|
|
|
Tập
I (Kinh số 1-16)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tập
II (Kinh số 17-34)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TRƯỜNG
BỘ
Dìgha
Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2535 - 1991
32. Kinh
A-sá-nang-chi
(Atànàtiya sutta)
Như vậy
tôi nghe.
1.
Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), núi Gijjhakùta
(Linh Thứu). Bốn Thiên vương sau khi sắp đặt trấn giữ bốn
phương với đại quân Yakkha (Dạ-xoa), đại quân Gandhabba (Càn-thát-bà),
đại quân Kumbhanda (Cưu-bàn-trà) và đại quân Nàga (Na-già),
án ngữ bốn phương, bảo trì bốn phương, trong đêm tối
thâm sâu, với hào quang tuyệt diệu chói sáng toàn thể núi
Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ
Ngài và ngồi xuống một bên. Các vị Dạ-xoa, có vị đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên những
lời chúc tụng, hỏi thăm, rồi ngồi xuống một bên; có vị
nói lên tên họ rồi ngồi xuống một bên; có vị im lặng,
rồi ngồi xuống một bên.
2.
Sau khi ngồi xuống một bên, đại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn)
bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế
Tôn; bạch Thế Tôn có những thượng phẩm Dạ-xoa tin tưởng
Thế Tôn, Bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa không
tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa
tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa
không tin tưởng Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa tin tưởng
Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nhưng phần lớn các Dạ-xoa không
tin tưởng Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn. Thế Tôn thuyết
pháp để từ bỏ sát sanh, thuyết pháp để từ bỏ trộm
cắp, thuyết pháp để từ bỏ tà dâm, thuyết pháp để từ
bỏ nói láo, thuyết pháp để từ bỏ không uống các loại
rượu. Bạch Thế Tôn, tuy vậy phần lớn các Dạ-xoa đều
không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ trộm cắp, không từ
bỏ tà dâm, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ uống các
loại rượu. Ðối với họ, Pháp ấy không được ưa thích,
không được đón mừng. Bạch Thế Tôn, có những đệ tử
của Thế Tôn, sống trong chốn thâm sâu cùng cốc, ít tiếng,
ít động, có gió mát từ ngoài đồng thổi, che dấu không
cho người thấy, thích hợp tịnh tu. Tại chỗ ấy, có những
thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng lời dạy Thế Tôn. Bạch
Thế Tôn, hãy học chú Atànàtiyarakkha (A-sá-nang-chi Hộ Kinh)
để học được lòng tin, để các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni,
Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ có thể sống an lạc, được che chở,
được hộ trì không bị tại họa.
Thế
Tôn im lặng chấp thuận.
3.
Rồi đại vương Vessavana, biết được Thế Tôn đã chấp
thuận, trong giờ phút ấy, đọc lên bài Atànàtiya Hộ Kinh:
Ðảnh
lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi),
Sáng
suốt và huy hoàng!
Ðảnh
lễ đấng Sikhi (Thi-khí)
Có
lòng thương muôn loài!
Ðảnh
lễ Vessabha (Tỳ-xá-bà),
Thanh
tịnh, tu khổ hạnh!
Ðảnh
lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn),
Vị
nhiếp phục ma quân!
Ðảnh
lễ Konàgamana, (Câu-na-hàm)
Bà-la-môn
viên mãn!
Ðảnh
lễ kassapa (Ca-diếp),
Vị
giải thoát muôn mặt!
Ðảnh
lễ Angirasa,
Vị
Thích tử huy hoàng,
Ðã
thuyết chơn diệu pháp,
Diệt
trừ mọi khổ đau!
Ai
yểm ly thế giới,
Nhìn
đời đúng như chơn,
Vị
ấy không hai lưỡi,
Bậc
vĩ đại thanh thoát.
Cùng
đảnh lễ Gotama,
Lo
an lạc Nhơn Thiên
Trì
giới đức viên mãn!
Bậc
vĩ đại thanh thoát!
4.
Mặt
trời sáng mọc lên,
Vầng
thái dương tròn lớn,
Khi
mặt trời mọc lên,
Ðêm
tối liền biến mất.
Khi
mặt trời mọc lên
Liền
được gọi là ngày.
Biển
cả hải triều động,
Như
hồ nước thâm sâu.
Ở
đấy mọi người biết,
Chính
biển cả hải triều,
Dân
chúng gọi phương ấy
Là
phương Purimà, (phương đông).
Vị
trí vì phương ấy,
Bậc
đại vương danh xưng,
Chư
loài Càn-thát-bà,
Danh
gọi Dhatarattha (Trì Quốc Thiên vương).
Càn-thát-bà
hầu quanh,
Hưởng
múa hát của họ.
Vua
này có nhiều con,
Ta
nghe chỉ một tên,
Tám
mươi và mười một,
Ðại
lực, danh Inda.
Họ
chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc
giòng họ mặt trời.
Từ
xa, họ lễ Phật,
Bậc
vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh
lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh
lễ bậc Thượng nhân!
Thiện
tâm nhìn chúng con,
Phi
nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã
nhiều lần, nghe hỏi,
Nên
đảnh lễ như vậy,
"Quý
vị xin đảnh lễ,
Gotama
chiến thắng!
Chúng
con xin đảnh lễ,
Gotama
chiến thắng!
Ðảnh
lễ Gotama,
Bậc
trí đức viên mãn".
5.
Họ
được gọi Peta,
Nói
hai lưỡi, sau lưng,
Sát
sanh và tham đắm,
Ðạo
tặc và man trá,
Dân
chúng gọi phương ấy,
Là
phương Dakkhinà (phương Nam).
Vị
trị vì phương ấy,
Bậc
đại vương, danh xưng,
Chủ
loài Kumbhanda (Cưu-bàn-trà)
Danh
gọi Virùlhaka (Tỳ-lâu-lặc).
Kumbhanda
hầu quanh,
Hưởng
múa hát của họ.
Vua
này có nhiều con,
Ta
nghe chỉ một tên,
Tám
mươi và mười một,
Ðại
lực, danh Inda.
Họ
chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc
giòng họ mặt trời.
Từ
xa, họ lễ Phật,
Bậc
vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh
lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh
lễ bậc Thượng nhân!
Thiện
tâm nhìn chúng con,
Phi
nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã
nhiều lần, nghe hỏi,
Nên
đảnh lễ như vậy,
"Quý
vị xin đảnh lễ,
Gotama
chiến thắng!
Chúng
con xin đảnh lễ,
Gotama
chiến thắng!
Ðảnh
lễ Gotama,
Bậc
trí đức viên mãn".
6.
Mặt
trời sáng lặng xuống,
Vầng
thái dương trong lớn.
Khi
mặt trời lặn xuống.
Ban
ngày liền biến mất.
Khi
mặt trời lặn xuống,
Liền
được gọi là đêm.
Biển
cả hải triều động,
Như
hồ nước thâm sâu,
Ở
đây mọi người hết,
Chính
biển cả hải triều,
Dân
chúng gọi phương ấy,
Là
phương Pacchimà (phương Tây).
Vị
trị vì phương ấy,
Bậc
đại vương, danh xưng.
Chủ
các loài Nàgà,
Danh
Virùpakkha (Tỳ-lâu-bác-xoa).
Loài
Nàgà hầu quanh,
Hưởng
múa hát của họ.
Vua
này có nhiều con,
Ta
nghe chỉ một tên,
Tám
mươi và mười một,
Ðại
lực, danh Inda.
Họ
chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc
giòng họ mặt trời.
Từ
xa, họ lễ Phật,
Bậc
vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh
lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh
lễ bậc Thượng nhân!
Thiện
tâm nhìn chúng con,
Phi
nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã
nhiều lần, nghe hỏi,
Nên
đảnh lễ như vậy,
"Quý
vị xin đảnh lễ,
Gotama
chiến thắng!
Chúng
con xin đảnh lễ,
Gotama
chiến thắng!
Ðảnh
lễ Gotama,
Bậc
trí đức viên mãn".
7.
Bắc
Lô Châu (Uttarakurù) an lạc
Ðại
Neru (Tu-di) đẹp đẽ.
Tại
đấy, mọi người sống
Không
sở hữu, chấp trước.
Họ
không gieo hột giống,
Không
cần phải kéo cày.
Loài
người được thọ hưởng
Lúa
chín khỏi nhọc công.
Loại
gạo không cám trấu,
Thanh
tịnh có hương thơm,
Ðược
nấu chín trên đá,
Và
họ ăn gạo ấy.
Chỉ
cỡi loài bò cái,
Ði
phương này phương khác.
Chỉ
dùng các loài thú
Ði
phương này phương khác.
Dùng
xe đàn bà kéo,
Ði
phương này phương khác.
Dùng
xe đàn ông kéo,
Ði
phương này phương khác.
Dùng
xe con gái kéo,
Ði
phương này phương khác.
Dùng
xe con trai kéo,
Ði
phương này phương khác.
Họ
lên trên các xe,
Ði
khắp mọi phương hướng,
Ðể
phục vụ vua mình.
Họ
cỡi xe voi kéo,
Xe
ngựa, xe chư Thiên,
Ðối
với vua danh xưng,
Có
lâu đài, có kiệu,
Nhiều
thành phố của vua,
Ðược
xây giữa hư không.
Các
thành Atànàtà,
Kusinàtà,
Parakusinàtà, Nàttapuriyà, Parakusitannàtà
Kapìvanta
thuộc phía Bắc,
Và
các thành phố khác,
Như
Janogha, Navanavatiya,
Ambara,
Ambaravatiya,
Alakamandà,
Là
kinh đô của vua,
Chỗ
Kuvera ở.
Vị
vua đáng kính này,
Kinh
đô tên Visànà.
Do
vậy Kuvera,
Ðược
danh Vessavana.
Các
sứ quán được tên:
Tatolà,
Tattalà, Tatotalà,
Ojasi,
Tejasi, Tatojasi,
Vua
Sùra, Arittha, Nemi.
Ðây
có vùng nước lớn,
Từ
đây mưa đổ xuống,
Ðược
tên Dharanì.
Tại
đây mưa đổ xuống,
Ðược
tên Dharanì.
Tại
đây có giảng đường,
Tên
Bhagalavati,
Chỗ
Dạ-xoa tập hội.
Tại
đây nhiều cây trái,
Trên
cây chim tụ họp,
Các
loại công, loại cò,
Diệu
âm chim Kokilà,
Ở
đây, chim Jiva,
Kêu
tiếng "Hãy sống đi",
Và
tiếng chim kêu lên,
"Hãy
khởi tâm thích thú".
Nhiều
loại chim sai khác,
Ở
rừng và ở hồ,
Với
con vẹt ồn ào,
Và
con chim Mynah,
Các
loại chim thần thoại,
Gọi
là Dandamànavakà.
Hồ
sen Kuvera,
Chiếu
sáng tất cả trời,
Dân
chúng gọi phương ấy,
Là
phương Uttarà (phương Bắc).
Vị
trị vì phương ấy,
Bậc
đại vương danh xưng,
Chủ
các loài Dạ-xoa,
Ðược
gọi Kuvera.
Các
Dạ-xoa hầu quanh,
Hưởng
múa hát của chúng.
Vua
này có nhiều con,
Ta
nghe chỉ một tên,
Tám
mươi và mười một,
Ðại
lực, danh Inda.
Họ
chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc
giòng họ mặt trời.
Từ
xa, họ lễ Phật,
Bậc
vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh
lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh
lễ bậc Thượng nhân!
Thiện
tâm nhìn chúng con,
Phi
nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã
nhiều lần, nghe hỏi,
Nên
đảnh lễ như vậy,
"Quý
vị xin đảnh lễ,
Gotama
chiến thắng!
Chúng
con xin đảnh lễ,
Gotama
chiến thắng!
Ðảnh
lễ Gotama,
Bậc
trí đức viên mãn".
8. Tôn
giả, Hộ Kinh Atànàtiya này che chở, hộ trì, ngăn không cho
ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư
sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Khi
một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ
học Hộ Kinh Atanatiya này một cách chín chắn, rõ ràng, nếu
có loài phi nhân nào, Dạ-xoa, Dạ-xoa-ni, con trai Dạ-xoa, con
gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay
lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà
(Kumbhanda)... hoặc Nàga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam
cư sĩ, Nữ cư sĩ khi vị này đi; đứng gần, khi vị này đứng;
ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm
độc ác, thời này Tôn giả, vị phi nhân ấy trong làng hay
trong đô thị sẽ không được ai đón mừng hay kính trọng.
Này Tôn giả, phi nhân ấy, trong kinh đô Alakamada của Ta sẽ
không tìm được đất đai hay chỗ ở. Vị phi nhân ấy sẽ
không được đi dự hội giữa các Dạ-xoa. Này Tôn giả, vị
phi nhân ấy sẽ không được cưới hỏi. Này Tôn giả, các
hàng phi nhân sẽ dùng những lời nói hốn láo xấc xược
đối với vị ấy. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dìm
đầu vị ấy xuống. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ chẻ
đầu vị ấy ra làm bảy mảnh.
9.
Này Tôn giả, có hàng phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp.
Chúng không nghe lời các đại vương, không nghe lời đình
thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp
việc cho các đình thần của các vị đại vương. Này Tôn
giả, các phi nhân này được xem là thù nghịch của các bậc
đại vương. Này Tôn giả, như các đại tướng cướp vua
xứ Magadha bị chinh phục. Cũng vậy, các vị này không nghe
lời các vị đại vương, không nghe lời đình của thần các
vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các
đình thần của các vị đại vương. Này Tôn giả, các vị
đại tướng cướp này được xem là kẻ thù nghịch của
vua xứ Magadha - cũng vậy, này Tôn giả, có những vị phi nhân
hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Các vị này không nghe lời
các đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại
vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần
các vị đại vương. Này Tôn giả, các vị phi nhân này được
xem là kẻ thù nghịch của các bậc đại vương. Này Tôn giả,
nếu có vị phi nhân nào, Dạ-xoa hay Dạ-xoa-ni nào... đi theo
vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ hay Nữ cư sĩ khi vị này
đi, đứng gần khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi;
nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, vị này hãy
nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại
Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: "Dạ-xoa này bắt tôi,
Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa
này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả
tôi ra".
10.
Những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sự, đại quân sư nào được
kêu gọi ở đây:
Inda,
Soma, và Varuna,
Bhàradvaja,
Pajàpati,
Candana,
Kàmasettha,
Kinnughandu,
Nighandu,
Panàda
và Opamanna,
Devanita
và Màtali,
Cittasena
và Gandhabba.
Vua
Nala, Janesabha,
Sàtàgira
Hemavata,
Punnuaka,
Karatiya, Gula,
Sivakat
và Mucalinda
Vessàmitta,
Yugandhara,
Gopàla
và Suppagedha,
Hirì,
Settì và Mandiya,
Pancàla
Canda, Alavaka,
Pajjunna,
Sumana, Sumukha,
Dadhimukha
Mani Mànicara, Dìgha,
Atha
và Serissaka.
Những
vị này là những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân
sư cần phải được nói lên, kêu lên, van lên: "Dạ-xoa này
bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương
tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa
này không thả tôi ra".
11.
Này Tôn giả, đây là Hộ Kinh Atànàtiyà che chở, hộ trì,
ngăn không cho ai làm hại các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ,
Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Thưa
Tôn giả, nay chúng tôi cần phải đi, chúng tôi có nhiều việc,
có nhiều bổn phận.
- Ðại
vương, Ðại vương hãy làm điều gì Ðại vương nghĩ là
phải thời.
Rồi
bốn vị đại vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ
Thế Tôn, thân bên hữu hướng về phía Ngài rồi biến mất
tại đấy.
Các
vị Dạ-xoa ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, có vị đảnh lễ
Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại
chỗ; có vị nói lên những lời hỏi thăm xã giao với Thế
Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị chấp tay hướng đến
Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên tên họ
của mình rồi biến mất tại chỗ; có vị im lặng biến mất
tại chỗ.
12.
Rồi Thế Tôn sau khi đêm đã mãn, liền gọi các vị Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, khi hôm, bốn vị đại vương cùng với đại
quân sư Dạ-xoa:
"Ðảnh
lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi)
sáng
suốt và huy hoàng;
Ðảnh
lễ đấng Sikhi, (Thi-khí)
có
lòng thương muôn loài...
Này
Tôn giả, đó là hộ kinh Atànàtiyà che chở, hộ trì, ... (như
trên) ... rồi biến mất tại chỗ".
13. Này
các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atànàtiyà này, hãy thuộc lòng
Kinh Atànàtiyà này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ,
Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi
ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.
Thế
Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ thọ
trì lời dạy Thế Tôn.
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt

|