bhava), không (abhava),
thể (bhàva), vô thể (abhàva), là những từ phái xuất của
động từ căn BHÙ: là, hay trở thành; và thông thường cũng
dịch là hiện hữu hay tồn tại. Do đó, làm rõ ý nghĩa hữu
(bhava) và vô (abhava) cũng là để làm rõ ý nghĩa svabhàva.
Đó là luận điểm chính của chương nầy. TS
[2]
Quán hữu vô là quán tất cả các pháp hữu vi, vô vi, các
tự tánh hay không tự tánh. Các pháp nếu thật có tự tánh
riêng biệt thì nó không bị thay đổi biến dịch. Còn nếu
nó không tự tánh, thì tha tánh cũng không. Ngoài tha tánh và
tự tánh tìm không thấy có tánh nào khác. Chấp các pháp có
định tánh thì mắc phải lỗi chấp thường (thường kiến).
Chấp các pháp không có định tánh thì bị lỗi chấp đoạn
(đoạn kiến). Người có trí tuệ sáng suốt, không nên chấp
thường, đoạn, hữu, vô v.v… không một pháp nào có tánh
quyết định, vì tất cả đều do nhân duyên hòa hiệp, hình
thành luôn luôn thay đổi, không pháp tướng nào nhất định
mãi mãi…
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt