CHƯƠNG
XXII: QUÁN NHƯ LAI
Hỏi:
Bậc tôn quý nhất trong tất cả thế gian chỉ có Như Lai là
đấng Chánh biến tri, hiệu là Pháp Vương. Lẽ tất nhiên
phải có bậc Nhất thế trí,.
Đáp:
Nay hãy suy nghĩ kỹ, nếu có nên chấp nhận, nếu không thì
nhận cái gì? Tại sao?
Như
Lai,
Không
ấm, chẳng lìa ấm,
Đây
kia không trong nhau.[1]
Như
Lai không có ấm,
Chỗ
nào có Như Lai?[2] [1]
Nếu
Như Lai thật có, thì năm ấm chính là như Lai hay là lìa năm
ấm có Như Lai? Hay trong Như Lai có năm ấm? Hay trong năm ấm
có Như Lai? Hay Như Lai có năm ấm? Điều ấy không đúng. Năm
ấm chẳng phải Như Lai. Tại sao? Vì năm ấm là tướng sanh
diệt. Nếu Như Lai tức là năm ấm; Như Lai tức là tướng
sanh diệt. Nếu là tướng sanh diệt, thì Như Lai tức có những
lỗi vô thường, đoạn diệt v.v.. Lại, thọ giả, thọ pháp
là một. Thọ giả là Như Lai. Thọ pháp là năm ấm. Điều
ấy không đúng. Thế nên, Như Lai chẳng phải tức là năm
ấm.
Lìa
năm ấm cũng không có Như Lai. Nếu lìa năm ấm mà có Như
Lai, thì không nên có tướng sanh diệt. Nếu vậy Như Lai có
những lỗi thường v.v.. Lại, mắt v.v.. các căn không thể
thấy biết Như Lai. Song điều ấy không đúng. Thế nên lìa
năm ấm cũng không Như lai.
Trong
Như Lai cũng không năm ấm, Vì sao? Nếu trong Như Lai có năm
ấm, như trong dĩa có trái cây, hay là trong nước có cá; thế
là có dị biệt. Nếu dị biệt tức có lỗi thường v.v..
như trên. Thế nên, trong Như Lai không năm ấm.
Lại
trong năm ấm cũng không có Như Lai, Vì sao? Nếu trong năm ấm
có Như Lai, như trên giường có người, như trong ly có sữa;
như thế thì có sự cá biệt và dị biệt, mắc lỗi đã nói
như trên. Thế nên trong năm ấm không có Như Lai.
Như
Lai cũng không có năm ấm. Vì sao? Nếu Như Lai có năm ấm,
như người có con, thế là có cá biệt và dị biệt; nếu
vậy, có lỗi như trên. Điều ấy không đúng. Thế nên Như
Lai không có năm ấm. Như thế trong năm, thử tìm kỹ, không
thể được. Vậy, cái gì là Như Lai?
Hỏi:
Bằng những nghĩa như thế mà tìm Như Lai không thể có. Nhưng
năm ấm hòa hiệp có Như Lai được chăng?
Đáp:
Ấm
hiệp[3] có Như Lai,
Thì
không có tự tánh.
Nếu
không có tự tánh,
Làm
sao nhơn tha có?[4] [2]
Nếu
Như Lai do năm ấm hòa hiệp mà có, tức là không tự tánh.
Tại sao? Vì nhơn năm ấm hòa hiệp mà có.
Hỏi:
Như Lai không do tự tánh mà có; nhưng nhơn tha tánh có?
Đáp:
Nếu không có tự tánh, làm thế nào nhơn tha tánh có. Vì sao?
Tha tánh cũng không tự tánh. Lại, vì không có nhân tương
đãi, nên tha tánh không thể. Vì không thể được nên không
gọi là tha.
Lại
nữa:
Pháp
nếu nhân tha tánh,
Ấy
là chẳng phải ngã.
Nếu
pháp không phải ngã,
Làm
gì cóNhư Lai? [3]
Pháp
nếu do các duyên hòa hiệp sanh thì không có ngã. Như nhơn
năm ngón tay mà có nắm tay; nắm tay không có tự thể. Như
thế, nhân năm ấm gọi là ngã. Ngã đó tức là không tự
thể. Ngã có nhiều tên; hoặc là chúng sanh, hoặc gọi Trời,
người, Như Lai v.v… Nếu Như Lai nhân năm ấm mà có, tức
là không có tự tánh. Vì không có tự tánh nên không có ngã.
Nếu không có ngã; làm thế nào nói là Như Lai? Thế nên trong
bài tụng nói, “Pháp nếu nhân tha sanh, thì chẳng phải có
ngã. Nếu pháp không có ngã, cái gì là như Lai?”
Lại
nữa:
Nếu
không có tự tánh,
Làm
sao có tha tánh?
Lìa
tự tánh, tha tánh,
Đâu
gọi là Như Lai? [4]
Nếu
không có tự tánh, tha tánh cũng không thể có. Vì nhân tự
tánh nên gọi tha tánh; bởi đây không, kia cũng không; thế
nên tự tánh, tha tánh cả hai đều không. Nếu ngoài tự tánh,
tha tánh, cái gì là Như Lai?
