Phần
9
41/
Nhận lầm con
42/
Máu sanh linh không rửa sạch tội lỗi của con người
43/
Công đức trì giới
44/
Trọng Pháp
45/
Lòng hiếu thảo của con chim Oanh Vũ
Nhận
Lầm Con
Có
một chàng ngu kia sinh được đứa con trai, chăm chút thương
yêu như ngọc như ngà. Một buổi sáng anh chàng đi ra chợ
sớm, ở nhà lửa bốc cháy nhà và người ta bồng đứa con
anh chạy mất, lúc trở về thấy nhà cháy, anh không tiếc,
anh chỉ cuống cuống lên khi không thấy con. Một người láng
giềng ức đoán chỉ vào thây của một kẻ bất hạnh đã
cháy thành than và bảo: “Con anh chết cháy đây rồi”. Thế
là anh chàng tin ngay là thật, khóc than kể lể khôn xiết,
rồi may một cái túi vải vuông bỏ nắm tro tàn vào đó mang
luôn bên mình không lúc nào rời. Rồi cứ đinh ninh rằng con
mình đã chết cháy, và nắm tro bên mình là xác con, không
biết con mình hiện giờ đang còn sống.
Một
buổi kia được thả, đứa con về gõ cửa kêu cha. Anh chàng
buồn quá đóng cửa ngồi trong nhà, nghe gõ cửa hỏi vọng
ra:
- Ai
gọi đó?
- Con
đây.
- Con,
tôi đâu dám! Con tôi chết đã ba tháng rồi.
- Không,
con còn sống đây mà, mở cửa cho con vào!
- Láo,
cút đi! Con tao đã chết, mày là ai, đến đây nhận hảo thế?
Cha con gì?
Ðứa
con nằn nì ngoài cửa mãi, người cha ngồi trong nhất định
không mở cửa. Cuối cùng nó đành khắc khoải ra đi. Thương
hại cho anh chàng! Cha con không nhận, lại nhận bị xương
khô!
- Người
ngu tự biết mình ngu, nên biết người ấy có trí;
- Người
có trí tự cho là có trí, nên biết người ấy ngu nhất trên
đời.
- Người
ngu cố chấp sự hiểu biết của mình là đúng, nên không
bao giờ chịu thừa nhận những điều hiểu biết của kẻ
khác. Vì thế, không bao giờ họ đạt đến được chân
lý.
Máu
Sanh Linh Không Rửa Sạch Tội Lỗi Của Người
Kinh
thành Ba La Nại đang sống trong những ngày bối rối.
Khắp
nơi, khắp nơi, những lễ đàn được dựng lên cao vọi. Tiếng
nguyện cầu như muốn vượt mấy từng trời. Nhưng thuốc
thang cũng đã nhiều, cầu đảo cũng đã lắm mà có ăn thua
gì đâu?
Hôm
nay cũng như mọi hôm, hoàng cung vẫn rộn ràng lo lắng. Mạng
sống của Hoàng thái hậu như treo đầu sợi tóc. Thần chết
chắc đang cầm lưỡi hái đợi chờ đâu đây. Bọn cung nga
thế nữ vẫn túc trực đó, vẻ mỏi mệt hiện rõ trên nét
mặt. Không biết họ thức trọn mấy đêm rồi?
Quốc
vương Hòa Mặc thì như trong giấc mộng. Cứ nhìn gương mặt
mẹ mình ngày một teo gầy lại, nhà vua thấy lòng tơi bời
từng đoạn, cuộc sống không còn ý nghĩa gì nữa. Cung nga
thế nữ mà làm chi? Lầu son gác tía mà làm chi? Nhà vua thấy
có thể bỏ tất cả, hy sinh tất cả, miễn là mẹ mình được
sống.
Tất
cả những danh y trong nước đều đã được vời. Nhưng người
nào cũng lắc đầu ái ngại. Vô kế khả thi. Hơi thở của
mẫu hậu càng lúc càng khò khè, ngột ngạt. Ôi còn chi đau
đớn hơn cảnh một người con hiếu đang thấy mẹ mình chết
dần mà không làm sao cứu được!
Cuối
cùng nhà vua cho triệu tất cả những vị Phạm Chí xa gần
về để hỏi nguyên nhân và phương pháp chữa bệnh cho mẹ
mình. Họ đã về đầy đủ rồi đó, nhưng nào ai có ý kiến
gì đích xác đâu? Người thì bảo Thần sông, kẻ thì bảo
Thần núi. Họ đổ lỗi cho trăng sao trời đất… Thế rồi,
đến khi nhà vua thiết tha xin phương pháp điều trị thì yên
lặng. Im lặng nặng nề ngự trị… Ai dại gì mà bày tỏ
cái bất lực của mình?
Bỗng
một Phạm chí, có lẽ lớn tuổi nhất, đứng dậy bấm tay
chiêm quẻ rồi trân trọng trả lời:
- Tâu
đại vương, nguyên nhân bệnh trọng của Hoàng thái hậu cũng
chẳng có gì khó hiểu. Âm dương không hòa hiệp, thiên địa
quỷ thần trách móc, Hoàng thái hậu lại mắt phải hung tinh,
trách gì không yểu mệnh? Muốn khỏi, nhất định phải tìm
đủ một trăm súc vật khác giống để tế đất trời. Ðại
vương và Hoàng thái hậu cũng phải đến tại lễ đàn cần
đảo thì mới mong bảo toàn mạng sống và được bình an.
Quốc
vương như người sắp chết khát bỗng gặp nước lành . Tình
thương mẹ cộng thêm lòng mê tín dị đoan khiến nhà vua không
suy nghĩ gì thêm trước khi thi hành ý kiến của Phạm chí.
Một trăm sinh mạng đã được đổi lấy một mạng trong hy
vọng.
Bầy
súc vật được xua ra lễ đàn một cách tàn nhẫn. Có ai nghe
tiếng kêu than của những kẻ vô tội sắp phải bị hành
hình? Có những con cừu non biết mình sắp chết, cố dừng
lại không chịu bước. Có những con bò cứ ngoái đầu trở
lại, nước mắt chảy ròng ròng. Những bọn lính thì có kể
gì cả. Chúng lấy roi dài quất vùn vụt vào thân đàn thú,
lấy đá ném vào những con nào đi chậm nhất. Ðã có những
vết máu hồng hoen trên đường cỏ.
Xa
giá cũng theo sát bầy thú vật. Hoàng thái hậu thì mê man
trong chiếc xe lắc lư trên đường đá sỏi. Quốc vương Hoà
Mặc thì luôn luôn nhìn ra ngoài, xem thử đã đến lễ đàn
chưa? Lúc xe vừa ra khỏi cửa thành thì bỗng nhà vua giật
mình nhỏm dậy. Có cái gì uy nghiêm trên nét mặt của đại
sĩ đang đứng chận giữa đường. Ðôi mắt sáng ngời làm
cho ta mến phục, y vàng giản dị nhưng lại có tính cách siêu
phàm.
Quốc
vương bước xuống xe. Ngài ngạc nhiên thấy đoàn hầu cận
của mình không biết đã quỳ rạp xuống từ lúc nào. Có
những lời chúc tụng vang vang, không phải cho một vị quốc
vương, nhưng mà cho một đấng vô cùng cao trọng. Ngài bỗng
thấy sợ sệt. Không, Ðạo sĩ có gì hung dữ đâu. Ðó là
cái run sợ của một đứa con thơ trước mặt mẹ hiền. Rồi
riú ríu chân, Vua cũng quì xuống. Muôn miệng một lời tung
hô vang dậy: Kính chào Ðức Thế Tôn!
Vâng
chính là Ðức Thế Tôn, Ðức Phật Thích Ca. Cảm thông nỗi
đau thương của một trăm sanh linh vô tội sắp phải bị hành
hình, Phật đã từ Tịnh xá Kỳ Hoàn nước Xá Vệ, trèo đèo
vượt núi về đây gieo mầm chân lý. Phật đỡ Quốc vương
dậy và hỏi lý do việc cầu đảo. Quốc vương rơm rớm nước
mắt trả lời:
- Bạch
Thế Tôn, mẹ con lâm trọng bệnh đã lâu, không thang thuốc
gì cứu khỏi. Nay theo lời Phạm chí con định dùng tinh huyết
của một trăm con súc vật khác giống mà tạ lễ với trời
đất. Kính lạy đấng Ðiều Ngự xin Ngài hãy chỉ đường
vạch lối cho con.
Một
con cừu nhỏ lê chiếc chân vấy máu đến ép mình vào chân
Ðức Phật, như để tìm một nguồn che chở thiêng liêng.
Phật cúi nhìn và để một bàn tay lên đầu con thú nhỏ.
Ôi cử chỉ mới dịu dàng và êm ái làm sao. Mắt cừu nhỏ
gặp mắt Phật long lanh rồi nhỏ lệ. Cả đàn thú cũng ngước
đôi mắt ướt hướng về Phật như muốn nói lên những điều
oan ức, bất công.
Ðức
Phật trả lời:
- Này
Quốc vương, không nên theo những lời mê hoặc. Không một
ai, dù là thiên thần quỷ vật, có thể ban phúc hay giáng họa
cho người. Ta quyết định đời ta theo đúng luật nhân quả.
Muốn được mùa nông dân phải cày sâu cuốc bẩm, muốn giàu
sang phải bố thí cho kẻ nghèo hèn, muốn sống lâu phải thực
hành Từ bi và không sát hại. Không ai có thể chối cải điều
đó.
- Nhưng
bạch Thế Tôn, thiên địa quỷ thần là những kẻ có quyền
phép, ta có thể nhờ họ giúp ta?
- Này
Quốc vương, người có thích mặc chiếc áo sơ sài của hành
khất không? Người có tham bữa ăn tồi tàn của lớp cùng
dân?… Chư thiên cũng thế Quốc vương ạ. Vốn là hạng người
phát tâm theo mười điều thiện, khi mạng chung, họ đã được
sanh lên một trong ba mươi sáu cõi trời. Ở đó có cung điện
huy hoàng, có cung nga thế nữ hần cận, y thực tự nhiên có…
nào họ có cần chi những thứ đồ tạ lễ của Quốc vương,
khi lấy huyết một trăm sanh mạng để mưu cầu hạnh
phúc cho một người? Quốc vương thật đã làm một việc
thiếu suy xét, mà chỉ tin theo lời đường mật của những
tà sư. Tội đó lớn lắm.
Từ
châu thân đấng Từ bi bỗng lóe lên muôn vàn ánh sáng, chiếu
rực cả muôn loài. Tất cả chúng sanh trong ba đường sáu
nẽo bỗng thấy hân hoan và thấm nhuần ánh đạo. Toàn thể
hai trăm vị Phạm chí thấy mình lầm đường lạc lối. Họ
vội vả cùng nhà vua xin Phật thâu làm đệ tử.
Hoàng
thái hậu cũng thấy một sinh lực mới dào dạt chảy vào
lòng. Bà đón nhận ánh sáng của chánh đạo, xả bớt lòng
tham lam, phát tâm bồ đề, cầu đạo giải thoát. Liền đó
bà thấy sức khỏe đã trở lại như xưa. Dưới chân cha lành,
bà không ngớt lời chúc tụng.
Phật
hiền từ nhìn đàn vật như an ủi, rồi theo lời mời của
vua trở về cung.
Ðêm
ấy, có một trăm sanh linh thoát khỏi hành hình oan uổng. Cũng
trong đêm ấy ở miền biên giới Ấn Ðộ xa xôi, dân gian
say sưa uống những lời thuyết pháp của Ðức Từ phụ. Lòng
người rửa sạch oán thù, lũ cướp ác hung bỗng ghê bàn
tay vấy máu của mình mà trở lại cuộc đời lương thiện.
Chánh pháp tung ra, thấm vào từng bộ óc. Không còn cảnh chém
giết ghê gớm, không còn người tin theo tà đạo.
Và
non nước vui hưởng thái bình trong hào quang Từ bi và Trí
tuệ.
Huyền
Thanh
Công
Ðức Trì Giới
Xưa
ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo,
phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của
Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống
rượu nấu rượu cũng không có.
Trong
huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương.
Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng
siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện
và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của
Phật”.
Người
con vui vẻ ra đi, khi qua tới xứ khác vừa gặp người bạn
đồng học cùng nhau chuyện trò tương đắc vui vẻ lắm. Bạn
mời về nhà, đem rượu Bồ đào ra đãi. Người ấy tự cười
nói rằng: “Nước tôi toàn giữ năm giới cấm của Phật,
không một ai dám uống rượu; vì nếu uống rượu thì đời
sau phải ngu si đần độn không thấy được Phật. Vả lại
khi ra đi, cha mẹ tôi khuyên không nên uống rượu. Bây giờ
tôi phạm giới cấm, thời trái mệnh lệnh của cha mẹ, tội
ấy chẳng gì lớn bằng. Chúng ta là bạn thâm giao lâu ngày,
được gặp nhau không gì mừng rỡ hơn nữa. Nhưng bạn chớ
làm tôi phạm giới cấm của Phật và trái lời dạy của
song thân tôi”.
Người
bạn tiếp lời: “Chúng ta là bạn đồng học một thầy,
coi như anh em ruột; cha mẹ tôi cũng như cha mẹ anh, với cha
mẹ, chúng ta có bổn phận kính thờ, không được trái mạng.
Tôi nếu ở bên nhà anh là phải tuân theo ý muốn của cha
mẹ anh, nhưng nay anh ở nhà tôi anh nên tùy thuận ý của cha
mẹ tôi mới phải”.
Trước
sự khẩn khoản của lòng bạn, anh ta phải uống rượu, uống
xong anh ta say luôn trong ba ngày, không biết gì, khi tỉnh anh
ta ăn năn lo sợ vô cùng.
Công
việc xong, người ấy trở về nhà trình lỗi của mình cho
cha mẹ rõ; cha mẹ tức giận mắng rằng: “Ngươi trái lời
ta, phạm giới cấm thật là loạn pháp, không phải đứa con
thảo”. Tự nghĩ làm gương trước cho mọi người trong xứ,
cha mẹ bèn thâu hết đồ đạc của đứa con, rồi đuổi
ra khỏi nhà. Người con bị đuổi bèn đi qua nước khác, xin
ở đậu trong một cái nhà. Chủ nhà ấy là người thờ phụng
quỷ thần, thứ quỉ thần rất khôn ngoan, hay hiện ra thân
người, ăn uống nói chuyện, chủ nhà ấy hết lòng tin tưởng
với quỷ thần. Vì phải thờ phụng lâu năm mệt nhọc, của
tiền hết sạch, trong nhà người đau chết xảy ra luôn, quỷ
thần không cứu gì cả. Quỷ thần hiểu ý chủ nhà, liền
bảo với nhau: “Nhà này của tiền hết sạch cũng chính vì
ta. Ðã lâu ta chưa làm gì được lợi ích cho chủ, nên chủ
chán nản là phải lắm. Bây giờ chúng ta phải kiếm đồ
trân bảo đem về biếu chủ, để chủ vui lòng”. Nói rồi,
cùng nhau đi lấy trộm vàng bạc trong kho nhà vua của nước
khác, đem về giấu ở sau vườn rồi bảo chủ rằng: “Ngươi
có công nhọc, nay ta muốn ban phước cho ngươi được giàu
có. Sau vườn nhà ngươi có một tráp vàng bạc, ta cho ngươi
đó”. Chủ nhà ra vườn tìm thấy tráp vàng, sung sướng lắm,
sáng sớm thiết tiệc rất long trọng mời thần tạ ân.
Thần
vừa đến cửa, thấy trong nhà có bóng người ở nước Xá
Vệ, liền tránh không đi vào. Chủ nhà chạy theo cố mời
trở lại. Thần trả lời: “Trong nhà ngươi có vị Tôn khách
ta đâu dám vào”. Nói xong rồi tỏ vẻ sợ hãi rồi bỏ chạy.
Chủ nhà nghĩ trong nhà chỉ có một mình người khách này
thôi, liền kính cẩn đến thưa rằng: “Xin mời ngài đến
dự tiệc với chúng tôi cho vui”. Ăn uống xong chủ nhà hỏi
vị Tôn khách rằng: “Ngài có công đức gì mà vị thần
của tôi thờ phụng sợ hãi ngài mà phải tránh đi?”.
Vị
Tôn khách trả lời: “Tôi chỉ có công đức thọ trì 5 giới
và mười điều thiện của Ðức Phật. Tôi vi phạm một giới
uống rượu, bị cha mẹ đuổi, qua trọ tại đây. Nhưng còn
giữ được bốn giới nên thiên thần ủng hộ, còn thần
của ngươi thờ phụng là thứ tà thần ác quỷ làm sao sánh
kịp”.
Chủ
nhà thưa rằng: “Tôi thờ các vị thần đã lâu rồi, không
có lợi ích gì nên tôi chán quá, mong ngài hoan hỷ dạy cho”.
Nói rồi bèn theo vị Tôn khách thọ trì Tam quy Ngũ giới và
pháp thập thiện. Thọ xong một lòng tinh tấn siêng năng phụng
trì không hề hủy phạm. Một hôm hỏi vị Tôn khách rằng:
“Ðức Phật hiện nay ở đâu? Có thể đến yết kiến Ngài
được không?” Tôn khách trả lời: “Ðức Phật hiện nay
ở nước Xá Vệ trong vườn Cấp Cô Ðộc, qua đó sẽ được
yết kiến Ngài”.
Nghe
vậy, người chủ nhà rất sung sướng, quyết qua Xá Vệ để
yết kiến Phật. Giữa đường trời tối ghé lại xin trọ
một nhà thiếu nữ xinh đẹp. Thiếu nữ ấy chính là vợ
của một con quỷ ăn thịt người. Thiếu nữ liền can rằng:
“Ông chớ ở lại đây nên đi gấp tốt hơn”. Người ấy
hỏi có gì nguy hiểm chăng? Thiếu nữ tỏ ý không bằng lòng
nói rằng: “Tôi đã nói với ông như vậy, ông còn hỏi làm
gì nữa”. Người kia tự nghĩ: “Người ở nước Xá Vệ
chỉ giữ 4 giới của Phật còn khiến cho quỹ thần sợ hãi
thay, huống chi ta đã thọ trì chắc chắn pháp Tam quy Ngũ giới
và Thập thiện của Phật”. Nghĩ vậy, nhất định ở lại
không chịu đi. Ðêm ấy con quỷ ăn thịt người về nhà thấy
có khách oai thần và công đức trì giới nên phải lẩn quẫn
ngoài hè, rồi đi trọ một đêm nơi nhà hàng xóm cách xa tới
bốn mươi dặm. Sớm mai người ấy lên đường để qua Xá
Vệ. Ra khỏi cửa ngỏ, thấy thây chết xương máu đầy đường,
do quỷ ăn thịt người đã ăn xả.
Cảnh
tượng ấy khiến người kia quá sợ hãi và hối hận rằng:
“Nước ta sẵn đủ áo mặc, cơm ăn, nhà ở, không thiếu
món chi ở trong nhà chẳng sướng hơn sao? Ta tưởng đến được
yết kiến Phật và coi sự kỳ diệu của Ngài, ngờ đâu lại
gặp hài cốt rùng rợn như vậy”. Nghĩ xong chàng sanh ác
ý, trở về khuyên người thiếu nữ kia theo mình trở về
nước, cùng nhau chung sống trăm năm. Khi về ngay nhà thiếu
nữ xin ở lại. Thiếu phụ hỏi: “Sao ông phải trở lui vậy?”.
Người kia đáp: “Hành kế không thành nên tôi phải trở
lui, mong thiếu nữ cho tôi ở tạm một đêm”. Thiếu nữ
nói: “Ông ở đây chắc chắn phải chết vì chồng tôi. Chồng
tôi là quỷ ăn thịt người và sắp về đến. Ông nên đi
gấp tốt hơn”. Người ấy không tin, năn nỉ xin ở lại
cho được và trước sắp đẹp của thiếu nữ, người ấy
khởi nhiều ý niệm không tốt đẹp, không còn tin pháp Tam
quy Ngũ giới và thập thiện của Phật. Vị thiện thần hộ
giới liền bỏ đi không ủng hộ cho người ấy nữa.
Quỷ
ăn thịt người được dịp thuận tiện trở về. Thiếu phụ
sợ chồng ăn thịt người kia tội nghiệp nên đem lòng thương
hại, giấu người kia trong một cái lu. Quỉ bắt hơi người
bảo vợ: “Mình có kiếm được thịt người phải không?
Bây giờ ta thèm lắm”. Vợ trả lời: “Tôi không đi đâu
cả làm chi có thịt, sao hôm qua không thấy anh về?”. Con
quỷ nói: “Hôm qua trong nhà có vị Tôn khách nên ta phải
đi tránh”. Người ở trong lu nghe vậy càng thêm sợ hãi,
đến nỗi không nhớ gì đến pháp Tam qui Ngũ giới của mình
thọ. Người vợ hỏi tiếp: “Vì lẽ gì anh không kiếm được
thịt?”. Quỷ trả lời: “Vì trong nhà có đệ tử của Phật
ở lại, nên thiên thần đuổi ta đi xa ngoài bốn mươi dặm,
phải ngủ trống giữa trời một đêm rất là sợ hãi, đến
bây giờ vẫn chưa hoàn hồn, cho nên không kiếm thịt được”.
Người vợ nghe vậy rất mừng thầm, mới hỏi chồng làm
thế nào được nghe và phụng trì giới cấm của Phật?”.
Quỷ trả lời: “Bây giờ ta đói lắm, lấy thịt cho ta ăn
đã, không nên hỏi việc ấy vội. Giới là pháp vô thượng
chân chánh của Ðức Như Lai, ta đâu dám nói đến”. Người
vợ cố năn nỉ: “Anh hãy vì tôi nói đi, tôi sẽ lấy thịt
anh ăn”. Giống quỷ tham ăn đã sẵn, thèm ăn lắm, lại thêm
vợ cố hỏi, buộc phải nói Tam quy Ngũ giới cho vợ nghe.
Pháp
Tam quy là:
1/
Quy y Phật
2/
Quy y Pháp
3/
Quy y Tăng
Ngũ
giới là:
1/
Không sát sinh
2/
Không trộm cắp
3/
Không tà dâm
4/
Không nói dối
5/
Không uống rượu.
Khi
quỷ vừa nói giới đầu, người vợ nghe liền định tâm
lĩnh thọ, lần lượt nói hết 5 giới, thì vợ quỷ rất sung
sướng nhất tâm chấp trì, và miệng đọc tụng không nghỉ.
Người dấu ở trong lu nghe lại được pháp Tam quy Ngũ giới
rất lấy làm hổ thẹn và vui mừng, tự tâm lãnh thọ trở
lại.
Thiên
Ðế Thích biết hai người này đã phát tâm quy y Phật, thọ
trì 5 giới, bèn lựa 50 vị thiên thần đến ủng hộ hai người
ấy. Quỷ ăn thịt người sợ hãi phải trốn đi nơi khác.
Ðến
sáng, vợ quỷ hỏi người dấu ở trong lu: “Những chuyện
vừa qua ông có sợ không?”. Người kia trả lời: “Sợ lắm,
nhưng được cái may là nhờ ơn ân giả, mà tôi ngày nay được
hiểu biết oai thần và công đức giới pháp của Phật!”.
Vợ
hỏi quỷ tiếp: “Hôm qua ông trở lui làm gì vậy?”.
- Vì
tôi thấy hài cốt đầy đường nên quá sợ hãi phải trở
lui.
Vợ
quỷ mới nói rằng: “Hài cốt đó chính tôi bỏ đấy”.
Tôi đây vốn con nhà lương thiện, không may bị quỷ bắt
đem về làm vợ, tôi buồn khổ vô cùng, nhưng chẳng biết
tỏ cùng ai. Nhờ ơn nhân giả tôi được thọ năm giới cấm
của Phật và được xa lánh con quỷ ác độc này thật là
hạnh phúc cho tôi. Bây giờ nhân giả còn đi đâu nữa?
- Tôi
cần qua nước Xá Vệ đế yết kiến Phật. Thiếu nữ nghe
lấy rất làm sung sướng khen rằng: “Hay lắm thay! Tôi sẽ
về nhà đem cha mẹ tôi theo nhân giả đi yết kiến Phật”.
Nói xong, cùng nhau lên đường. Ði được nữa đường thì
gặp một đoàn 498 người ở bên nước Xá Vệ đi về. Người
kia và thiếu nữ mới hỏi: “Các hiền giả đi đâu đông
thế?”.
- Chúng
tôi đi yết kiến Phật về đây.
- Chúng
tôi sắp qua nước Xá Vệ, chúng tôi nhờ thọ trì Tam quy Ngũ
giới và mười điều thiện của Phật nên mới thoát khỏi
nạn quỷ ăn thịt. Nay chúng tôi muốn qua yết kiến để tạ
ơn và nghe thuyết pháp. Các hiền giả được thấy Phật rồi
còn đi đâu làm gì nữa?
- “Phật
thuyết pháp suốt ngày, nhưng chúng tôi ngu độn chưa hiểu
được rõ. Nay trở về nước được gặp hai hiền giả và
được nghe hai hiền giả cho biết công đức của người trì
giới pháp của Phật. Chúng tôi xin theo hai hiền giả trở
lui một lần nữa để yết kiến Phật”.
Phật
ở xa trông thấy đoàn người kéo đến liền mĩm cười chói
tỏa hào quang năm sắc, tôn giả A Nan liền bước ra quì sát
đất, trong tâm nghĩ ngợi, chắc Phật sắp dạy điều gì
đây.
Phật
bảo A Nan: “Ngươi có hiểu không, ngươi có thấy 498 người
khi nãy trở về đây không?”.
A Nan
thưa: “Bạch Ðức Thế Tôn, con có thấy”.
Ðức
Phật thuật lại tất cả việc xảy ra và bảo: “498 người
đó ngày nay đã gặp được thầy và đã được thấy Phật,
rồi đây họ sẽ đắc đạo không lâu”.
Cả
500 người đến trước Phật đảnh lễ một cách rất thành
kính và nhất tâm thính Pháp, mọi người đều được tâm
ý thông suốt thành các bậc Sa môn và chứng được đạo
quả A La Hán.
Phật
dạy A Nan và chúng hội rằng: “Các người nên biết người
phạm giới kia với thiếu nữ vợ con quỷ ăn thịt người
là anh em trong nhiều đời vậy. Hai người này đời trước
chính là thầy của 498 người kia đó, chớ không phải ai xa
lạ”.
Người
đời phát tâm tu hành cầu đạo, thọ trì giới pháp, cần
gặp được thầy hiền bạn tốt sự tu hành mới mong kết
quả.
Phật
dạy đến đây, các vị Tỳ kheo, 500 người ấy; và tất cả
chúng hội đều sung sướng vui mừng, đảnh lễ Phật, và
nguyện nhất tâm giữ gìn tịnh giới.
Chân
Thuyên
Giới
luật là thọ mạng Phật pháp
Giới
luật còn Phật pháp còn.
Trọng
Pháp
Ðời
xưa, có một vị đại quốc vương tên là Tu Lâu Ðà, thống
trị rất nhiều chư hầu nhỏ. Oai đức của nhà vua rất to,
nhưng Ngài cũng chưa mãn ý. Một hôm Ngài nghĩ: “Ta có một
khuyết điểm lớn. Mặc dù ta dùng đức trị dân, đem tài
lực để giúp người, song đó chỉ là nuôi sống phần vật
chất không được vĩnh cửu. Cần phải có một nền đạo
giáo để trị muôn dân tu tỉnh. Ta phải tìm làm sao cho ra
“Pháp tài chân thật” để cho mọi người cùng nhờ đó
mà giải thoát được mọi sự khổ não ở đời. Ðược như
thế ta mới khỏi ân hận”.
Nhà
vua liền truyền rao khắp trong xứ: Ai có phép giải thoát đem
truyền trao cho nhà vua, sẽ được gia thưởng như ý muốn.
Qua một thời gian khá lâu, không thấy ai đáp lại lời kêu
gọi của nhà vua. Ngài đâm lo nghĩ, buồn rầu khổ sở, ăn
không ngon, ngủ không yên. Người ngoài cuộc, ai trông thấy
cũng phải cảm động và thương hại cho Ngài.
Lúc
ấy, có một vị Tỳ sa môn Thiên Vương, rõ được tâm trạng
của Tu Lâu Ðà, bèn hóa hiện làm thân một con quỷ Dạ xoa
hình sắc ai thấy cũng phải kinh tởm: hai con mắt lồi to và
đỏ như huyết, nanh vuốt nhọn bén, tóc tai bờm xờm, lửa
đầy miệng. Quỉ đến chỗ vua, hô to lên rằng: “Ai muốn
nghe pháp ta sẽ nói cho”.
Nhà
vua nghe thấy mừng lắm, vội đến nghênh tiếp, mời ngồi
tòa cao, làm lễ đúng pháp để cầu nghe quên cả sợ hãi.
- Xin
Ngài vui lòng bố thí cho chúng tôi một pháp tài để cứu
khổ cho nhơn sanh, ơn trọng vô cùng.
- Thân
người khó được, chánh pháp khó gặp, đâu phải qua những
nghi lễ tầm thường kém vẻ tôn trọng như vậy mà có thể
nghe được.
- Tôi
xin sẵn sàng làm theo ý Ngài muốn, chỉ cốt hầu được nghe
pháp, dù phải tan thân mất mạng cũng không sao.
- Quý
lắm, nhà vua hãy đem Hoàng hậu và Hoàng Thái tử đến cho
ta xơi, xong rồi ta sẽ nói pháp cho nghe.
- Ðược
tôi sẽ trân trọng làm theo ý Ngài muốn.
Trong
khi ấy, tất cả triều thần đều nhao nhao phản đối: “Bệ
hạ làm thế nhẫn tâm lắm, chúng tôi không tán thành! Bệ
hạ giết chúng tôi trước, rồi sẽ thi hành cái cử chỉ
thảm não ấy”.
Nhà
vua vẫn bình tĩnh, thản nhiên an ủi quần thần: “Các khanh
yên lòng, ta cũng biết thế là đau xót lắm, nhưng trong đời,
hễ có hợp rồi sẽ tan, không có gì là đáng quí cả, chỉ
có chánh pháp mới là đáng quí, vậy dù đổi tánh mạng ta,
ta quyết cũng không từ”.
Trong
khi quỷ Dạ xoa ăn thịt Hoàng hậu và Hoàng Thái tử, tất
cả triều thần cùng cung phi mỹ nữ trong tam cung lục viện
đều kêu gào, than khóc vô cùng thảm não. Tiếng kêu than náo
động cả kinh thành, mong làm chuyển được lòng cương quyết
của nhà vua, để Ngài xóa bỏ ý định. Nhưng nhà vua vẫn
điềm tĩnh như thường, chỉ một mực chăm chờ nghe pháp.
Quỷ
Dạ xoa sau khi ăn xong Hoàng hậu và Hoàng Thái tử liền vì
vua mà nói bài kệ rằng:
“Tất
cả các hành đều là vô thường,
Có
sanh đều có khổ,
Năm
ấm không thật tướng,
Không
ngã và ngã sở”. [1]
Nhà
vua nghe xong bài kệ vui mừng vô cùng, lòng không chút hối
hận, liền truyền thần dân biên chép bài kệ ban khắp trong
nhân gian, bắt phải đọc tụng, nhờ đó mà rất nhiều người
được tỏ ngộ.
Lúc
ấy, vị Tỳ sa môn Thiên Vương hiện lại nguyên hình và không
tiếc lời khen ngợi:
- Quí
hóa thay! Cao cả thay, tâm trọng pháp của nhà vua không ai sánh
bằng. Hoàng hậu và Thái tử xin hoàn lại vẫn không sao cả.
Chẳng qua là chỉ để thư lòng nhà vua mà thôi, thật không
phải tôi đã ăn nuốt đi đâu.
Tôi
mong ngày sau Ngài sẽ đạt đạo Bồ đề độ muôn loài hàm
thức.
Làm
đau thương không gì hơn buồn. Bắn tên độc không gì hơn
ngu si. Không thể lấy sức mạnh gì trừ diệt được hai nỗi
khổ ấy. Chỉ có học nhiều mới có thể trừ diệt được.
Người mù sẽ nhờ học mà có mắt, người tối sẽ nhờ
học mà sáng suốt. Nhờ học mới có thể chỉ đường cho
mọi người. Có học như đem mắt cho người mù. Vậy phải
rời bỏ ngục ngu si, xả lòng kiêu mạn và sự an hưởng giàu
có, chuộng học nghe nhiều mới gọi là nhóm họp công đức.
Lòng
Hiếu của con chim Oanh Vũ
Thuở
xưa, ở núi Tuyết Sơn có một con chim Oanh Vũ, cha mẹ đều
mù, thường đi tìm trái cây thơm chín, dâng cha mẹ dùng. Lúc
bấy giờ, có vị điền chủ mới cấy lúa bèn phát nguyện
rằng: “Lúa tôi đây, xin nguyện cho chúng sanh ăn dùng”.
Chim Oanh Vũ thấy vị điền chủ phát tâm bố thí như vậy,
bèn thường bay xuống lấy lúa cúng dường cha mẹ. Người
điền chủ đi xem lúa, thấy loài chim loài sùng phá hại lúa,
bèn nổi giận đặt lưới bắt được chim Oanh Vũ. Chim Oanh
Vũ thưa vị điền chủ rằng: “Trước đây ông có lòng tốt
bố thí nên tôi mới dám lấy của ông, sao lại đặt lưới
bắt tôi?”. Người điền chủ hỏi: “Ngươi lấy lúa làm
gì?”. Chim Oanh Vũ đáp: “Tôi có cha mẹ mù, nên phải lấy
lúa cúng dường”. Vị điền chủ nói rằng: “Từ nay về
sau, ngươi cứ lấy lúa mà dùng, đừng e ngại gì cả”. Loài
súc sanh còn biết hiếu thuận với cha mẹ huống nữa là người.
Chim
Oanh Vũ là tiền thân của Ðức Phật Thích Ca. Người điền
chủ là tiền thân ông Xá Lợi Phất.
Trích:
Phật Pháp
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Tất cả vạn sự vật thế gian đều luôn luôn chuyển biến
không ngừng, các hiện tượng chuyển biến ấy Kinh gọi là
Hành. Các pháp do nhân duyên cấu hợp, không thật thể, không
khác nào hình ảnh trên màn bạc. Người phàm phu không làm
sao nhìn thấy sự thật của sự vật, luôn luôn
chấp cho là thật cảnh, thật ra, nên khi được thì vui mừng,
mất thì sanh đau khổ.
Nên
biết năm ấm (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hòa hợp gọi
là thân, song năm ấm biến chuyển không thường nên thân người
thoạt còn thoạt mất, không có cái gì là “ta” cũng như
không có cái gì là “của ta”. Chẳng qua cũng như những
bóng trong màn ảnh sân khấu, những giả ảnh trong chiêm bao
mà thôi.
Chư
Phật tỏ ngộ do đây, mà phàm phu mê muội cũng do đây
vậy.