CHƯƠNG
XXV: QUÁN NIẾT BÀN
Hỏi:
Nếu
tất cả pháp không,
Không
sanh cũng không diệt;
Đoạn
cái gì, diệt gì,
Mà
gọi là Niết-bàn? [1]
Nếu
tất cả pháp Không thì không sanh, không diệt. Không sanh, không
diệt, thì đoạn cái gì, diệt cái gì mà gọi Niết-bàn? Thế
nên, tất cả pháp không thể Không. Bởi vì pháp là bất không,
cho nên đoạn các phiền não, diệt ngũ ấm gọi là Niết-bàn.
Đáp:
Nếu
các pháp bất không,
Thì
không sanh, không diệt.
Đoạn
cái gì, diệt gì,
Đó
gọi là Niết-bàn ?[1] [2]
Nếu
tất cả thế gian là bất không, không có sanh diệt; đoạn
cái gì, diệt gì mà gọi là Niết-bàn? Thế nên, hai cánh cửa
có và không chẳng mở vào Niết-bàn. Được gọi là Niết-bàn:
Không
đắc cũng không đến[2],
Không
đoạn cũng không thường;
Không
sanh cũng không diệt,
Ấy
gọi là Niết-bàn. [3]
Không
đắc, không có gì là sở đắc đối với hành và đối với
quả. Không đến, là không chỗ nào để đạt đến. Không
đoạn, là năm ấm từ trước đến giờ rốt ráo Không; khi
đắc đạo, nhập Vô dư Niết-bàn cũng không có cái bị đoạn
trừ. Không thường là, nếu có pháp nào có thể phân biệt
được tức gọi là thường. Niết-bàn là tịch diệt, không
có pháp nào có thể phân biệt, nên không gọi thường. Sanh
diệt cũng vậy. Tướng như thế gọi là Niết-bàn.
Lại
nữa, Kinh nói Niết-bàn chẳng phải có; chẳng phải không;
chẳng phải vừa có vừa không; chẳng phải vừa chẳng có
vừa chẳng không. Đối tất cả pháp mà không thọ, nội tâm
tịch diệt; đó là Niết-bàn. Vì sao?
Niết-bàn
không gọi có,
có
tức tướng lão tử.
Không
hề có pháp có,
Lìa
tướng lão tử ra.[3] [4]
Nhận
thấy thực tế rằng tất cả vạn vật đều sanh diệt, là
tướng già chết. Niết-bàn nếu có thì cũng phải có tướng
già chết. Song điều ấy không đúng. Cho nên Niết-bàn không
gọi là có. Lại không thấy lìa sanh tử riêng có pháp cố
định nào gọi là Niết-bàn. Nếu Niết-bàn là Có, tức có
tướng sanh diệt, già chết. Bởi vì lìa tướng già chết
mà gọi là Niết-bàn.
Lại
nữa:
Nếu
Niết-bàn là hữu,
Niết-bàn
tức hữu vi.
Không
có pháp hữu nào,
Mà
gọi là vô vi. [5]
Niết-bàn
chẳng phải là hữu. Vì sao? Tất cả vạn vật từ các duyên
sanh khởi, đều là hữu vi không có một pháp nào gọi là
vô vi. Tuy pháp thường hằng được giả danh là vô vi, nhưng
dùng lý suy xét, pháp vô thường còn không có huống là pháp
thường hằng. Vì không thể thấy, không thể đắc.
Lại
nữa:
Nếu
Niết-bàn là hữu,
Làm
sao gọi vô thủ[4]?
Không
có một pháp nào,
Chẳng
từ thủ mà hữu.[5] [6]
Nếu
nói Niết-bàn là pháp có (hữu thể) thì kinh tất không nên
nói Vô thủ là Niết-bàn, Vì sao? Chẳng có pháp có (hữu thể)
nào không có thủ mà hiện hữu. Thế nên Niết-bàn chẳng
phải có (hữu thể).
Hỏi:
Nếu có chẳng phải Niết-bàn thì không là Niết-bàn chăng?
Đáp:
Có[6]
còn chẳng Niết-bàn,
Huống
là không[7] ấy ư!
Niết-bàn
không có Hữu,
Chỗ
nào sẽ có Vô? [7]
Nếu
có (hữu) chẳng phải Niết-bàn thì không (vô) làm sao là Niết-bàn?
Vì sao? Nhơn có hữu nên có vô; nếu không cái hữu làm gì
có cái vô. Như kinh nói, “Trước có nay không thì gọi không
(vô).” Niết-bàn không phải thế. Tại sao? Vì chẳng phải
là pháp có (hữu) biến đổi thành không (vô), nên cái không
(vô) cũng chẳng trở thành Niết-bàn.
Lại
nữa:
Nếu
Niết-bàn là không(vô),
Làm
sao nói không thủ?
Chưa
từng có vô thủ,
Mà
gọi là pháp không (vô)[8]. [8]
Nếu
nói không (vô) là Niết-bàn; thì kinh tất đã không nói, “không
chấp thủ là Niết-bàn.” [9] Vì sao? Không có trường hợp
nào không chấp thủ mà được gọi là pháp không (vô pháp).
Thế nên Niết-bàn chẳng phải không (vô ).
Hỏi:
Nếu Niết-bàn chẳng phải hữu chẳng phải vô, thì cái gì
là Niết-bàn?
Đáp:
Chấp
thủ các nhân duyên,
Luân
chuyển trong sanh tử.
Không
thủ các nhân duyên,
Ấy
gọi là Niết-bàn[10]. [9]
Bởi
không biết như thật những điên đảo, nhơn năm thủ ấm
mà qua lại trong sanh tử. Vì biết như thật các thứ điên
đảo thì không trở lại chấp thủ năm thủ ấm qua lại sanh
tử. Do năm ấm vốn không tự tánh chẳng còn tiếp nối trở
lại, gọi đó là Niết-bàn.
Lại
nữa:
Như
trong kinh Phật dạy:
Đoạn
hữu, đoạn phi hữu.
Thế
nên biết, Niết-bàn
Chẳng
có cũng chẳng không. [10]
Hữu
chỉ cho ba cõi. Phi hữu chỉ cho sự đoạn diệt của ba cõi.
Phật dạy đoạn trừ hai sự này, nên biết Niết-bàn chẳng
phải hữu cũng chẳng phải vô.
Hỏi:
Nếu hữu hay vô đều không chẳng phải là Niết-bàn, nay hữu
và vô chung hiệp, đó là Niết-bàn chăng?
Đáp:
Nói
sự hữu và vô,
Hiệp
lại thành Niết-bàn.
hữu,
vô tức giải thoát,
Điều
ấy thì không đúng. [11]
Nếu
nói sự hợp nhất hữu và vô là Niết-bàn; tức là hợp nhất
hai điều hữu và vô thành giải thoát; điều ấy không đúng.
Vì sao? Hai sự thể hữu và vô trái nhau, làm thế nào cùng
tồn tại ở một chỗ?
Lại
nữa:
Nếu
nói hữu và vô,
Hiệp
lại thành Niết-bàn.
Niết-bàn
phi vô thủ,
Hai
sự từ thủ sanh. [12]
Nếu
hữu và vô hiệp thành Niết-bàn thì kinh không nên nói Niết-bàn
là vô thủ. Vì sao? Hai điều hữu và vô từ thủ mà sanh,
đối đãi nhau mà có; thế nên hai điều hữu và vô chẳng
thể hiệp thành Niết-bàn.
Lại
nữa:
Hữu,
vô chung hiệp thành,
Làm
sao gọi Niết-bàn?
Niết-bàn
là vô vi,
Hữu
vô là hữu vi. [13]
Hai
sự thể hữu và vô chung hiệp không thể gọi Niết-bàn. Niết-bàn
là vô vi. Hữu và vô là hữu vi. Thế nên hữu và vô chẳng
phải Niết-bàn.
Lại
nữa:
Hai
sự hữu, vô hiệp,
Làm
sao là Niết-bàn?
Hai
sự không cùng chỗ,
Như
sáng, tối bất đồng. [14]
Hai
điều hữu và vô, chẳng thể gọi Niết-bàn, Vì sao? Hữu
và vô mâu thuẫn nhau, không thể có chung một chỗ. Như sáng
và tối không cùng chung. Thế nên, lúc có thì chẳng thể không,
khi không thể chẳng thể có. Làm thế nào Có và Không chung
hiệp mà gọi Niết-bàn?
Hỏi:
Nếu hữu và vô chung hiệp chẳng phải Niết-bàn; nay chẳng
phải hữu chẳng phải vô, nên là Niết-bàn chăng?
Đáp:
Nếu
phi hữu phi vô,
Gọi
đó là Niết-bàn;
Phi
hữu phi vô này,
Do
đâu mà phân biệt? [15]
Nếu
Niết-bàn là phi hữu phi vô; phi hữu phi vô này do đâu mà
phân biệt? Thế nên, phi hữu phi vô là Niết-bàn, điều ấy
không đúng.
Lại
nữa:
Phân
biệt phi hữu vô,
Như
thế là Niết-bàn.
Nếu
hữu, vô thành tựu,
Phi
hữu phi vô thành. [16]
Ông
phân biệt phi hữu phi vô là Niết-bàn; điều ấy không đúng.
Vì sao? Nếu hữu vô mà thành nhiên phi hữu phi vô mới tựu
thành. Trái hẳn với hữu gọi là vô; trái hẳn với vô gọi
là hữu. Hữu vô ấy, trong cú nghĩa thứ ba đã phá. Vì không
có hữu vô, làm thế nào có phi hữu phi vô? Thế nên, Niết-bàn
chẳng phải phi hữu, chẳng phải phi vô.
Lại
nữa:
Như
Lai sau diệt độ,
Không
nói Có cùng Không.
Cũng
không nói Có Không,
Chẳng
Có và chẳng Không. [17]
Như
Lai đang hiện tại,
Không
nói Có cùng Không.
Cũng
không nói Có không.
Chẳng
Có và chẳng Không. [18]
Như
Lai sau khi diệt độ, hoặc đang hiện tại, mà nói rằng có
Như Lai, không được thừa nhận[11]; nói rằng không có Như
Lai, cũng không được thừa nhận; vừa có Như Lai vừa không
có Như Lai, cũng không được thừa nhận; chẳng phải có Như
Lai, chẳng phải không Như Lai cũng không được thừa nhận.
Bởi vì không chấp thủ, không nên phân biệt Niết-bàn là
hữu hay vô. Lìa Như Lai ra, ai sẽ chứng đắc Niết-bàn? Khi
nào, ở đâu? bằng pháp gì mà nói đắc Niết-bàn? Thế nên,
tất cả thời, và mọi cách, tìm tướng Niết-bàn không thể
được.
Lại
nữa:
Niết-bàn
cùng thế gian,
Không
có chút phân biệt.
Thế
gian và Niết-bàn,
Cũng
không chút phân biệt. [19]
Vì
nhân duyên năm ấm tương tục qua lại mà gọi là thế gian.
Tánh của năm ấm hoàn toàn không, không chấp thủ, tịch diệt;
nghĩa này trước đã nói. Bởi vì tất cả pháp không sanh,
không diệt; nên thế gian không khác biệt Niết-bàn; Niết-bàn
cũng không khác biệt thế gian.
Lại
nữa:
Thật
tế của Niết-bàn,
Và
thật tế Thế gian.[12]
Như
thế hai thật tế
Không
hào ly sai biệt. [20]
Cứu
cánh tìm kỹ, thật tế của Niết-bàn và thế gian đều là
biên tế vô sanh; bởi vì bình đẳng, bất khả đắc, không
hào ly sai biệt.
Lại
nữa:
Sanh
diệt, có hay không,
Hữu
biên, thường vân vân.
Kiến
chấp y Niết-bàn,
Đời
quá khứ, vị lai. [21]
Như
Lai sau khi diệt độ, Như Lai tồn tại, hay Như Lai không tồn
tại, hay Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay Như
lai chẳng phải vừa tồn tại vừa không tồn tại. Thế gian
là hữu biên; thế gian là vô biên; thế gian vừa hữu biên
vừa vô biên; thế gian chẳng hữu biên chẳng vô biên. Thế
gian là thường; thế gian là vô thường; thế gian vừa thường
vừa vô thường; thế gian chẳng phải vừa thường vừa vô
thường. Ba thứ này cộng thành mười hai kiến chấp. Như
Lai sau khi diệt độ, có hay không các thứ, bốn kiến chấp
này y trên Niết-bàn mà sanh khởi. Thế gian hữu biên, vô biên
các thứ, bốn kiến chấp, y đời vị lai phát khởi; thế
gian Thường, Vô Thường v.v.. 4 kiến chấp này y theo đời
quá khứ sanh khởi. Như Lai sau khi diệt độ còn tồn tại
hay không tồn tại, không thể nhận thức được. Niết-bàn
cũng như thế. Như thế gian tiền tế, hậu tế, hữu biên,
vô biên, hữu thường, vô thường các thứ; đều không thể
nhận thức. Niết-bàn cũng vậy. Thế nên nói, Thế gian và
Niết-bàn v.v.. không có sai biệt.
Vì
hết thảy pháp Không,
Nào
có biên, vô biên.
Vừa
biên vừa vô biên,
Chẳng
hữu chẳng vô biên. [22]
Cái
gì là nhất, dị?
Nào
có thường, vô thường,
Vừa
thường vừa vô thường,
Phi
thường, phi vô thường. [23]
Các
pháp bất khả đắc,
Diệt
tất cả hí luận.
Không
người cũng không xứ,
Phật
cũng không tuyên thuyết. [24]
Tất
cả pháp, tất cả thời, tất cả mọi thứ, đều từ các
duyên sanh, cứu cánh là Không, nên không có tự tánh. Trong
các pháp như thế, cái gì là hữu biên? cái gì là vô biên?
ai là vô biên? cái gì vừa hữu biên vừa vô biên? cái gì
là phi hữu biên phi vô biên? ai là phi hữu biên phi vô biên?
cái gì là thường? ai thường? cái gì là vô thường; vừa
thường vừa vô thường; phi thường phi vô thường? ai là
phi thường phi vô thường? Sao là thân tức ngã; sao là thân
khác ngã? Như thế trong tất cả sáu mươi hai thứ tà kiến
cứu kính Không, thảy đều bất khả đắc, những gì là sở
đắc đều dứt bặt, mọi hí luận đều diệt. Vì hủy diệt
hí luận nên không đạt thật tướng các pháp, đạt được
con đường an ổn.
Từ
chương “Nhân duyên” cho đến đây, phân biệt quán sát các
pháp, hữu cũng không; vô cũng không; hữu vô cũng không; phi
hữu phi vô cũng không; đó gọi thật tướng các pháp, cũng
gọi là Chân như, là Pháp tánh, là Thật tế, là Niết-bàn.
Thế nên Như Lai không thời gian, không xứ sở, vì người
nói Niết-bàn là tướng cố định, thế nên nói: ‘Những
gì là sở đắc đều dứt bặt, mọi hí luận hủy diệt.”
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Niết-bàn tiếng Phạn gọi là Nirvana. VANA nghĩa là dục vọng
đau khổ, như thế Niết-bàn là nơi an tịnh tuyệt đối. Nói
thế chúng ta đừng nghĩ Niết-bàn có một cảnh giới riêng
có vị trí thanh tịnh an lạc. Niết-bàn được nhận thức
bằng chân không (Sùnya), nó không nằm trong cái hữu hay vô,
siêu việt đối đãi. Vì phương tiện đối với chúng sanh
mà đức Phật dùng ngôn ngữ để diễn tả thế nào là cảnh
giới Niết-bàn. Chúng ta nhờ giải thích để hiểu biết cụ
thể Niết-bàn. Do đó không nên nghĩ ngôn ngữ là có hay không.
Như người dùng ngón tay chỉ mặt trời để người khác trông
mặt trời. Ngón tay người chỉ, không phải mặt trời, song
nhờ ngón tay chỉ mặt trời, người khác có thể nương nơi
đó nhìn hướng mặt trời. Khi đã trông thấy rõ mặt trời
rồi, thì ngón tay kia không cần dùng nữa.
[2]
Hán: vô đắc diệc vô chí. Bát nhã đăng: vô thối diệc vô
đắc. Phạn: aprahìịam asampràptam, không có cái gì bị đoạn
trừ, không có cái gì được chứng đắc.
[3]
sau khi Đức Như Lai nhập Niết-bàn, nghĩa là trở về bản
tính tịch tịnh, chúng sanh sinh nhiều vọng chấp, nói Niết-bàn,
cảnh giới Niết-bàn thường trú vô biên. Niết-bàn khác với
thế gian v.v. tất cả bàn bạc như thế nào cũng đều sai
lầm. Vì Như Lai Niết-bàn là ly ngôn ngữ văn tự, ly tâm duyên
tướng, bất khả đắc, bất khả tư nghì. Như Kinh Kim Cang
Bát Nhã nói: “Niết-bàn vô Niết-bàn thị danh Niết-bàn”,
“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.
[4]
Hán: vô thọ. Phạn: anupàdàya, không chấp thủ; không y chỉ
(các uẩn).
[5]
Hán dịch của Bát-nhã đăng: Niết-bàn nhược hữu thể, vân
hà thị vô nhân? Diệc vô hữu nhất pháp, ly nhân nhi đắc
hữu, “Niết-bàn nếu là hữu thể, làm sao lại không nhân?
Cũng không một pháp nào, không cần nhân mà hiện hữu.”
Phạn: bhàvaz ca yadi nirvàịam anupàdàya tat kathaư, nirvàịaư
nànupàdàya kazcid bhàvo hi vidyate, “ Nếu Niết-bàn là hữu
thể, làm sao cái đó lại không chấp thủ (không y chỉ)? Không
có bất cứ hữu thể không chấp thủ nào được nhận thức
như là Niết-bàn.”
[6]
Hán: hữu. Phạn: bhàva (hữu thể).
[7]
Hán: vô. Phạn: abhàva: vô thể.
[8]
Hán dịch của Bát nhã đăng: Nhược Niết-bàn vô thể, vân
hà thị vô nhân, “Niết-bàn nếu là vô thể, làm sao đó
lại là vô nhân?” Phạn: nirvàịaư na hy abhàvo ‘sti yo ‘nupàdàya
vidyate, “Niết-bàn là vô thủ nên hoàn toàn không phải là
vô thể.” Về cách dùng từ upàdàya (và anupàdàya) trong bản
Phạn, và cách dịch của bản Hán, xem cht. 1 tr. 150 chương
XXII.
[9]
Hán: Bất thọ danh Niết-bàn. Xem Pali, Sn. 638: anupàdàya nibbuto,
“Sau khi không còn chấp thủ (không thủ trước hay không sở
y), vị ấy chứng tịch diệt (tức Niết-bàn).
[10]
Bát nhã đăng: Nhược vô nhân vô duyên, thị danh vi Niết-bàn.
Phạn: so’ pratìtyànu- pàdàya nirvàịam upadiwyate, “Không
lệ thuộc các duyên, không còn chấp thủ, cái đó được
nói là Niết-bàn.”
[11]
Hán: bất thọ; cũng hiểu là không chấp thủ.
[12]
Phạn: nirvàịasya ca yà koỉihï koỉihï saưsarasya ca: biên
tế của Niết-bàn và biên tế của sanh tử.
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt