Phần
03
11/
Nắm hạt trai
12/
Xâu ngọc. . . nước
13/
Tiếng đàn ai oán
14/
Kẻ bỏn sẻn bị phạt
15/
Vàng hay Rắn
Nắm
Hạt Trai
Hôm
nay theo thứ lớp khất thực Ðạo sĩ A La phải đặt chân
vào một chiếc cổng cổ kính, nhưng không kém phần tráng
lệ và mỹ thuật của một thương gia, có tiếng chuyên môn
buôn bán lớn về ngọc ngà vàng bạc.
Ðạo
sĩ đưa chiếc gậy tre ấn nhẹ cánh cổng, rồi khoan thai bước
vào! Người thong thả rảo bước theo hàng dậu, để lần
đến một nếp nhà cao sang nằm chễnh chề giữa một khu vườn
vuông vắn.
Chung
quanh người hoa lá đang nhộn nhịp trong nắng sớm và trước
mắt người cảnh giàu sang đang phô bày diễm lệ. Nhưng bình
minh trong sạch như lòng, Ðạo sĩ vẫn trầm tĩnh, nét mặt
vẫn bình dị, đôi mắt người vẫn dịu hiền và cả nụ
cười không thay đổi ý nghĩa giải thoát của một nhà ÐẠO
SĨ.
Xa
xa, đàn ngỗng trắng đang đùa giỡn trên đám cỏ xanh mềm;
bỗng chúng cất tiếng kêu vang, làm ngừng tay viên thương
chủ, giữa lúc chàng mãi chọn lấy hạt trai, để xâu lại
thành chuỗi… Ðạo sĩ khất thực!
Cả
một hình dáng yên lành và thanh tịnh đang nhẹ tiến về phía
chàng… sung sướng, chàng để luôn cả nắm hạt trai xuống
đất, chắp tay vái chào Ðạo sĩ, rồi vội vàng đi lấy cơm
dâng cúng cho người.
Trong
lúc ấy, đàn ngỗng đứng bên cạnh, trông thấy nắm hạt
trai óng ả chúng lầm tưởng một món ăn ngon, quên cả sự
có mặt của Ðạo sĩ, một con lớn nhất trong đàn, lanh lẹ
chạy đến và đớp đại lấy nắm hại trai… Ðạo sĩ hoảng
hốt đưa tay đuổi… nhưng muộn lắm rồi, cả nắm hạt
trai, trong nháy mắt, đã dễ dàng trôi qua cổ họng con ngỗng
khốn nạn.
Trong
trường hợp này, Ðạo sĩ tự thấy lo ngại, nhưng người
trầm tĩnh lại ngay và yên lặng chờ đợi.
Giữa
lúc ấy, chàng thương chủ đã từ nhà đi ra, mang theo một
bát cơm sốt dẻo. Chàng cung kính quỳ trước Ðạo sĩ để
dâng cúng cho người.
Nhưng
chàng bỗng sửng sốt kinh lạ khi nhìn lại nơi chàng để
nắm hạt trai. Một lần nữa chàng đưa mắt nhìn kỹ xung
quanh, và nhìn lại nơi đã để hạt trai, rồi bỗng chàng
đưa mắt lên nhìn Ðạo sĩ, mà người đang yên lặng đứng
trước mặt chàng.
Chàng
đứng ngay dậy, tay chàng run lên, mắt chàng như nẩy lửa,
và chàng cất tiếng mỉa mai: “Chắc Ðạo sĩ không gì trước
cử chỉ thất lễ đột nhiên của tôi chứ? Mong người trả
lại nắm hạt trai quý giá cho chúng tôi”.
Trước
cử chỉ và lời lẽ của thương chủ, Ðạo sĩ A La vẫn bình
tĩnh không trả lời.
Thái
độ yên lặng và thản nhiên của Ðạo sĩ, càng làm cho thương
chủ tức giận sôi gan, chàng lớn tiếng mắng Ðạo sĩ và
gọi gia đình bắt trói Ðạo sĩ lại, đồng thời cho mời
hương chức để tra hỏi.
Nhưng
Ðạo sĩ vẫn yên lặng chịu đựng, trước những lời lẽ
đang nhiên chua chát của thương chủ; trước hình phạt tra
tấn của hương chức. Nhưng người sức có hạn. Ðạo sĩ
không chịu đựng được nữa, người té xỉu và ngất lịm
trên vũng máu.
Giữa
lúc ấy con ngỗng trắng khốn nạn kia, bỗng cất cánh bay
lại bên Ðạo sĩ, chìa mỏ hút lấy dòng máu. Sẵn cơn tức
giận, thương chủ không một thương tâm tha thứ, chàng xách
gậy chạy đến và đánh chết ngay con ngỗng… Ðạo sĩ A
La vừa hồi tỉnh, nghe động, đưa mắt nhìn sang, người hoảng
hốt kêu cứu cho con ngỗng.
Nhưng
làm sao kịp nữa; con ngỗng đáng thương của Ðạo sĩ chỉ
còn lại cái xác không hồn; động lòng TỪ BI, ÐẠO SĨ cố
lấn lại bên thi hài con ngỗng, người đưa tay vỗ về và
lâm râm đọc kinh cầu nguyện…
Cử
chỉ tự nhiên, thái độ chí thành của Ðạo sĩ trong sự
cầu nguyện đã làm cho thương chủ yên lặng quên cả sự
đánh mắng. Vài phút sau, Ðạo sĩ A La chống gậy đứng dậy
và chậm rãi nói với thương chủ: “Nắm hạt trai của người
chính con ngỗng này đã nuốt vào bụng nó, trong khi người
vắng mặt”.
Nghe
xong, thương chủ vội bảo người nhà đem mổ bụng con ngỗng
để chàng xem hư thật.
Quả
như lời Ðạo sĩ: Nắm ngọc trai óng ả được đưa ra với
nắm ruột khốn nạn của con ngỗng bạc phước.
Thương
chủ vừa trông thấy, chàng liền sụp đầu sát chân
Ðạo sĩ, cầu xin người mở lượng TỪ BI cho chàng sám hối.
Chàng
phân phiền: “Sao Ðạo sĩ không cho tôi biết trước, để
tôi lầm lỗi thế này”.
Một
câu nói ý nghĩa, đã vội nở trên đôi môi nhà Ðạo sĩ:
“Hỡi thương chủ! Lòng TỪ BI không giới hạn, ta đã nguyện
mở rộng trước mọi đau khổ của chúng sanh”.
Vì
thế, nếu ta đem chuyện con ngỗng lầm dại, nói ngay với
người từ trước, như vậy là ta đã gián tiếp giết hại
con ngỗng! Việc ấy ta không bao giờ làm.
Vả
lại ta không thể trái lời Phật dạy, manh tâm lưu hại cho
chúng sanh, chỉ vì sự an lạc của chúng sanh nhỏ hẹp!”.
Thương
chủ như mở bừng đôi mắt; đến đây chàng mới nhận rõ
cái cử chỉ yên lặng từ trước của Ðạo sĩ là một ý
nghĩa cao quí, làm sống lại lời Phật dạy và tỏa rộng
đạo TỪ BI.
Chàng
tự than: “Nếu tất cả nhân loại chúng sanh, ai cũng biết
sống đúng theo lời Phật dạy và thực hành theo hạnh TỪ
BI như Ðạo sĩ, thì còn đâu nữa mọi nỗi đau khổ của
chúng sanh.
Hơn
nữa, nếu biết xem thường vật chất thì đến nỗi nào phải
tối tăm và lỗi lầm như chàng đã lầm lỗi”.
Giờ
phút này lòng chàng như cởi mở và rộng rãi bao la… Ðưa
mắt nhìn về dĩ vãng, chàng cảm thấy đời chàng như một
căn phòng tối tăm, thấp thỏi!
Và
có lẽ từ đây, chàng không thể sống lại một cuộc đời
nhỏ hẹp, chỉ biết bo bo với vàng bạc ngọc ngà; chàng cũng
không thể sống lại một cuộc đời nô lệ đầy tội lỗi
chỉ biết tìm lạc một cuộc đời cho tự thân… Một ý
niệm trong đẹp nẩy nở trên tâm thức: “Chàng phải từ
rã tất cả để đền trả tội xưa; chàng phải từ rãy tất
cả, để làm những gì mà lòng chàng ao ước hoài vọng”.
Ðưa
mắt nhìn lại ngôi nhà sang trọng của mình rồi chàng mạnh
mẽ hướng về Ðạo sĩ, chàng cúi đầu đảnh lễ, và cầu
xin noi chí rộng rãi của người, chàng phát nguyện: “Chàng
sẽ là một viên đá nhỏ, trong vô số viên đá khác, để
chung góp xây đạo TỪ BI. Chàng sẽ là một tia sáng nhỏ,
trong vô số tia sáng khác, để cùng nhau nêu cao lời Phật
dạy, để đem lại hạnh phúc giải thoát và giác ngộ cùng
khắp cho tất cả mọi loài”.
Thuật
giả: Thích Tâm Nguyên
Chiến
tranh làm gì có khi người ta giữ giới không sát sanh.
Xâm
lượt làm gì có khi người ta biết giữ giới không trộm
cướp.
Xâu
Ngọc… Nước
Bên
trời sương mù đã tan hẳn.
Vầng
thái dương ẩn hiện sau áng mây thua, chiếu ánh sáng huy hoàng
trong khoảng không gian trong tạnh.
Từng
cơn gió mát lạnh từ phương nam thổi về làm rơi những hạt
nước trong suốt như pha lê còn đọng ở đầu cỏ lá cây.
Cảnh
vật nơi vườn Ngự sau một trận mưa mai vừa tàn, càng đượm
vẻ thanh tân tươi thắm.
Nơi
thềm cao của một ngôi đền vàng, một nàng công chúa tuổi
còn thơ bé, ngồi trên chiếc cẩm đôn, đưa mắt thẩn thờ
nhìn ngắm cỏ hoa trong thượng uyển.
Bên
này nơi hồ bán nguyệt những đóa hoa sen trắng, đỏ, tươi,
đẹp mịn màng xen lẫn thấp cao trên mặt nước.
Ðàng
kia, chung quanh hòn giả sơn, những thứ hoa quý lạ từ bốn
phương gởi về, hương sắc thanh kỳ, phô vẻ nghìn hồng
muôn tía, như mỉm cười duyên dáng trước ngọn gió mai.
Xa
xa, mấy gốc thùy dương dịu dàng nghiêng mình soi bóng bên
dòng suối nhỏ.
Khung
cảnh tuy đẹp nhưng không gợi được niềm vui cho Công chúa,
vì nó đã thường với mắt nàng lắm, rồi nàng mơ mộng
vơ vẩn và ước mong một cái gì khác lạ hơn nữa…
Nắng
vàng nhẹ phủ lên hoàng cung.
Cảnh
vật nơi vườn ngự tắm nắng triêu dương, rung động chập
chờn trong làn gió sớm.
Công
chúa đang thơ thẩn ngồi trông xa gần, bỗng đôi mắt nàng
chăm chú vào một cảnh tượng. Từ trên mái ngói tráng men
xanh, nước mưa còn đọng lại rơi xuống từng giọt đều
đều, nối thành những bóng nước tròn, trôi lăn theo rãnh
đá hoa trắng.
Dưới
ánh chiêu dương, những bóng nước ấy lấp lánh, nổi nhiều
màu sắc kỳ xảo, xinh đẹp lạ thường như những hạt ngọc
tuyệt trần vô giá! Nét mặt công chúa sáng lên, nàng mỉm
cười và thầm nghĩ: “Chà! những hạt ngọc kia sao mà đẹp
thế! Ta đã có nhiều châu báu, nhưng chưa thấy thứ ngọc
nào quý lạ bằng loại này.
Giá
ta có một tràng chuỗi ngọc như thế để quàng nơi cổ thì
thích biết bao!”.
Nghĩ
xong, như thâu thần, công chúa lại thừ người ra nhìn ngắm
say sưa quên hẳn bao nhiêu vẻ tươi thắm quanh mình,
mặc cho ngọn gió nam cợt đùa cùng cảnh vật.
Giọt
mưa đá dứt từ trên mái ngói.
Nơi
lòng rãnh đá hoa, hình dáng những viên ngọc vô giá không
còn nữa.
Ðâu
đây, vài tiếng chim ríu rít điểm thưa thớt, đứt khoảng
trong mấy tàn cây rậm.
Vầng
thái dương lên đã hơi cao, ánh vàn xiên xiên rọi nữa thềm
vàng, mà công chúa vẫn còn ngồi ngơ ngẩn, tâm hồn như phiêu
dạt tận nơi nào! Một tên cung nữ từ phía trong đi ra, se
sẽ đến gần, cung kính thưa: có lệnh mẫu hoàng gọi.
Như
chợt bình tĩnh, công chúa không đáp, nặng nề bước thẳng
vào phòng rồi lên giường nằm.
Cung
nữ ngạc nhiên chạy vào phía trong.
Một
lát, Hoàng hậu đến phòng con, thấy trên mặt ngây thơ có
vẻ bơ phờ ủ dột, tưởng rằng đứa con yêu cảm nhiễm
phong hàn, nên dịu dàng han hỏi.
Vốn
là con một, hằng được nuông chiều, công chúa như có dịp
để nhỏng nhẽo cùng mẹ.
Vì
vậy tuy biết hoàng hậu đến thăm, nhưng nàng vẫn nằm xây
mặt vào trong im lặng.
Hoàng
hậu lại càng hốt hoảng kịp báo tin cho đức vua. Nghe tin
con bất thường, đức vua vội vàng đến thăm hỏi, công chúa
cũng vẫn im lặng không đáp. Sau khi vua và hoàng hậu dỗ dành,
khuyên lơn mãi, nàng công chúa thơ ngây ấy mới thuật chuyện
những viên ngọc quý và nói chỗ ước vọng của mình. Nghe
xong, đứa vua cười vui vẻ và bảo: Ồ! Con ta khéo vớ vẩn
thì thôi! Những hạt ngọc mà con nói đó, chỉ là những bóng
nước, làm sao kết được tràng chuỗi? Nhưng thôi, con hãy
yên lòng, các thứ ngọc quý giá ấy ở trong kho tàng không
thiếu gì, cha sẽ cho con tùy ý lựa chọn. Nói đoạn, Vua sai
quan giữ kho lựa những thứ ngọc thật đẹp đem đến cho
công chúa. Nhưng sau khi xem xong từ thứ ngọc này đến thứ
ngọc khác, công chúa vẫn không vừa ý, nhất định đòi cho
được thứ hạt ngọc mà mình đã trông thấy.
Ước
vọng không thành, lòng mơ tưởng những viên ngọc tuyệt đẹp
làm cho công chúa âu sầu rã rượi, không còn biết đến bao
nhiêu thức ngon, vật lạ.
Bệnh
của công chúa mỗi ngày mỗi nặng. Ðức Vua và Hoàng hậu
vô cùng lo lắng, vì vậy thấy sự tưởng nhớ có thể làm
gầy mòn và cướp mất đứa con yêu của mình.
Một
buổi chầu đức vua phán hỏi các quan làm thế nào cho công
chúa hết bệnh? Tất cả triều thần đều nhìn nhau lặng
thinh. Ngài lại hạ chiếu cho đòi những người thợ chuốt
ngọc tài giỏi vào triều và hỏi có thứ ngọc nào như những
bóng nước lấp lánh ngũ sắc để làm tràng chuỗi cho công
chúa?
Tất
cả thợ ngọc đều tâu không thể nào tìm được thứ ngọc
như thế. Sau cùng, đức vua cho truyền rao khắp trong nước:
Nếu người nào làm cho công chúa hết bệnh, sẽ được thưởng
nghìn vàng.
Trong
khi giờ khắc lặng lẽ trôi qua mà cứu tinh vẫn vắng bóng,
vì lòng thương con, người cha hiền ngồi đứng không yên,
muôn phần áo não.
Một
buổi sáng tinh sương, có người thợ chuốt ngọc tuổi già,
râu tóc bạc phơ; xin vào ra mắt, sau khi bái yết xong người
thợ già quỳ xuống tâu: “Muôn tâu Hoàng thượng! Bệnh của
công chúa là một tâm bệnh, không thể dùng thuốc thang điều
trị.
Muốn
cho hết bệnh lành, tất phải làm thỏa nguyện vọng của
người ốm. Nhưng có điều khó: bóng nước không thể kết
làm tràng chuỗi được.
Tuy
nhiên, thần đã có phương chước làm cho công chúa hết bệnh.
Như trút được gánh nặng, đức vua vô cùng mừng rỡ, liền
đến phòng con âu yếm bảo: “Hôm nay có người thợ già
hứa sẽ xỏ được xâu chuỗi ngọc ấy cho con. Thôi, con đừng
buồn rầu nữa”. Lời nói ấy quả có một hiệu lực phi
thường: trên gương mặt xanh xao tiều tụy của người bệnh
nở nụ cười và cơn trầm kha bỗng dưng như tiêu tan đi đâu
mất.
Một
dịp may, sáng hôm sau, trời vần vũ đổ mưa xuống. Khi trận
mưa vừa tạnh, những bóng nước cũng trôi nơi lòng rãnh đá
hoa như hôm nào.
Người
thợ già tâu vua xin mời công chúa ra trước thềm điệu vàng
và thưa: “Tôi tuổi già, đôi mắt đã mờ, không phân biệt
được vẻ tốt xấu.
Xin
công chúa tuỳ ý lựa hạt ngọc nào đẹp nhất, tôi sẽ xỏ
cho”. Nhưng bóng nước vẫn là chất mong manh, vừa chạm đến
liền tan ngay, công chúa hết vớ bóng này đến bóng khác,
kết cuộc đã mệt nhọc mà chẳng được chi cả.
Người
thợ già hỏi: “Thế nào? Những hạt ngọc ấy ở đâu?”.
Công chúa ngẩng lên nhìn người thợ, rồi quay lại nhìn vua
cha, đáp: “Xin phụ vương ban cho con tràng chuỗi bằng tử
kim, vì thứ ấy rất chắc rơi xuống gạch đá không vỡ.
Còn
những thứ này chỉ có dáng bên ngoài, nhưng lại giả dối
mong manh, con không thể lấy được và không còn thấy ưa thích
nữa”.
Ðức
vua dịu dàng bảo: Thì nó chỉ là những bóng nước thôi con
ạ”. Như tỉnh ngộ ra, công chúa lộ vẻ e thẹn cúi đầu
giữa nụ cười kín đáo của đoàn cung nữ…
Ðức
Phật bảo A Nan và đại chúng:
“Tất
cả pháp hữu vi đều vô thường, không thật như bóng nước
chóng tan, như ánh nắng chập chờn giữa trời mưa mà loài
nai khao khát lầm tưởng là nước cứ đuổi theo mãi. Sắc
thân ngũ ấm cũng như thế chính tự thân còn không giữ được,
huống là cảnh vật bên ngoài. Phàm phu trong lúc vì tự thân
đi tìm hạnh phúc, chỉ đuổi theo bóng hình giả dối, mong
manh, sống mãi trong vòng ước vọng, kết cuộc không được
sự vui chơn thật, lại phải chịu bao nhiêu điều thống khổ,
không khác chi trường hợp của nàng công chúa. Nếu chúng
sanh nào xét biết ấm thân vô thường, dứt trừ phiền não
huyễn tưởng, tất sẽ chứng được tánh thể vắng lặng,
yên vui, không còn xoay lăn trong vòng sinh tử nữa!”. Ðoạn
đức Thế Tôn nói bài kệ rằng:
Nên
quán tưởng bóng nước,
Và
ánh nắng chập chờn
Như
thế quán tưởng thân,
Sẽ
thoát vòng sanh tử.
Thuật
giả: Trí Hiền
Tiếng
Ðàn Ai Oán Hay là
Lòng
Thương Của Một Vị Hoàng Tử
Hoàng
đế La Xà có hai Hoàng tử, Hoàng tử Thiện Hữu, thật là
bạn hiền của mọi người, Hoàng tử Ác Hữu trái lại, độc
ác để khiêu khích anh.
Hoàng
tử khi đến cái tuổi biết nhìn cuộc đời trắng trợn bày
trước mắt chàng: đây người sập chim, bẫy cá, kia người
làm thịt chọc huyết, chim sáo mỗ bọ ngựa, bọ ngựa bắt
chuồn chuồn.
Sự
sống không loài nào không tự bảo trọng cả. Nhưng cả đây
cũng như ở nơi kia, ở đâu sự sống cũng xây trên sự sống.
Thấy vậy Hoàng tử Thiện Hữu xin vua cho tất cả kho tàng
để giúp dân chúng. Kho tàng hết, chàng mạo hiểm vào bể
tìm ngọc giữa sự lo sợ của cha mẹ. Nghe anh đi tìm ngọc,
Hoàng tử Ác Hữu nghĩ:
- Không
ác việc không thành được.
Rồi
xin theo Thiện Hữu, nhưng Thiện Hữu ngăn lại:
- Thân
là trọng, em không nên mạo hiểm theo anh.
Ác
Hữu quyết đi theo:
- Sống
không thỏa nguyện thì vô ích.
Thế
là anh em theo nhau, và nhờ chí nguyện vĩ đại, tấm lòng thương
người, Hoàng tử Thiện Hữu vượt bao nhiêu gian lao nguy hiểm,
tìm được ngọc Như ý. Khi về đến bờ bể, Hoàng tử bảo
em:
- Giờ
trên đường về, anh ngũ thì em giữ, em ngũ thì anh giữ. Ðời
sống no đủ của muôn dân ở nơi viên ngọc nầy. Em nhớ
nhé.
Nhưng
một hôm anh em ngủ trên một quảng đường hiểm. Ác Hữu
bèn tìm hai cây nhọn đâm thủng mắt anh. Ðau quá, Thiện Hữu
vùng dậy la rên gọi em.
Nhưng
Ác Hữu điềm nhiên mang ngọc đi thẳng. Vừa rên, Thiện Hữu
vừa đưa tay quờ quạng tìm em. Chàng cứ nghĩ rằng chàng
bị đâm mắt chứ Á Hữu mang ngọc thì chắc bị kẻ cướp
giết rồi. Nhưng quờ quạng một lát, chàng nghĩ ra: em ta hại
ta chứ không ai đâu khác. Chàng đau đớn thở dài:
- Người
tánh tình vẫn vậy…
Thiện
Hữu đau lắm không thể nhổ hai cây nhọn ra được. Bỗng
một đàn trâu rầm rộ đi qua. Thiện Hữu biết nhưng đành
ngồi, không thấy gì mà tránh nữa. Nhưng lạ lùng thay, chàng
biết mình đang ngồi dưới bụng một con trâu. Con trâu ấy
che chở và thân mến liếm mắt chàng, trong khi đàn trâu rầm
rộ đi qua. Tiếng chân đàn trâu vừa hết thì tiếng nói một
người vừa đến:
- Ai
đây? Sao mắt bị đâm vậy?
Con
trâu bây giờ đáng dang ra và nhìn chủ nó như cầu khẩn.
Còn Hoàng tử Thiện Hữu nghe lời hỏi thì mừng gặp được
người, nhưng lòng càng đau đớn. Chàng nghĩ thôi đành nói
dối vậy.
- Tôi
là kẻ ăn mày. Tôi đang ngủ, không biết ai nó hại tôi thế
này.
Giọng
Thiện Hữu làm cho người ấy không nỡ hỏi lại, nhưng thấy
kính mến dị thường. Người ấy bèn nhổ cây đặt thuốc
– ông ta là người rành việc này – và đưa về nhà cung
phụng nuôi dưỡng một cách không suy nghĩ. Càng lâu người
chủ càng kính mến, nhưng Hoàng tử Thiện Hữu không yên tâm.
Chàng bèn xin người chủ cho chàng tự tìm cách nuôi sống.
Người chủ nói trong bụng câu đã tự nói với mình mấy
lần:
- Thật
là người hiền.
Và
trả lời:
- Không!
Người cứ ở đây với gia đình tôi. Ðói no với nhau. Tôi
không nỡ xa người.
- Xin
ông thương tôi. Tôi không dám làm phiền nhiều.
Nói
mấy cũng không được, người chủ hỏi:
- Thế
giờ người định nuôi sống bằng gì?
- Ông
cho tôi xin một cây đàn hay.
- Ðược!
Nhưng xin người phải để tôi được làm cái việc ngày ngày
đưa người ra chỗ đông, rồi tối đưa về nhà tôi ngủ.
Thiện
Hữu lắc đầu:
- Thế
lại phiền ông lắm! Cho tôi ngủ ở chợ hay dưới gốc cây.
Người
chủ năn nỉ:
- Người
có bằng lòng như thế, tôi mới để người đi kiếm ăn.
Thiện
Hữu thở dài:
- Cũng
được.
- Nhưng
biết đàn à?
- Sơ
sài vậy thôi! Người chủ ngạc nhiên. Và hôm sau đầu chợ,
Thiện Hữu đã ngồi đấy, lên những tiếng đàn thanh toát
ra những khúc nhạc lòng. Chàng đàn lên những tấm lòng của
chàng, những chí nguyện của chàng. Chàng say mê quên cả mục
đích kiếm ăn của mình, nhưng quần chúng cảm mến chàng.
Chàng nuôi sống được cả nhà chủ chăn trâu.
Một
hôm, tiếng đàn của Thiện Hữu làm chấn động lòng một
người đẹp. Người ấy khi tiếng lòng của mình do ai gảy
lên đã im rồi, mới tỉnh hỏi:
- Ông
là ai?
- Người
là ai?
- Tôi
sẽ nói. Nhưng ông là ai xin cho biết đã?
- Người
tự trả lời cho mình cũng đủ: tôi một kẻ ăn mày đang
xin thiên hạ bố thí bằng tiếng đàn, người không thấy
sao!
Và
Thiện Hữu thở dài:
- Kể
ra tôi cũng quá đáng đối với cây đàn đây! Nhưng ngoài
việc kiếm ăn, nhờ nó, tôi đã thở ra được những gì của
lòng tài!
- Người
là ai vậy?
- Tôi
là một công chúa.
Người
đẹp nói nhanh và dò xét thần sắc của Thiện Hữu.
Nhưng
chàng vẫn bình thản:
- Của?
- Của
vua Sư Bạc.
Thiện
Hữu bất giờ mới biết mình lâu nay sống trên đất của
một chư hầu, và đang ngồi trước vị hôn thê chưa thấy
mặt của mình. Nhưng chàng chỉ lặng thinh. Người đẹp đưa
cho chàng một lượng vàng rồi từ biệt.
- Mai
em sẽ đến mải với ông.
Thiện
Hữu không để ý câu nói ấy.
Chàng
bình thản về nhà ngụ.
Công
chúa vua Sư Bạc thì lòng đã nhất định nàng không thể xa
tiếng đàn ấy. Nàng tính rụt rè, nhưng hôm nay nàng mạnh
dạn. Sau bữa cơm tối, nàng trịnh trọng thưa với phụ vương
và mẫu hậu rõ ý định của mình. Nghe xong, Hoàng đế Sư
Bạc giận lắm:
- Mày
điên đấy à? Mày quên mày là vị hôn thê của Thái tử Thiện
Hữu?
- Con
xin cha mẹ thương con.
Hoàng
đế Sư Bạc không thèm nghe nữa.
Nhưng
sáng hôm sau, nàng thu xếp đồ dùng của mình và ra đi. Nàng
đến vào lúc tiếng đàn lòng nàng đang lên với ánh sáng
thanh bình của vũ trụ. Nàng say sưa nghe, thu hút vào lòng tất
cả âm ba tiếng đàn đã tỏa ra không gian. Bản đàn dừng,
nàng bảo chàng:
- Anh
cho em nói chuyện đã.
- Ai
đấy?
- Em
đây, Công chúa vua Sư Bạc đây.
- Công
chúa muốn nói gì?
Nàng
chân thành và tha thiết quên hết cả dè dặt. Nàng bất chấp
người chung quanh:
- Em
nguyện theo anh.
- Công
chúa theo tôi? Theo thế nào được! Và, Công chúa theo chi một
người ăn mày?
- Em
quyết định rồi, vua cha em không cấm em được nữa là!
Ðồng
thời hai người nói chuyện thì trong kia hoàng cung, Hoàng đế
Sư Bạc tức giận lắm. Ông muốn hạ lệnh bắt chém ngay
người ăn mày có tiếng đàn cảm động lòng con ông. Nhưng
ông nghĩ:
- Ta
vi hành xem nó thế nào mà con ta cảm được. Làm to chuyện
chỉ bây tiếng.
Lẫn
lộn vào đám người nghe đàn, ông nhìn rõ, bỗng giựt mình:
- Sao
giống Hoàng tử Thiện Hữu?
Quái
lạ! Không lẽ. Nhưng khuôn mặt kia?…
Ông
nghĩ ngay một kế. Về gọi một vị sứ giả trung thành ông
bảo:
- Nhà
ngươi vì ta qua vấn an Hoàng đế La Xà, và hỏi thăm Hoàng
tử Thiện Hữu.
Ngay
ngày hôm ấy, sứ giả lên đường. Sư Bạc nằm chờ.
Trời
đã về chiều, Hoàng hậu bảo:
- Hoàng
đế cho người ra bắt con về chứ sao để vậy?
- Bắt
về làm gì? Xem như nó không còn nữa!
- Nhưng
tai tiếng?
- Thì
làm sao được? Bắt nó về thì hết tai tiếng à?
Vợ
chồng Hoàng đế Sư Bạc cho rằng đó là việc xấu. Phong
tục và quần chúng bảo đó là tiếng xấu, nhưng một điều
lạ là những người nào nghe được tiếng đàn và thấy được
hình dung Thiện Hữu - họ chỉ biết cái thật ấy, họ làm
gì biết cái danh Hoàng tử của chàng - họ đều cảm mến
đức hiền của chàng. Ở chàng đã tỏa ra một cái gì bao
bọc mọi người. Họ biết và có kẻ hôm nay thấy tận mắt
Công chúa vua họ theo Thiện Hữu.
Nhưng
họ cho là chuyện phúc. Họ trái tất cả tập quán và không
suy nghĩ, không phân tích, không lý do. Thì ra đức hiền của
người có khi đảo lộn cả tập tục, đúng hơn cả một
quan niệm xã hội.
Chính
họ khuyên Thái tử, khi chàng từ chối Công chúa.
- Người
bằng lòng đi. Người đỡ lận đận cho chúng tôi mừng. Cho
tiếng đàn người còn mãi mãi với chúng tôi.
- Nhưng
phiền cho Công chúa và cho tôi lắm. Tôi biết… Uy quyền của
một ông vua, khi ông bất bình. Tôi, kẻ ăn mày thì sợ gì
ai, nhưng thân công chúa! Nói gì công chúa cũng không nghe. Nàng
về với chàng trong sự hoan hỷ của những người mục kích
đang thân mến nhìn theo.
Thiện
Hữu tuy được vợ hiền, nhưng chàng không thay đổi. Tiếng
đàn chàng đêm khuya vẫn trỗi dậy. Tiếng đàn bi thảm biểu
diễn nỗi khổ vô biên của kiếp người, tiếng đàn cao hùng
bộc lộ chí cao, cái hạnh cả muốn giúp người, cứu khổ
cho người, tiếng đàn dũng mãnh toát hết cái chí hiên ngang
của đấng đại trượng phu. Có khi tiếng đàn như tung không
gian mà lên, có lúc như dấn mình xuống lao khổ… Có đêm
điệu đàn bỗng lạc điệu: một điệu buồn thảm của kẻ
nhớ cha, nhớ mẹ. Ðiệu đàn nghe chết cả lòng.
Công
chúa sống cạnh chàng, lòng lên xuống đúng tiếng đàn của
chàng. Nàng lấy làm lạ: Người ấy, tiếng đàn ấy, Công
chúa nghĩ:
- Khả
nghi lắm!
Nàng
khóc:
- Anh
giấu em!
- Quái
lạ, anh giấu gì?
- Anh
không phải là kẻ ăn mày!
- Thế
là gì đây?
- Em
khổ lắm! Anh giấu tông tích của anh! Anh, Anh nói rõ cho em.
Tiếng lòng ta không đứt sao ta giấu nhau?
- Em
nghĩ rằng một kẻ ăn mày, không thể đàn những tiếng đàn
tuyệt đích?
- Nhưng
em nghe ra: Tiếng đàn anh, lòng anh, nhất định không như tông
tích anh nói! Anh nói cho em rõ đi.
Thiện
Hữu buồn rầu:
- Anh
giấu em làm gì? Nhưng nói em cũng chẳng tin được! Ðời tin
người mù mắt là kẻ ăn mày là dễ, Chứ tin thế nào được
người mù là hoàng tử con vua!
- Thế
anh là một Hoàng tử?
- Em
không tin? Phải. Nhưng nói thật em biết anh, Hoàng tử Thiện
Hữu đây!
Công
chúa giật mình:
- Anh
không biết em là vị hôn thê của Hoàng tử Thiện Hữu đấy
chứ?
- Anh
không muốn em tin rằng anh là một Hoàng tử, chứ đừng nói
là Hoàng tử Thiện Hữu anh không phủ nhận, nhưng chí anh
không phải là một ông Hoàng, hay một Hoàng đế.
- Em
cũng muốn như vậy. Em muốn rằng anh là một người nào như
tiếng đàn cao vút của anh kia!
- Nhưng
anh nhớ phụ hoàng và mẫu hậu lắm. Lòng anh thương người
đến lắm lúc anh nghĩ sống làm chi khi mọi người đau khổ,
nữa là với cha mẹ!
- Thế
anh quả là Hoàng tử Thiện Hữu?
- Nếu
anh không dối, thì nguyện bảy hôm nữa anh được tin cha mẹ
anh…
Hoàng
tử Ác Hữu khi đâm mắt anh xong, chàng về ra mắt cha mẹ,
đưa viên ngọc Như Ý ra:
- Tâu
phụ hoàng và mẫu hậu! Anh con mất rồi!…
Vợ
chồng Hoàng đế La Xà chỉ nghe có thể đã ngất đi. Hai vợ
chồng khóc mù mắt rồi, ánh sáng không còn nữa, mà tin con
ngày càng im bặt.
Hoàng
đế La Xà không dám tin rằng con chết, nên càng buồn, càng
khóc.
Con
nhạn của Hoàng tử Thiện Hữu nuôi, con nhạn khôn ngoan mà
hai vợ chồng Hoàng đế buộc tin và cho nó đi kiếm Hoàng
tử, cũng bay đi đâu biền biệt.
Vợ
chồng Hoàng đế La Xà sống trong sầu khổ cho tới hôm nay,
có tin sứ giả Sư Bạc đến…
- Công
chúa hạ thần kính dâng lên đại Hoàng đế lời vấn an cầu
chúc.
- Có
thế thôi?
- Và
vấn an Hoàng tử Thiện Hữu.
Hoàng
đế La Xà lại ngất đi. Sứ giả biết có điều lạ. Tìm
dịp kín đáo, sứ giả gặp La Xà hỏi rõ những điều Sư
Bạc dặn. Ông kết luận thầm kín:
- Nếu
vậy thì chắc chắn người ấy là Hoàng tử Thiện Hữu rồi.
Và có thể Ác Hữu đã hại anh mà lấy ngọc đem về.
- Ta
cũng nghi như vậy?
Và
La Xà hạ ngục ngay Hoàng tử Ác Hữu và cất kỹ viên ngọc
Như Ý. Hôm sau cho người hoàng gia lên đường với sứ giả
Sư Bạc.
Hoàng
tử Ác Hữu khi bị bắt hạ ngục, chàng chỉ cười thầm:
- Việc
thành rồi vậy!
Và
mấy hôm nữa, dân chúng hoan hỷ tưng bừng đón rước Thiện
Hữu như đón rước một ân nhân, hơn nữa, một người bạn.
Hoàng
tử Thiện Hữu về với vợ giữa sự hoan lạc của dân chúng,
sau ngày được tin cha mẹ, đúng vào ngày thứ bảy chàng nguyện
với vợ. Dân chúng cảm động ứa nước mắt, thấy Hoàng
tử đui mù vì mình. Thương tâm hơn nữa, khi họ thấy Hoàng
tử vịn vay vợ đến ôm lấy cha mẹ, ba người mù khóc với
nhau trong một lòng thương.
Và
quay lại dân chúng theo vợ chỉ dẫn, chàng cầm nước mắt
nói:
- Tôi
không ngờ gặp lại được cha mẹ và bà con. Chí nguyện tôi
đã đạt. Bà con sẽ no đủ. Chỉ tiếc rằng tôi không được
cùng bà con sống trong ánh sáng. Nhưng tôi hoan hỷ. Lòng thương
không cần ánh sáng mới gặp nhau. Bà con tạm về. Trong đời
sống an lạc ngày mai, mong bà con gắng thương nhau và làm điều
thiện.
Lời
nói Hoàng tử, đúng hơn là lòng thương của Hoàng tử, lúc
ấy đối với dân chúng, quả là đã cho họ mỗi người một
viên ngọc Như Ý vậy.
Ðức
Thế Tôn tự kể tiền thân của mình rồi bảo đại chúng:
- Các
con! Ác Hữu là ai các con có biết không? Là Ðề Bà Ðạt
Ða vậy. Nhưng các con đừng tưởng Ðề Bà Ðạt Ða là người
ác. Ðời đời kiếp kiếp, ta nhờ thiện tri thức Ðề Bà,
mà ngày nay thành Phật Ðà. Ðề Bà dùng nhiều phương tiện
vi diệu, khiêu khích và tác thành cho ta phát bồ đề tâm,
tu bồ tát hạnh và thành vô thượng giác. Này A Nan! Con hãy
thay ta xuống địa ngục thăm Ðề Bà.
A Nan
Tôn giả vâng lời, khi gặp ngài Ðề Bà, Tôn giả cung kính
thưa:
- Ðức
Thế Tôn kính lời thăm Ngài.
- Ðức
Thế Tôn giáo hóa có dễ dàng không? Chúng sanh giác ngộ có
nhiều không?
- Nhiều
và rất dễ dàng.
- Thế
là ta mãn nguyện.
- Ngài
ở địa ngục có khổ lắm không?
- Người
nhập Tam thiền có vui không?
- Vui
nhất thế gian, một thứ vui thanh tịnh từ trong đến ngoài.
- Ta
ở địa ngục như ở Tam thiền.
Phật
dạy:
- Bồ
tát đại sĩ dẫn tiến chúng sanh bằng đại phương tiện
chịu đủ khổ sở lớn mà không thấy gì là khổ vui.
Và
kết luận:
- Các
con! Nhờ Thiện tri thức mà ta biết ân báo ân cha mẹ và chúng
sanh, nhờ thiện tri thức mà ta độ chúng sanh thành Phật Ðà.
Vậy các con phải biết ân báo ân của các vị thiện tri thức.
Trích
báo: Viên Âm
Chỉ
có lòng thương chân chính.
Và
rộng rãi mới cảm hóa được quần chúng.
Kẻ
Bỏn Xẻn Bị Phạt
Ngày
xưa ở gần thành vua nước Xá Vệ, có ông Lô Chí, nhờ thừa
hưởng của phụ ấm và thêm hà tiện có tiếng “Rán sành
ra mở được trở nên triệu phú ít ai bì”.
Một
hôm trong thành có tổ chức cuộc lễ công cộng linh đình,
tiếng pháo vang rền, trống kèn inh ỏi đưa lọt vào tai, thêm
trước mắt hình ảnh nam thanh nữ tú dập dìu ngựa xe đông
đúc kéo nhau rộn rịp vào thành dự hội, làm cho Lô Chí thấy
trong người cũng hân hoan. Ông vội vàng vào nhà mở tủ lấy
ít đồng tiền lẻ, định ăn xài một bữa cho ngỏa nguê.
Xuống nhà bếp hốt một nắm muối, lấy một cái chai, gói
cột lại một đùm, Lô Chí mang đi xem lễ, không ngượng ngùng
gì cả.
Vào
thành, sau một hồi bách bộ ngóng xem cảnh đẹp phố phường,
trưởng giả nhà ta mỏi mệt bụng bắt đói, miệng thèm ăn.
Ông ghé vào quán mua thêm ít cái bánh và rượu, rồi đi ngay
ra ngoại ô tìm chỗ vắng người định dùng bữa. Ðến một
gốc cây to, ông vừa ngồi xuống mở nút trút ve, thì bỗng
nghe tiếng kêu “quạ quạ!” trên không. Sợ lũ chim ô tinh
ranh xớt bánh, ông lật đật đứng dậy chạy một hơi tuốt
ra đồng không mông quạnh, một mình ăn uống. Rượu vài tuần,
ông trưởng giả hứng chí đứng lên múa hát nghêu ngao, lúc
cao hứng ông lại lớn tiếng tự hào:
“Bực
vua Trời (Ðế Thích) hôm nay cũng không sướng bằng ta, huống
nữa là các vị Tứ Thiên Vương!”. Rủi cho ông lúc đó ông
Ðế Thích với các vị hiền thánh đi ngang qua đồng đến
tịnh xá Kỳ Hoàn nghe Phật thuyết pháp. Vừa nghe được lời
ngạo nghễ của Lô Chí, vua Trời nghĩ ra một kế phương tiện
để hóa độ người ngu si hết tật bỏn sẻn. Ngài liền
hiện thần thông biến ngay một ông Lô Chí giả giống hệt
Lô Chí thiệt, chạy thẳng về nhà ông trưởng giả. Lô Chí
giả hối tất cả người nhà tựu họp lại nói chuyện. Ông
thưa với mẹ rằng: Bấy lâu nay con bị con ma bỏn sẻn ám
ảnh mất hết trí khôn. Nó không cho con chủ trương một việc
gì có đạo nghĩa cả. Bao nhiêu tiền kho nó cũng cấm con đem
cung phụng mẹ già, cấp dưỡng con cái, dâu rễ. May mắn thay!
Ngày hôm nay, nhân dịp tiết hội, con đi chơi trong thành, gặp
ông đạo sĩ cao tay ấn đuổi con ma tham lam ấy ra khỏi mình
con. Từ đây cả nhà chúng ta đều được hạnh phúc. Ông
lại dặn thêm rằng: “Con ma bỏn sẻn ấy giống con không
sai chút nào. Nếu nó có đến, thì nội nhà ai ai cũng phải
giúp con đánh đuổi nó ra khỏi cửa”.
Dăn
dò xong, ông vào kho tuôn tiền bạc ra cho người đi chợ thuê
nhạc, mua pháo và sắm đủ món ngon, vật lạ làm tiệc linh
đình, thiết đãi tất cả lục thân quyến thuộc, tôi trai
tớ gái trong nhà và lối xóm láng giềng không sót một ai
cả. Ông bảo đóng cửa rào lại không cho con ma bỏn xẻn
vào, để ông đem các đồ quí báu ra phân phát cho mọi người
xong, rồi sau sẽ cho nó vô. Ông dâng cho mẹ quần áo quí giá,
phát cho vợ, con, dâu, rễ vàng ngọc bạc tiền. Tay phải ông
dắt mẹ, tay trái ông dắt vợ đi viếng thăm kho tiền trong
lúc tiếng hát hoà với giọng đàn, giữa mùi thuốc pháo pha
lẫn hương trầm. Thật là cuộc vui hi hữu trong nhà ông trưởng
giả lần thứ nhất vậy.
Lô
Chí thiệt tỉnh rượu trở về nhà. Thấy thiên hạ rất đông
đảo bao vây quanh nhà mình, trong nghe có tiếng đàn hát trống
kèn inh ỏi, ông lấy làm ngạc nhiên và sợ hãi. Ông cố sức
chen lấn người vào đến cửa rào kêu gào lạc giọng người
nhà, nhưng không ai lên tiếng. Lô Chí giả biết Lô Chí thiệt
đã về, dạy người ra mở cửa rào. Ông trưởng giả chạy
thẳng vào nhà. Khi ấy mọi người đều la lên rằng:
“Ma
bỏn xẻn đến kia rồi! Hãy đề phòng sẵn sàng đánh đuổi
nó”.
Lô
Chí trưởng giả thấy một người giống in mình ăn mặc sang
trọng, có vẻ trang nghiêm, ngồi ăn uống với mẹ, vợ, con,
gái, dâu, rể một cách tự nhiên. Ông lại gần hỏi: Ngươi
là ai? Sao được vào nhà ta hoành hành phung phí như thế?
Vua
Trời tươi cười hỏi lại: Ngươi là ai?
- Tôi
là Lô Chí, chủ nhà này chớ ai. Bà này là mẹ tôi, cô kia
là vợ tôi, đám nọ là con cái, dâu, rễ tôi.
Tất
cả người trong nhà đều phản đối. Bà mẹ nói “Con ma
bỏn xẻn, mày giống con tao thiệt, nhưng tao nhìn nhận đứa
con hiếu thảo, mà từ bỏ đứa con bội nghịch”. Bà lại
kêu nàng dâu nói: “Con ma bỏn xẻn xưng là chồng mầy, sao
không lại gần nó đi”.
Nàng
dâu đỏ mặt, nạt dội trưởng giả: “Ðồ quỷ nói xàm!
Hãy đi cho khỏi nhà này, thứ bỏn xẻn ai mà có yêu”.
Vua
Trời nói: Các ngươi đều công nhận tôi là Lô Chí, chủ
nhà này thì sao còn để ma bỏn xẻn ở đây làm gì? Tức
thời kẻ thộp gậy, người quơ roi đuổi xua trưởng giả
chạy dài một nước. Ra đường ông ta tay bức tóc, chân dậm
đất, miệng kêu trời, khóc kể rối rít như người mất
trí. Một ông lão thấy vậy thương tình, cho mượn tiền sắm
lễ vật đến vua cầu xin minh oan. Ðến bệ rồng, trưởng
giả Lô Chí vừa cúi đầu dâng hai tấm lụa lên bỗng bị
Ðế Thích dùng phép thần thông biến hai tấm lụa thành hai
bó cỏ khô. Lô Chí chết điếng sợ tội khi vua, mặt mày
tái mét, run rẩy lập cập nói ra không được lời nào.
Vua
lấy thế làm thương, hỏi các người theo Lô Chí biết việc
làm sao tâu giùm rành rẽ.
Bạn
của Lô Chí tâu rằng “Muôn tâu bệ hạ, hôm qua ông Lô Chí
vừa đi dự lễ trong thành, thì có một người giống hệt
như ông, tự xưng là Lô Chí, đi ngay vào nhà ông, tự do hoành
hành, tiêu xài hết của cải. Ông Lô Chí về, người nhà
gọi rằng ma bỏn xẻn không nhìn, đánh đuổi. Ông Lô Chí
uất ức quá nên đến xin Thánh hoàng minh xét”.
Vua
nghe tâu rồi cho người bắt kẻ giống như Lô Chí đến hầu.
Lô
Chí giả, chính là Ðế Thích, đến trước bệ rồng. Vua xem
tiên cáo, hai người in như khuôn đúc, không biết thế nào
mà phân biệt giả thiệt. Vua suy nghĩ một chập rồi nói với
bị cáo rằng: Lô Chí xưa nay vốn rít róng không dám xài tiền.
Còn nhà ngươi tâm tánh rộng rãi, biết thi ân bố đức cho
mọi người. Trẫm xét tính tình khác nhau như thế thì đủ
biết thật giả lắm rồi, nhà ngươi cứ việc khai ngay.
Ðế
Thích đáp: “Bệ hạ phán lời ấy có lý, song gần đây tôi
mới hấp thọ giáo pháp của Ðức Phật Thích Ca, bỏ tà theo
chánh, nên tôi phát tâm bố thí, dứt sạch thói bỏn xẻn
đê hèn ngày xưa”.
Vua
hỏi quần thần có ý kiến gì hay giúp ngài minh oan.
Ông
Túc Cầu tâu “Xin bệ hạ hỏi các việc bí mật ở trong
nhà và trong thân thể thì biết được sự chơn giả”. Vua
đưa cho hai người vào phòng riêng bắt làm khai của cải và
những việc cẩn mật. Thì hai tờ sớ khai trình sản nghiệp
và sự bí mật đều giống nhau cả. Vua lấy làm lạ. Ngài
hạ lệnh đòi mẹ Lô Chí vào hầu.
Vua
hỏi: “Trong hai người này: ai là thiệt con bà?
Ðế
Thích nói nhỏ trong tai bà ấy: “Xin mẹ chớ để con bị
con ma bỏn xẻn ám ảnh nữa”.
Bà
cụ chỉ Ðế Thích: “Người này có lòng hiếu thảo với
tôi. Còn người kia bạc bẽo lắm, quyết không phải là con
tôi. Tôi căn cứ vào tánh nết tốt xấu mà thừa nhận, chứ
hình vóc, tiếng tăm không phân biệt được.
Vua
lại hỏi: Con bà có dấu vết gì? Ở trong chỗ ẩn mật hay
không?
Bà
cụ tâu: Ở dưới nách bên tả con tôi có một nút ruồi đen
bằng hột đậu nành.
Ðế
Thích nghe lập tức biến nốt ruồi ngay ở nách để đợi
khám nghiệm.
Vua
truyền hai người cởi áo, đưa tay trái lên coi, thì thấy
người nào cũng có nốt ruồi đen như nhau. Vua và quần thần
hết sức ngạc nhiên đồng cười rộ. Vua thú nhận rằng
Ngài không phương giải quyết. Ngài nhất định thân hành
đem nội vụ đến tịnh xá Kỳ Hoàn cầu Phật phân đoán.
Ðến
trước Phật đài, vua lễ Ðức Như Lai và bạch rằng: “Lạy
Ðức Thế Tôn, chúng con đem hết tài năng suy cứu cũng không
làm sao phân biệt được hai người này ai là Lô Chí thiệt
ai là Lô Chí giả. Mong cần Ðức Như Lai dùng Phật nhãn phân
giải giùm kẻo tội nghiệp ông Lô Chí trưởng giả”.
Bạch
rồi, vua phán dẫn hai ông Lô Chí đến trước Phật đài.
Ðại chúng ngồi yên lặng đợi nghe Ðức Thế Tôn minh đoán.
Bị
cáo Lô Chí giả, thân thể khác thường mặt mày vui vẻ, ngồi
yên lặng chỉnh tề. Tiên cáo, Lô Chí thiệt thân hình tiều
tụy, quần áo rách rưới, bẩn thỉu, mặt mày lem luốc, ra
dáng đau khổ. Ông khóc mướt, bạch rằng: Lạy Ðức Thế
Tôn, xin đấng cha lành làm cho con khỏi sự oan ức.
Bị
cáo, ông Ðế Thích thấy Lô Chí khổ não quá thì mỉm cười.
Ðức
Như Lai cất cánh tay vàng thần quang rực rỡ chói lòa, phá
tan mọi vật mờ ám tối tăm, không còn vật nào ẩn hình
vào đâu được nữa. Ðức Phật hỏi Ðế Thích rằng “Ngươi
làm gì thế?”.
Lô
Chí giả lập tức biến mất, hiện nguyên hình là Ðế Thích,
khắp mình hào quang chói rạng, tướng mạo trang nghiêm, chắp
tay hướng trước Phật đài đọc bài kệ rằng:
Cái
người bỏn sẻn ngu si
Không
hay bố thí giúp gì cho ai,
Năm
đồng bánh rượu một chai
Ðem
ra nơi vắng ngồi nhai một mình
Say
rồi múa hát linh đình
Lớn
lời tự thị dám khinh cả trời
Muốn
cho tánh nó đổi đời
Quyền
phi phương tiện nên tôi trá hình.
Phật
bảo Ðế Thích: “Tất cả chúng sanh đều có tội, nên hoan
hỷ cho nó”.
Trưởng
giả Lô Chí than với Ðế Thích rằng: “Tôi chịu khổ sở
nhiều năm mới trích trữ được tiền của cho đầy kho. Nay
bị Ngài huy hoặc phá tan hết trơn, tội nghiệp tôi quá!”.
Ðế
Thích đáp rằng: “Ta không hề tiêu phá của ngươi đồng
nào”.
Trưởng
giả Lô Chí còn hoài nghi.
Phật
dạy rằng: Ngươi hãy an lòng tin chắc, cứ về kiểm điểm
lại đi, không mất một tý gì đâu cả. Lô Chí tin lời Ðức
Phật, bao nhiêu phiền não đều tiêu tan. Ông kính cẩn lễ
Phật rồi vội vã trở về nhà.
Thuật
giả: Thích Trường Lạc
Vàng
Hay Rắn
Khi
Ðức Phật còn tại thế, một hôm Ngài cùng hai vị đại
đệ tử A Nan và A Nan Ðà từ non Thứu Lãnh đi xuống kinh
thành khất thực. Ði giữa đường, ngang qua một bờ lở,
Ngài thấy một ghé vàng.
Ðức
Phật dừng lại bảo A Nan Ðà rằng:
“Này
A Nan Ðà! Người có thấy đây là một loài rắn độc không?”.
Ngài A Nan Ðà cung kính bạch rằng: “Bạch Thế Tôn thật
là một loài rắn độc đáng sợ hãi”. Có chàng tiều phu
đứng gần nghe vậy, tưởng có gì độc thật vội vàng đến
xem.
Anh
đến, thấy một ghè niêm phong cẩn thận, mở ra xem. Anh mừng
quá. Vàng toàn là vàng. Vàng ngọc quý cả. Anh cười thầm
Phật và đệ tử Ngài không biết dùng thứ ấy, còn cho nó
là rắn độc. Anh ta cẩn thận, hớn hở mang về. Trước khi
đem về, anh ta sung sướng la lên rằng:
“Tôi
xin nguyện con rắn độc này luôn luôn cắn tôi và cắn cha
mẹ, vợ con, quyến thuộc tôi. Tôi không cảm thấy đau đớn
gì hết”.
Anh
chàng tiều phu kia trở nên một người trưởng giả giàu có
kiêu sa: nào là nhà cửa, ruộng vườn, tôi tớ, bò trâu, xe
cộ, cực kỳ sung túc và lộng lẫy. Làng xóm thấy vậy đâm
ra nghi kỵ, không biết anh vì sao giàu sang đột ngột như vậy?
Tiếng
đồn vang đến tai vua A Xà Thế. Vua cho sứ giả đến hỏi:
“Có phải được của kín nhà vua chăng?”. Anh ta ấp úng
trả lời: “Tôi giàu là tôi giàu; tôi cũng không được chi
của nhà vua cả”.
Sứ
giả về tâu lại.
Vua
cho gọi đến hỏi. Anh cũng ấp úng trả lời như củ. Cho
là người gian, vua ra lệnh tịch thâu gia tài điền sản và
bắt anh ta và tất cả bà con quyến thuộc đem đi hành hình.
Khi
đi giữa đường anh ta khóc lóc, buồn bã và la lớn rằng:
“Ngài A Nan Ðà ơi! Thật là một thứ rắn độc! Rắn độc
nó đang cắn tôi và cắn bà con của tôi đây”.
Theo
luật vua A Xà Thế, ông vua thật hành Phật Pháp, mỗi khi muốn
xử tử một người nào, giữa đường nếu có gì lạ phải
trở về tâu lại ngay. Bọn lính nghe chàng ta gọi mãi Ngài
A Nan Ðà, bèn trở về tâu lại vua hay.
Vua
đoán chắc có chuyện lạ, nên ra lệnh đem anh về. Vua hỏi
lại lần này anh ta mới chịu thưa thiệt nguyên do được
ghè vàng, nghe xong, vua cảm động ân hóa dụ của Ðức Phật
và bảo chàng tiều phu rằng: “Tội ngươi đáng chết, nhưng
may duyên gặp Ðức Thế Tôn. Ta cũng là người Phật tử,
ta phóng thích cho người và bà con người. Người được phép
đem gia tài và châu báu về. Người phải đổi tự tâm tu
theo thiện nghiệp và hết lòng cung kính cúng dường Tam Bảo.”
Chàng
tiều phu được phóng thích, sung sướng vô cùng. Cảm mến
ân Phật được sống, chàng về chỉ lo tu phước đức và
hết lòng cúng dường Tam Bảo.
Không
bao lâu, nhờ công đức và lòng thành kính ta hành, anh ta được
chứng quả giải thoát.
Ta
phải làm chủ tiền bạc,
Ðừng
để tiền bạc làm chủ ta.