21. Kinh
Ðế-thích sở vấn
(Sakka-panha sutta)
Tụng
phẩm I
1.
Như vầy tôi nghe.
Một
thời, Thế Tôn trú tại Magadha (Ma-kiệt-đà) phía Ðông thành
Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, (Am-bà-la) trên
ngọn núi Vediya (Tỳ-đà Sơn) phía Bắc ngôi làng, trong hang
Indasàla (Nhơn-đà-sa-la). Lúc bấy giờ, Thiên chủ Sakka (Ðế-thích)
náo nức muốn chiêm ngưỡng Thế Tôn.
Rồi
Thiên chủ Sakka suy nghĩ: "Nay Thế Tôn ở tại chỗ nào, vị
A La Hán, Chánh Ðẳng Giác?" Thiên chủ Sakka thấy Thế Tôn
trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá tại làng Bà La
Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi Vediya, phía Bắc ngôi làng
trong hang Indasala. Thấy vậy, Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên
ở Tam thập tam thiên:
- Này
Quý vị, Thế Tôn trú ngụ tại Magadha, phía Ðông thành Vương
Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi Veidya,
phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasala. Này quí vị, chúng
ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng
Giác.
- Xin
vâng, mong an lành đến cho Ngài. - Chư Thiên ở Tam thập tam
thiên trả lời Thiên chủ Sakka.
2.
Rồi Thiên chủ Sakka, nói với Pancasikha (Ngũ Kế), con của
Càn Thát Bà:
- Này
Khanh Pancasikha, Thế Tôn nay trú tại Magadha, phía Ðông thành
Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi
Vediya phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasàla. Này Khanh Pancasikha,
chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh
Ðẳng Giác.
- Xin
vâng, mong an lành đến cho Ngài.
Pancasikha,
con của Càn Thát Bà, vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn
cầm bằng gỗ vàng Beluva và đi theo Thiên chủ Sakka.
Rồi
Thiên chủ Sakka, với chư Thiên ở Tam thập tam thiên tháp tùng
xung quanh, với Pancasikha, con của Càn Thát Bà đi trước, như
người lực sĩ duỗi cánh tay co lại, hay co lại cánh tay duỗi
ra, biến mất ở cõi Tam thập tam thiên, hiện ra ở Magadha,
phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn Ambasandà và
đứng trên núi Vediya, phía Bắc ngôi làng.
3.
Lúc bấy giờ núi Vediya chói hào quang rực rỡ, ngôi làng Bà
La Môn Ambasandà cũng vậy, đều nhờ thần lực chư Thiên.
Và dân chúng ở những làng xung quanh nói rằng:
- Núi
Vediya hôm nay thật sự bị cháy, núi Veidya hôm nay thật sự
có lửa đỏ rực, núi Vediya lại chói hào quang rực rỡ, làng
Bà La Môn Ambasandà cũng vậy.
Và
dân chúng lo âu, lông tóc dựng ngược.
4.
Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà:
- Này
Khanh Pancasikha, chư Như Lai thật khó lại gần đối với người
như ta. Các Ngài nhập Thiền, hoan hỷ trong Thiền, và với
mục đích ấy, an lặng tịnh cư. Vậy Khanh Pancasikha trước
tiên làm cho Thế Tôn hoan hỷ, sau sự hoan hỷ do Khanh tác động,
chúng ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh
Ðẳng Giác.
- Xin
vâng, mong an lành đến với Ngài.
Pancasikha,
con của Càn Thát Bà vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn
cầm bằng gỗ vàng Beluva và đến tại hang núi Indasala. Khi
đến xong, Pancasikha đứng lại một bên và suy nghĩ: "Ta đứng
đây, không quá xa Thế Tôn, cũng không quá gần. Và tiếng
sẽ được Ngài nghe".
Ðứng
một bên, Pancasikha, con của Càn Thát Bà gảy cây đàn cầm
bằng gỗ vàng Beluva và nói lên bài kệ, liên hệ đến Phật,
đến Pháp, đến A La Hán và đến ái dục:
5.
Ôi
Suriya Vaccasa!
Ta
đảnh lễ Timbaru,
Bậc
phụ thân của nàng,
Ðã
sanh nàng thiện nữ,
Nguồn
hạnh phúc của ta,
Như
gió cho kẻ mệt.
Như
nước cho kẻ khát,
Nàng
là tình của ta.
Như
pháp với Ứng Cúng,
Như
thuốc cho kẻ bệnh,
Như
đồ ăn kẻ đói,
Thiên
nữ với nước mắt.
Hãy
dập tắt lửa tình!
Như
voi bị nắng thiêu,
Tẩm
mình hồ nước mát,
Có
cánh sen, nhụy sen.
Cũng
vậy, ta muốn chìm,
Chìm
sâu vào ngực nàng.
Như
voi bị xiềng xích,
Hất
móc câu, gậy nhọn,
Ta
điên vì ngực nàng,
Hành
động ta rối loạn.
Tâm
ta bị nàng trói,
Di
chuyển thật vô phương,
Rút
lui cũng bất lực,
Như
cá đã mắc câu.
Hiền
nữ hãy ôm ta,
Trong
cánh tay của nàng!
Hãy
ôm ta, nhìn ta,
Trong
ánh mắt dịu hiền.
Hãy
ghì chặt lấy ta,
Thiện
nữ! Ta van nàng!
Ôi
Hiền nữ suối tóc,
Ái
dục ta có bao!
Nhưng
nay đã tăng bội,
Như
đồ chúng La Hán!
Mọi
công đức ta làm,
Dâng
lên bậc La Hán,
Ôi
Kiều nữ toàn thiện,
Nàng
là quả cho ta.
Công
đức khác của ta,
Ðã
làm trên đời này!
Ôi
Kiều nữ toàn thiện,
Nàng
là quả của ta!
Vị
Thích tử thiền tu,
Nhứt
tâm và giác tỉnh,
Tìm
cầu đạo Bất tử,
Cũng
vậy ta cầu nàng!
Như
người tu sung sướng,
Chứng
Bồ Ðề tối thượng.
Kiều
nữ, ta sung sướng,
Ðược
nhập một với nàng,
Nếu
Thiên chủ Sakka,
Cho
ta một ước nguyện,
Ta
ước nguyện được nàng,
Vì
ta quá yêu nàng!
Như
ta-la sanh quả,
Tuệ
Nữ, phụ thân nàng!
Ta
sẽ đảnh lễ ngài,
Vì
sanh nàng vẹn toàn!
6. Khi
được nghe vậy, Thế Tôn nói với Pancasikha, con của Càn Thát
Bà:
- Này
Pancasikha, huyền âm của Ngươi khéo hòa điệu với giọng
ca của Ngươi, và giọng ca của Ngươi khéo hòa điệu với
huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, do vậy huyền âm của
Ngươi không thêm mầu sắc cho giọng ca, hay giọng ca của Ngươi
không thêm màu sắc cho huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha,
Ngươi học tại chỗ nào những bài kệ liên hệ đến Phật,
Pháp, đến A La Hán, đến ái dục như vậy?
- Bạch
Thế Tôn, một thời Thế Tôn an trú ở Uruvelà, bên bờ sông
Neranjara (Ni-liên-thiền), dưới gốc cây Ajapàla-Nigrodha, khi
mới thành Chánh Ðẳng Giác. Lúc bấy giờ, con yêu con gái
của Timbaru, vua Càn Thát Bà, tên là Bhaddà với biệt hiệu
Suriya Vaccasà. Nhưng bạch Thế Tôn, thiếu nữ lại yêu một
người khác, tên là Sikhaddhi, con của Màtali người đánh xe.
Bạch Thế Tôn, con không có phương tiện nào khác để chiếm
được thiếu nữ. Con cầm đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva,
đến tại trú xá của Timbaru, vua Càn Thát Bà. Khi đến xong,
con gảy đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và nói lên bài kệ
này, liên hệ đến Phật, đến Pháp, đến A La Hán và đến
ái dục:
7.
Ôi
Suriya Vaccasa!
Ta
đảnh lễ Timbaru,
Bậc
phụ thân của nàng,
Ðã
sanh nàng thiện nữ,
Nguồn
hạnh phúc của ta,
Như
gió cho kẻ mệt.
Như
nước cho kẻ khát,
Nàng
là tình của ta.
Như
pháp với Ứng Cúng,
Như
thuốc cho kẻ bệnh,
Như
đồ ăn kẻ đói,
Thiên
nữ với nước mắt.
Hãy
dập tắt lửa tình!
Như
voi bị nắng thiêu,
Tẩm
mình hồ nước mát,
Có
cánh sen, nhụy sen.
Cũng
vậy, ta muốn chìm,
Chìm
sâu vào ngực nàng.
Như
voi bị xiềng xích,
Hất
móc câu, gậy nhọn,
Ta
điên vì ngực nàng,
Hành
động ta rối loạn.
Tâm
ta bị nàng trói,
Di
chuyển thật vô phương,
Rút
lui cũng bất lực,
Như
cá đã mắc câu.
Hiền
nữ hãy ôm ta,
Trong
cánh tay của nàng!
Hãy
ôm ta, nhìn ta,
Trong
ánh mắt dịu hiền.
Hãy
ghì chặt lấy ta,
Thiện
nữ! Ta van nàng!
Ôi
Hiền nữ suối tóc,
Ái
dục ta có bao!
Nhưng
nay đã tăng bội,
Như
đồ chúng La Hán!
Mọi
công đức ta làm,
Dâng
lên bậc La Hán,
Ôi
Kiều nữ toàn thiện,
Nàng
là quả cho ta.
Công
đức khác của ta,
Ðã
làm trên đời này!
Ôi
Kiều nữ toàn thiện,
Nàng
là quả của ta!
Vị
Thích tử thiền tu,
Nhứt
tâm và giác tỉnh,
Tìm
cầu đạo Bất tử,
Cũng
vậy ta cầu nàng!
Như
người tu sung sướng,
Chứng
Bồ Ðề tối thượng.
Kiều
nữ, ta sung sướng,
Ðược
nhập một với nàng,
Nếu
Thiên chủ Sakka,
Cho
ta một ước nguyện,
Ta
ước nguyện được nàng,
Vì
ta quá yêu nàng!
Như
ta-la sanh quả,
Tuệ
Nữ, phụ thân nàng!
Ta
sẽ đảnh lễ ngài,
Vì
sanh nàng vẹn toàn!
Bạch
Thế Tôn, sau khi nghe nói vậy, Bhaddà Suriya Vaccasà nói với
con như sau:
"Này
Hiền giả, tôi chưa được thấy Thế Tôn tận mặt. Nhưng
tôi có nghe đến Thế Tôn, khi tôi đến múa tại Thiện Pháp
đường của chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Vì Hiền giả
đã tán dương Thế Tôn như vậy, vậy hôm nay chúng ta sẽ
gặp nhau".
Bạch
Thế Tôn, rồi con được gặp nàng, không phải hôm ấy, nhưng
về sau.
8.
Rồi Thiên chủ Sakka suy nghĩ như sau:
"Pancasikha,
con của Càn Thát Bà hoan hỷ đàm luận với Thế Tôn. Và Thế
Tôn đối với Pancasikha cũng vậy".
Rồi
Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà:
- Này
Khanh Pancasikha, hãy thay mặt ta, đảnh lễ Thế Tôn và nói:
"Bạch Thế Tôn, Thiên chủa Sakka cùng với đình thần và thuộc
hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn".
- Xin
vâng, mong an lành đến cho Ngài.
Pancasikha,
con của Càn Thát Bà vâng theo lời dặn của Thiên chủ Sakka,
đảnh lễ Thế Tôn và nói:
- Bạch
Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng với đình thần và thuộc hạ,
đầu diện tiếp túc đảnh lễ Thế Tôn.
- Này
Pancasikha, mong hạnh phúc đến với Thiên chủ Sakka, với các
đình thần và các thuộc hạ! Chư Thiên, loài Người, Asurà,
Nàgà, Gandhabba, đều ao ước hạnh phúc. Các loại chúng sanh
khác cũng vậy.
Như
vậy, các Như Lai chào đón thượng chúng. Ðược chào đón
như vậy, Thiên chủ Sakka bước vào hang Indasàla của Thế
Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Chư Thiên ở Tam thập
tam thiên cũng bước vào hang Indasàla, đảnh lễ Thế Tôn và
đứng một bên. Pancasikha, con của Càn Thát Bà cũng bước
vào hang Indasàla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
9.
Lúc bấy giờ, trong hang Indasàla, những con đường gồ ghề
được làm bằng phẳng, những khoảng chật hẹp được làm
cho rộng rãi, trong hang tối tăm có hào quang chiếu sáng, đó
là nhờ thần lực của chư Thiên. Rồi Thế Tôn nói với Thiên
chủ Sakka:
- Thật
là hy hữu, Ðại đức Kosiya! Thật là kỳ diệu, Ðại đức
Kosiya, tuy có nhiều trách nhiệm phải gánh vác, có nhiều công
tác phải làm, mà vẫn đến đây được!
- Bạch
Thế Tôn, đã từ lâu con muốn đến để yết kiến Thế Tôn,
nhưng bị ngăn trở bởi các công việc này, công việc khác
phải làm cho chư Thiên ở Tam thập tam thiên, và do vậy không
thể đến yết kiến Thế Tôn được. Bạch Thế Tôn, một
thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá Vệ), tại cốc Salala. Bạch
Thế Tôn, rồi con đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn.
10.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi nhập định và Bhunjàti,
vợ của Vessavana đang đứng hầu Thế Tôn, đảnh lễ chắp
tay. Bạch Thế Tôn, rồi con nói với Bhunjàti:
"-
Này Hiền tỷ, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa:
"Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka với đình thần và thuộc
hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn".
Ðược
nghe nói vậy, Bhunjàti nói với con:
"-
Thiện hữu, nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn.
Thế Tôn đang an lặng tịnh cư.
"-
Này Hiền tỷ, khi nào xuất định, hãy thay mặt ta đảnh lễ
Thế Tôn và thưa: "Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng đình
thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn".
Bạch
Thế Tôn, không hiểu Bhunjãti có thay mặt con đảnh lễ Thế
Tôn không? Thế Tôn có nhớ lời bà ấy nói không?
- Này
Thiên chủ, bà ấy có đảnh lễ Ta. Ta có nhớ lời bà ấy
nói. Chính tiếng bánh xe của Ngài đã khiến Ta xuất định.
11.
Bạch Thế Tôn, có chư Thiên được sanh lên Tam thập tam thiên
trước chúng con, chính chúng con tận mắt được nghe chư Thiên
ấy nói như sau: "Khi Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác
xuất hiện ở đời, Thiên giới được hưng thịnh và Asurà
giới bị suy vong". Bạch Thế Tôn, chính con có thể thấy và
xác chứng rằng khi nào Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng
Giác xuất hiện ở đời, thì Thiên giới được hưng thịnh
và Asurà giới bị suy vong. Bạch Thế Tôn ở đây, tại Kapilavatthu,
có Thích nữ tên là Gopika, có lòng tin Phật, tin Pháp, tin Tăng,
và gìn giữ đầy đủ giới luật. Thích nữ này, loại bỏ
tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, khi thân hoại
mạng chung được sanh lên Thiên giới, thiện thú, nhập chúng
với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sanh ra làm con của chúng
con. Và ở đấy, nàng được gọi là Thiên tử Gopakà, Thiên
tử Gopakà. Bạch Thế Tôn, lại có ba Tỷ Kheo khác sống phạm
hạnh với Thế Tôn và sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng.
Họ sống được bao vây thọ hưởng năm món dục tăng thịnh
và thường hay đến hầu hạ săn sóc chúng con. Chúng con được
họ đến hầu hạ và săn sóc chúng con như vậy, Thiên tử
Gopakà mới trách la họ như sau: "Chư Thiện hữu, tai các Người
ở đâu mà không nghe Pháp của Thế Tôn. Chính ta xưa là đàn
bà, tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, gìn giữ giới luật, loại
bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, sau khi thân
hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập
chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, làm con của Thiên
chủ Sakka và được gọi là Thiên tử Gopakà. Chư Thiện hữu,
các Người tu hành phạm hạnh với Thế Tôn, được sanh vào
Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Thật là điều không mấy tốt
đẹp, khi chúng con thấy những vị đồng môn lại phải sanh
vào hạ đẳng Càn Thát Bà giới. Bạch Thế Tôn, trong chư
Thiên bị Thiên tử Gopakà trách mắng như vậy, hai vị Thiên,
ngay trong hiện tại, chứng được chánh niệm và sanh làm phụ
tá cho Phạm thiên. Còn một vị Thiên sống thọ hưởng dục
lạc.
12.
Ta
đệ tử pháp nhãn,
Tên
gọi Gopakà,
Ta
tin Phật, Pháp, Tăng.
Tâm
niệm rất hoan hỷ.
Nhờ
Thiện pháp chư Phật,
Sanh
con Thần Sakka,
Hào
quang, sanh Thiên giới,
Ðược
tên Gopakà.
Ta
thấy ba Tỷ Kheo,
Hạ
sanh Càn Thát Bà!
Ðệ
tử Gotama,
Trước
sanh làm con Người,
Ta
cúng dường ẩm thực,
Hầu
hạ trú xứ ta.
Mắt
Hiền giả ở đâu?
Không
nắm giữ Pháp, Phật,
Chánh
pháp tự giác hiểu,
Bậc
Pháp nhãn khéo giảng.
Ta
chỉ hầu Quý vị,
Ðược
nghe Pháp bậc Thánh.
Ta
là con Sakka,
Có
thần lực hào quang,
Ðược
sanh lên Thiên giới.
Các
người hầu Thế Tôn,
Sống
phạm hạnh tối thượng,
Nay
phải sanh hạ thân,
Mất
thượng sanh hạ phẩm.
Ta
nhìn thật khó chịu,
Thấy
đồng môn hạ sanh
Với
thân Càn Thát Bà,
Phải
hầu hạ chư Thiên.
Từ
địa vị cư sĩ,
Ta
thấy rõ khác biệt.
Trước
bà, nay đàn ông.
Ta
sanh Thiên, hưởng dục.
Bị
Gopakà trách mắng,
Ưu
phiền đồng phát nguyện,
Phải
thăng tiến nỗ lực,
Không
nô lệ cho ai!
Hai
trong ba vị này,
Bắt
đầu hành tinh tấn,
Nhờ
Gotama dạy,
Chúng
tẩy sạch tâm uế,
Thấy
nguy hiểm dục vọng.
Như
voi bỏ dây cương,
Các
vị vượt Tam thiên,
Vứt
bỏ dục kiết sử,
Quỷ
triền phược khó vượt,
Cùng
Sakka, Pajàpati.
Hội
chúng Thiện Pháp đường
Vượt
quá vị đang ngồi,
Anh
hùng ly dục cấu.
Thấy
chúng khỏi lo ngại,
Vasava
giữa Thiên chúng,
Xem
chúng sinh hạ phẩm,
Nay
vượt qua Tam thiên.
Suy
tư lời ưu phiền,
Gopaka
với Vàsava:
Ðế
Thích ở nhân giới,
Ðức
Phật gọi Thích Ca
Ðã
chinh phục dục vọng.
Chúng
là con của Ngài,
Thất
niệm khi mệnh chung,
Nhờ
Ta lấy chánh niệm.
Một
trong ba vị ấy,
Mang
thân Càn Thát Bà.
Hai
vị hướng Chánh giác,
Bỏ
Thiên giới, nhập thiền.
Ðừng
đệ tử nào nghi,
Vị
ở đây chứng pháp.
Chúng
ta đảnh lễ Phật.
Vị
vượt khỏi bộc lưu,
Ðã
diệt trừ nghi ngờ,
Bậc
chiến thắng muôn loài.
Chính
ở đây, chứng pháp,
Tấn
bước đạt thù thắng,
Hai
vị đạt thắng vị,
Hơn
phụ tá Phạm thiên,
Ôi
Thiện hữu chúng tôi.
Ðến
đây để chứng pháp.
Nếu
Thế Tôn cho phép,
Chúng
con hỏi Thế Tôn.
13. Rồi
Thế Tôn suy nghĩ: "Ðã lâu, Sakka này sống đời trong sạch.
Câu hỏi gì Sakka hỏi Ta, đều hỏi có lợi ích, không phải
không lợi ích. Câu hỏi gì hỏi Ta, Ta sẽ trả lời; và Sakka
sẽ hiểu một cách mau chóng".
Rồi
Thế Tôn nói bài kệ sau đây với Thiên chủ Sakka:
Vàsava
hãy hỏi Ta,
Những
gì tâm Ngươi muốn!
Mỗi
câu hỏi của Ngươi,
Ta
làm Ngươi thỏa mãn.
Tụng
phẩm II
1.
Sau khi được phép, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn câu hỏi
đầu tiên:
- Bạch
Thế Tôn, do kiết sử gì, các loài Thiên, Nhân, Asurà, Nàgà,
Càn Thát Bà, và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước:
"Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không
ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù". Thế mà với
hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ
sống với nhau trong hận thù?
Ðó
là hình thức câu hỏi thứ nhất, Thiên chủ Sakka hỏi Thế
Tôn. Và Thế Tôn trả lời câu hỏi ấy như sau:
- Do
tật đố và xan tham, các loài Thiên, Nhân Asurà, Nàgà, Càn
Thát Bà và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: "Không
hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý,
chúng ta sống với nhau không hận thù". Thế mà với hận thù,
với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với
nhau trong hận thù.
Ðó
là hình thức Thế Tôn trả lời cho câu hỏi Thiên chủ Sakka.
Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế
Tôn và nói:
- Như
vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện
Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con
diệt tận, do dự của con tiêu tan.
2.
Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ câu trả lời Thế
Tôn, liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch
Thế Tôn, tật đố, xan tham, do nhân duyên gì, do tập khởi
gì, cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện
hữu, cái gì có mặt thì tật đố, xan tham có mặt? Cái gì
không có mặt, thì tật đố xan tham không có mặt?
- Này
Thiên chủ, tật đố và xan tham do ưa ghét làm nhân duyên,
do ưa ghét làm tập khởi, ưa ghét khiến chúng sanh khởi, ưa
ghét khiến chúng hiện hữu, ưa ghét có mặt thì tật đố,
xan tham có mặt; ưa ghét không có mặt thì tật đố, xan tham
không có mặt.
- Bạch
Thế Tôn, ưa ghét do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì
khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái
gì có mặt thì ưa ghét có mặt? Cái gì không có mặt thì
ưa ghét không có mặt?
- Này
Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập
khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu.
Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa
ghét không có mặt.
- Bạch
Thế Tôn, nhưng dục do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái
gì khiến dục sanh khởi, cái gì khiến dục hiện hữu? Cái
gì có mặt thì dục có mặt? Cái gì không có mặt thì dục
không có mặt?
- Này
Thiên chủ, dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi;
tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm
có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không
có mặt.
- Bạch
Thế Tôn, tầm lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi?
Cái gì khiến tầm sanh khởi, cái gì khiến tầm hiện hữu?
Cái gì có mặt thì tầm có mặt? Cái gì không có mặt thì
tầm không có mặt?
- Này
Thiên chủ, tầm lấy cái loại vọng tưởng hý luận làm nhân
duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi.
Các loại vọng tướng hý luận khiến tầm sanh khởi, các
loại vọng tưởng hý luận khiến tầm hiện hữu. Do các loại
vọng tướng hý luận có mặt thì tầm có mặt. Do các loại
vọng tưởng hý luận không có mặt thì tầm không có mặt".
3.
Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải chứng đạt như thế nào?
Phải thành tựu con đường nào thích hợp và hướng dẫn
diệt trừ các loại vọng tướng hý luận?
- Này
Thiên chủ, Ta nói hý luận có hai loại, một loại phải thân
cận, một loại phải tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói ưu cũng
có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh
xa. Này Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại
phải thân cận, một loại phải tránh xa.
Này
Thiên chủ, Ta nói hỷ có hai loại, một loại phải thân cận,
một loại phải tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân
duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại hỷ nào có thể
biết được: "Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp
tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thời hỷ ấy cần phải
tránh xa. Ở đây loại hỷ nào có thể biết được: "Khi tôi
thân cận với hỷ này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp
tăng trưởng", thời hỷ ấy nên thân cận. Ở đây, có hỷ
câu hữu với tầm, câu hữu với tứ; có hỷ không câu hữu
với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại hỷ không câu
hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.
Này
Thiên chủ, Ta nói hỷ có hai loại, một loại nên thân cận,
một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy
là do nhân duyên như vậy.
Này
Thiên chủ, Ta nói ưu cũng có hai loại, một loại nên thân
cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do
nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại ưu nào có
thể biết được: "Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện
pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thời ưu ấy cần
phải tránh xa. Ở đây, loại ưu nào có thể biết được:
"Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện
pháp tăng trưởng", thời ưu ấy nên thân cận. Ở đây, có
ưu câu hữu với tầm, câu hữu với tứ, có ưu không câu
hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại ưu không
câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng
hơn.
Này
Thiên chủ, Ta nói ưu là hai loại, một loại nên thân cận,
một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy,
là do nhân duyên như vậy.
Này
Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại nên thân
cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do
nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại xả nào có
thể biết được: "Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện
pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thời xả ấy cần
phải tránh xa. Ở đây, loại xả nào có thể biết được:
"Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp suy giảm,
thiện pháp tăng trưởng", thời xả ấy nên thân cận. Ở
đây, có xả câu hữu với tầm, câu hữu với tứ. có xả
không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại
xả không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù
thắng hơn.
Này
Thiên chủ, Ta nói rằng xả có hai loại, một loại nên thân
cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như
vậy là do nhân duyên như vậy.
Này
Thiên chủ, vị Tỷ Kheo phải chứng đạt như vậy, phải thành
tựu con đường như vậy, mới thích hợp và hướng dẫn đến
sự diệt trừ các vọng tưởng hý luận.
Ðó
là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ
Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy
Thế Tôn và nói:
- Như
vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện
Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con
được diệt tận, do dự của con được tiêu tan.
4.
Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ câu trả lời của
Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch
Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như thế nào, phải
thành tựu biệt giải thoát luật nghi như thế nào?
Này
Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên
thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng
khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại
nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại,
một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.
Này
Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên
thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy.
Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại thân hành
nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với thân hành
này, bất thiện pháp tăng tướng, thiện pháp suy giảm", thì
thân hành ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại thân hành
nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với thân hành
này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thì
thân hành ấy cần phải thân cận.
Này
Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại cần
thân cận, một loại cần tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố
như vậy là do nhân duyên như vậy.
Này
Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại
nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như
vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại khẩu
hành nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với khẩu
hành này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm",
thì khẩu hành ấy phải tránh xa. Ở đây, loại khẩu hành
nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với khẩu hành
này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thì
khẩu hành ấy cần phải thân cận.
Này
Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại
nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên
bố như vậy, là do nhân duyên như vậy.
Này
Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu cũng có hai loại, một loại
nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như
vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây loại tầm
cầu nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với tầm
cầu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm",
thì loại tầm cầu ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại
tầm cầu nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận loại
tầm cầu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng",
thì loại tầm cầu ấy nên thân cận.
Này
Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại, một loại nên
thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố
như vậy là do nhân duyên như vậy.
Này
Thiên chủ, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như vậy, phải thành
tựu biệt giải thoát luật nghi như vậy!
Ðó
là hình thức Thế Tôn trả lời câu hỏi Thiên chủ Sakka.
Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế
Tôn và nói:
- Như
vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện
Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được
diệt tận, do dự con được tiêu tan.
5.
Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn
liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch
Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như thế nào, phải
thành tựu hộ trì các căn như thế nào?
- Này
Thiên chủ, sắc do mắt phân biệt. Ta nói rằng có hai loại,
một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên
chủ, tiếng do tai phân biệt... hương do mũi phân biệt... vị
do lưỡi phân biệt... xúc do thân phân biệt... Này Thiên chủ,
pháp do ý phân biệt, Ta nói rằng có hai loại, một loại nên
thân cận, một loại nên tránh xa.
Ðược
nghe như vậy, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn nói một cách tóm tắt được
con hiểu một cách rộng rãi. Bạch Thế Tôn, loại sắc do
mắt phân biệt, khi con thân cận mà bất thiện pháp tăng trưởng,
thiện pháp suy giảm, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy
nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại sắc nào do mắt phân biệt,
khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng
trưởng, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên thân cận.
Bạch Thế Tôn, loại tiếng nào do tai phân biệt... loại hương
nào do mũi phân biệt... loại vị nào do lưỡi phân biệt...
loại xúc nào do thân phân biệt... loại pháp nào do ý phân
biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện
pháp suy giảm, thời loại pháp ấy nên tránh xa. Bạch Thế
Tôn, loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất
thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại
pháp ấy nên thân cận. Bạch Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn
nói một cách tóm tắt, được con hiểu một cách rộng rãi.
Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con tiêu
tan, do dự của con diệt tận.
6.
Như vậy sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn, Thiên
chủ Sakka lại hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch
Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng
một tư tưởng, đồng một giới hạnh, đồng một mong cầu,
đồng một chí hướng?
- Này
Thiên chủ, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư
tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một mong
cầu, không đồng một chí hướng!
- Bạch
Thế Tôn, vì sao cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một giới
hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng?
- Này
Thiên chủ, thế giới này gồm có nhiều loại giới, nhiều
giới sai biệt. Trong thế giới gồm có nhiều loại giới và
nhiều giới sai biệt này, các loại hữu tình tự nhiên thiên
chấp một loại giới nào, và khi đã thiên chấp, trở thành
Kiên trì, cố thủ, với định kiến: "Ðây là sự thật, ngoài
ra toàn là si mê". Do vậy, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không
đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không
đồng một cứu cánh, không đồng một mong cầu, không đồng
một chí hướng.
- Bạch
Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng
một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh,
đồng một mục đích?
- Này
Thiên chủ, tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn không đồng một
cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm
hạnh, không đồng một mục đích.
Bạch
Thế Tôn, vì sao tất cả Sa môn, Bà la môn, không đồng một
cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm
hạnh, không đồng một mục đích?
- Này
Thiên chủ, chỉ những vị Sa môn Bà la môn nào đã giải thoát
tham ái, những vị ấy mới đồng một cứu cánh, đồng một
an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích. Do vậy,
tất cả vị Sa môn, Bà la môn không đồng một cứu cánh,
không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không
đồng một mục đích.
Ðó
là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ
Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy
Thế Tôn và nói:
- Như
vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện
Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được
diệt tận, do dự con được tiêu tan.
7.
Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn
liền hỏi câu tiếp:
- Bạch
Thế Tôn, tham ái là bệnh tật, tham ái là mụn nhọt, tham
ái là mũi tên, tham ái dắt dẫn con người tái sanh đời này,
đời khác, khiến con người khi cao, khi thấp. Bạch Thế Tôn,
trong khi các Sa môn, Bà la môn khác ngoài giáo phái của Ngài
không cho con dịp để hỏi những câu hỏi, thời Thế Tôn
lại trả lời những câu hỏi ấy cho con, giảng giải rất
lâu cho con, khiến mũi tên nghi ngờ, do dự của con được
Thế Tôn rút nhổ đi.
- Này
Thiên chủ, Ngươi có biết những câu hỏi ấy cũng được
Ngươi hỏi các vị Sa môn, Bà la môn khác không?
- Bạch
Thế Tôn, con được biết những câu hỏi ấy cũng được
con hỏi các vị Sa môn, Bà la môn khác.
- Này
Thiên chủ, những vị ấy trả lời với Ngươi như thế nào,
nếu không gì trở ngại hãy nói cho biết.
- Bạch
Thế Tôn, không gì trở ngại cho con, khi Thế Tôn ngồi nghe
hay những vị như Thế Tôn.
- Này
Thiên chủ, vậy Ngươi hãy nói đi.
- Bạch
Thế Tôn, những vị Sa môn, Bà la môn mà con nghĩ là những
vị sống trong rừng an tịnh, xa vắng, con đi đến những vị
ấy và hỏi những câu hỏi ấy. Các vị này không trả lời
cho con, không trả lời lại hỏi ngược con: "Tôn giả tên
gì?" Ðược hỏi vậy con trả lời: "Chư Hiền giả, tên là
Thiên chủ Sakka." Rồi những vị ấy lại hỏi thêm con câu
nữa: "Do công việc gì Tôn giả Thiên chủ lại đến chỗ
này?" Con liền giảng cho những vị ấy Chánh pháp như con đã
được nghe và đã được học. Chỉ được từng ấy, các
vị hoan hỷ và nói: "Chúng tôi đã được thấy Thiên chủ
Sakka. Những điều gì chúng tôi hỏi, vị ấy đều trả lời
cho chúng tôi." Không những vậy, các vị này trở thành đệ
tử của con, chớ không phải con là đệ tử của các vị
ấy. Bạch Thế Tôn, nhưng con là đệ tử của Thế Tôn, đã
chứng Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn
sẽ được giác ngộ.
- Này
Thiên chủ, Ngươi có biết trước kia Ngươi không bao giờ
có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc như vậy?
- Bạch
Thế Tôn, trước kia con không bao giờ có sự thoải mái như
vậy, có được an lạc như vậy.
- Này
Thiên chủ, như thế nào, Ngươi biết được trước kia không
bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc
như vậy?
- Bạch
Thế Tôn, thuở xưa, một trận chiến tranh xẩy ra giữa chư
Thiên và các vị Asurà. Bạch Thế Tôn, trong trận chiến tranh
này, chư Thiên thắng trận, các loài Asurà bại trận. Bạch
Thế Tôn sau khi thắng trận, con là người thắng trận, con
suy nghĩ: "Nay cam lồ của chư Thiên và cam lồ của Asurà, cả
hai loại cam lồ, chư Thiên sẽ được nếm." Bạch Thế Tôn,
thoải mái ấy, hỷ lạc ấy do gậy trượng đem lại, do đao
kiếm đem lại, không đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt,
an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Bạch Thế Tôn,
thoải mái này, hỷ lạc này nhờ nghe Chánh pháp Thế Tôn đem
lại, không do gậy trượng, không do đao kiếm, sẽ đưa đến
toàn yêm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác
ngộ và Niết bàn.
8.
- Này Thiên chủ, khi Ngươi cam thọ sự thoải mái và hỷ lạc
như vậy, Ngươi cảm thấy những lợi ích gì?
- Bạch
Thế Tôn, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy,
con cảm thấy có sáu lợi ích như sau:
Nay
con đứng tại đây,
Với
thân một vị Thiên.
Con
thấy được tái sanh,
Bạch
Ngài, hãy biết vậy.
Bạch
Thế Tôn đó là điều lợi thứ nhất con cảm thấy, khi con
cảm thọ thoải mái hỷ lạc như vậy.
Sau
khi chết con bỏ,
Thân
chư Thiên, phi nhân,
Không
muội lược, con đi,
Ðến
bào thai con thích.
Bạch
Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ hai, con cảm thấy, khi
con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
Câu
hỏi được đáp rõ,
Hoan
hỷ trong Chánh giáo.
Con
sống với Chánh trí,
Giác
tỉnh và Chánh niệm.
Bạch
Thế Tôn, đó là điều lợi thứ ba, con cảm thấy, khi con
cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
Con
sống với Chánh trí,
Sẽ
được quả Bồ đề,
Sống
làm vị Chánh giác,
Ðời
này đời cuối cùng.
Bạch
Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ tư, con cảm thấy, khi
con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
Chết
từ thân con Người,
Con
từ bỏ thân Người,
Con
sẽ thành chư Thiên,
Trong
Thiên giới vô thượng.
Bạch
Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ năm, con cảm thấy, khi
con cảm thọ thoải mái, và hỷ lạc như vậy.
Thù
thắng hơn chư Thiên,
Akanittha
danh xưng,
Sống
đời sống cuối cùng,
Như
vậy nơi an trú.
Bạch
Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ sáu, con cảm thấy, khi
con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
9.
Tâm
tư không thỏa mãn,
Nghi
ngờ và do dự,
Con
sống cầu Như Lai,
Thời
gian khá lâu dài!
Con
nghĩ các Sa môn,
Sống
một mình cô độc,
Là
bậc Chánh Ðẳng Giác,
Nghĩ
vậy con tìm gặp.
Làm
thế nào thành công?
Làm
thế nào thất bại?
Ðược
hỏi câu hỏi vậy?
Không
thể chỉ đường hướng.
Biết
con là Sakka,
Bậc
Thiên chủ, đã đến!
Họ
liền gạn hỏi con,
Ðến
đây có việc gì?
Con
liền giảng Chánh pháp,
Con
cho họ được nghe.
Hoan
hỷ, họ bèn nói:
"Vàsava
làm họ thấy!"
Khi
con được thấy Phật,
Nghi
ngờ đều tiêu tan.
Nay
con sống vô úy,
Hầu
hạ bậc Chánh Giác.
Mũi
tên độc tham ái,
Ðấng
Chánh Giác nhổ lên,
Con
đảnh lễ Ðại Hùng,
Bậc
thân tộc mặt trời.
Tôn
giả như Phạm thiên,
Nay
con đảnh lễ Ngài,
Nay
con kính lễ Ngài!
Ngài
là bậc Chánh Giác,
Bậc
Ðạo Sư vô thượng,
Trong
đời kể chư Thiên,
Không
ai so sánh Ngài!
10. Rồi
Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn thát bà:
- Này
Khanh Pancasikha, Ngươi đã giúp ta nhiều việc. Trước nhờ
Ngươi làm Thế Tôn bằng lòng, sau khi Ngươi làm cho bằng lòng,
ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng
Giác. Ta sẽ đóng vai trò thân phụ cho Ngươi, Ngươi sẽ là
Vua loài Càn thát bà. Ta sẽ cho Ngươi Bhaddà Suriya Vaccasà,
người mà ngươi ao ước.
Rồi
Thiên chủ Sakka, lấy tay sờ đất, đọc lên ba lần bài kệ
cảm hứng như sau:
Ðảnh
lễ đấng Thế Tôn,
Bậc
La hán, Chánh Giác!
Ðảnh
lễ đấng Thế Tôn,
Bậc
La hán, Chánh Giác!
Ðảnh
lễ đấng Thế Tôn,
Bậc
La hán, Chánh Giác!
Khi lời
tuyên thuyết này được tụng đọc, pháp nhãn thanh tịnh vô
cấu, khởi lên cho Thiên chủ Sakka: "Phàm pháp gì tập sanh,
pháp ấy sẽ bị hoại diệt." Ngoài ra, tám vạn chư Thiên
cũng chứng quả tương tợ. Ðó là những câu hỏi, Thiên chủ
Sakka được mời hỏi và được Thế Tôn trả lời. Do vậy,
cuộc đối thoại này cũng được gọi là Những Câu Hỏi
Của Sakka (Ðế-thích sở vấn).
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt
[Xem
bản
Anh ngữ]