Lại
nữa:
Nếu
không nhân năm ấm[5],
Mà
trước có Như Lai;
Thì
nay vì thọ ấm,
Nên
nói là như Lai. [5]
Nay
thật không thọ ấm[6],
Lại
không pháp Như lai.
Nếu
không, vì không thọ,
Nay
làm sao có thọ?[7] [6]
Nếu
kia chưa có thọ,
Sở
thọ không gọi thọ[8] .
Chẳng
có pháp không thọ,
Mà
gọi là như Lai. [7]
Nếu
đối trong nhất, dị[9],
Như
Lai không thể được.
Năm
thứ tìm cũng không,
Làm
sao có trong thọ? [8]
Lại
sở thọ năm ấm,
Không
từ tự tánh có[10].
Nếu
không có tự tánh,
Làm
gì có tha tánh? [9]
Nếu
chưa có thọ (chấp thủ) năm ấm, mà trước có Như Lai ấy;
thì Như Lai ấy nay sau khi thọ năm ấm rồi cũng có thể đã
là Như Lai. Nhưng thật sự khi chưa thọ năm ấm, trước không
có Như lai, nay làm thế nào có thể thọ? Lại không thọ năm
ấm, thì năm ấm không được gọi là thọ; không thể không
có thọ mà gọi là Như Lai. Lại, Như Lai trong nghĩa nhất dị
tìm không thể được; trong năm ấm, bằng năm cách, tìm cũng
chẳng thể; nếu vậy làm thế nào trong năm ấm nói có Như
Lai? Lại, sở thọ năm ấm không từ tự tánh có, làm thế
nào có từ tha tánh. Vì sao? Bởi không có tự tánh thì tha
tánh cũng không.
Lại
nữa:
Bởi
vì nghĩa như thế,
Thọ
không, thọ giả không.
Làm
sao chính do không,
Mà
nói không Như Lai? [10]
Theo
nghĩa đó mà tư duy, thọ và người thọ đều không. Nếu
Thọ không, làm sao do thọ không mà nói Như Lai không?
Hỏi:
Ông nói thọ không, thọ giả không; thế thì quyết định
có cái không chăng?
Đáp:
Không phải vậy. Vì sao?
Không
thì không thể nói,
Chẳng
không cũng không thể.
Không
nói cộng bất cộng,
Chỉ
bằng giả danh nói. [11]
Các
pháp không, thì không thể nói. Các pháp bất không, cũng không
thể nói. Các pháp vừa không vừa bất không cũng không thể
nói. Tại sao? Vì để loại bỏ mâu thuẫn (tương vi), nên
bằng vào giả danh mà nói. Như thế, chánh quán mà tư duy,
trong thật tướng các pháp, không nên dùng các pháp để vấn
nạn. Vì sao?
Trong
tịch diệt không có
Thường,
vô thường vân vân.
Trong
tịch diệt không có
Biên,
vô biên vân vân. [12]
Thật
tướng các pháp là tịch diệt vi diệu như thế. Căn cứ đời
quá khứ khởi bốn thứ tà kiến: Thế gian hữu thường; thế
gian vô thường; thế gian vừa thường vừa vô thường; thế
gian phi thường phi vô thường. Trong tướng tịch diệt đều
không có những cái như vậy. Vì sao? Thật tướng các pháp
cứu kính thanh tịnh, không thể chấp thủ. Không, còn chẳng
thể thọ huống là có bốn thứ kiến chấp đều do thọ phát
sanh. Thật tướng các pháp không có sở nhân bởi thọ. Trong
bốn thứ kiến chấp, đều cho kiến chấp của mình là quí,
còn kiến chấp của kẻ khác là thâp kém. Thật tướng các
pháp không có đây kia. Thế nên nói trong tịch diệt không
có bốn thứ kiến chấp. Cũng như căn cứ đời quá khứ mà
có bốn thứ kiến chấp, cũng như thế: Thế gian hữu biên,
thế gian vô biên; thế gian vừa hữu biên vừa vô biên, thế
gian phi hữu biên phi vô biên.
Hỏi:
Nếu bác bỏ Như Lai như thế, thì không có Như Lai chăng?
Người
tà kiến thâm hậu,
Thì
nói không Như Lai.
Như
Lai tướng tịch diệt,
Phân
biệt có, chẳng phải. [13]
Tà
kiến có hai thứ: 1- Bác bỏ sự an lạc của thế gian. 2- Bác
bỏ đạo Niết-bàn.
Bác
bỏ sự an lạc thế gian là tà kiến thô; nói không tội, không
phước, không có quả báo của tội phước, không có Như Lai
và những bậc hiền, thánh v.v..; khởi các tà kiến, bỏ thiện,
làm ác. Ấy là phá sự an lạc thế gian.
Phá
đạo Niết-bàn, là do tham đắm nơi ngã, phân biệt có, không,
khởi niệm thiện, ác; vì làm thiện thì được sự an lạc
thế gian; bởi phân biệt có và không nên chẳng đắc Niết-bàn.
Thế nên, nếu nói không có Như Lai chính là tà kiến sâu dày
làm mất sự an lạc thế gian huống là Niết-bàn.
Nếu
nói có Như Lai cũng là tà kiến. Vì sao? Như Lai vốn là tướng
tịch diệt nhưng do các thứ phân biệt, thế nên trong tướng
tịch diệt mà phân biệt có Như lai; ấy cũng không đúng.
Như
thế trong tánh không,
Suy
nghĩ cũng không thể.
Như
Lai sau khi diệt,
Phân
biệt thành có không. [14]
Thật
tướng của các pháp là Tánh Không, cho nên không thể tư duy
phân biệt rằng Như Lai sau khi diệt độ hoặc có, hoặc không
hay vừa có vừa không. Như Lai từ trước đến giờ, rốt
ráo là không, huống là sau khi diệt độ.
Như
Lai vượt hí luận.
Mà
người sanh hí luận.
Hí
luận mất tuệ nhãn,
Đều
không thể thấy Phật.[11] [15]
Hí
luận, là do tưởng tượng mà chấp thủ tướng, rồi phân
biệt đây kia. Nói Phật diệt độ hay là không diệt v.v..
người ấy bị hí luận che lấp mất trí tuệ, không thể
thấy Pháp thân Như Lai. Trong chương như Lai này, từ khoảng
đầu khoảng giữa và khoảng cuối, suy nghĩ về Như Lai mà
không thể tìm thấy có tánh quyết dịnh. Thế nên bài tụng
nói:
Như
Lai mà có tánh,
Tức
là tánh thế gian.
Như
Lai không có tánh,
Thế
gian cũng không tánh[12]. [16]
Trong
chương này, tư duy suy tầm về tánh Như Lai cũng tức là tánh
tất cả thế gian.
Hỏi:
Những gì là tánh Như Lai?
Đáp:
Như Lai không có tự tánh cũng đồng thế gian không có tự
tánh.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Hán: bỉ thử bất tương tại. Phạn: nàsmiư skandhà na tewu
sahï, các uẩn không ở trong Như Lai; Như Lai không ở trong
các uẩn.
[2]
Như Lai: Như nghĩa là như như bất động, trước sau không
sai khác. Lại nghĩa là đến tam giới, độ sanh không gì chướng
ngại. Thân Như Lai không phải là thân ngũ ấm cũng không phải
hoàn toàn không ngũ ấm. Nó là phi hữu phi vô. Thân ngũ ấm
do nhân duyên hòa hiệp, thân Như Lai không phải từ sự hòa
hiệp của ngũ ấm tứ đại. Do thân Như Lai không phải từ
sự thọ lãnh mà có hoặc không từ sự thọ lãnh mà có. Bởi
vì thân Như Lai là chân không (Sùnya), ngoài bốn tà kiến và
biên kiến.
[3]
Hán: ấm hiệp. Phạn: skandhàn upàdàya, y chỉ trên các uẩn.
[4]
Hán: nhân tha hữu. Phạn: sa parabhàvatahï, từ tha thể (tha
tánh) mà có.
[5]
Hán: nhân ngũ ấm. Phạn: skandhàn upàdàya. Từ Phạn này ở
đây được dùng theo hai nghĩa: y chỉ trên các uẩn; và chấp
thủ các uẩn, mà từ kép thường gặp là upàdàna-skandha,
thủ uẩn, uẩn do chấp thủ.
[6]
Hán: bất thọ ấm. Phạn: skandhàn anupàdàya, không y chỉ trên
các uẩn; từ đó dẫn đến khái niệm anupàdàna-skandhà, phi
thủ uẩn, tức uẩn không do chấp thủ, hay không được chấp
thủ.
[7]
Hán: nhược dĩ bất thọ vô, kim đương vân hà thọ. Phạn:
yaz ca nàsty anupàdàya sa upàdàsyate katham? Cái gì không do y
chỉ (= cái gì có không do chấp thủ), làm sao bị y chỉ (=làm
sao bị chấp thủ)?
[8]
Hán: nhược kỳ vị hữu thọ, sở thọ bất danh thọ. Phạn:
na bhavaty anupàdattam upàdànaư ca kiưcana, nếu không có cái
bị chấp thủ, thì cái chấp thủ cũng không.
[9]
Hán: ư nhất dị trung. Phạn: tatvànyatvena, bằng thật thể
và dị thể
[10]
Phạn: yad apìdam upadànaư tat svabhàvàn na vidyate, thủ không
được tìm thấy từ tự thể.
[11]
Hí luận: là chỉ tư tưởng vọng chấp sai lầm tà kiến.
[12]
Phạn: tathàgato yat svabhàvas tat svabhàvaư idaư jagat, tathàgato
nihïsvabhàvo nihïsvabhàvam idaư jagat: tự tánh (hay tự thể)
của Như Lai cũng chính là tự tánh của thế gian này. Như
Lai ly tự tánh, thế gian này cũng là ly tự tánh.
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt