Phần
10
46/
Người không tai mắt mũi lưởi
47/
Tai hại của sân hận
48/
Tai hại của lòng tham
49/
Trì giới thanh tịnh
50/
Phật xử kiện
Người
không tai, mắt, mũi, lưỡi
Lúc
bấy giờ Ðức Thế Tôn đang trú tại nước Xá Vệ, Tịnh
xá Kỳ Ðà diễn giảng đạo lý cho chúng Tỳ Kheo.
Có
một gia đình trưởng giả, sinh được năm người con, nhưng
toàn là con gái, chẳng có thằng con trai nào hết. Trong lúc
bà đang mang thai người con thứ sáu thì chẳng may ông trưởng
giả chết.
Theo
luật nước nếu sau khi người cha chết rồi mà gia đình ấy
không có con trai để thừa hưởng gia tài, thì của cải đó
được sung công vào kho nhà nước.
Sau
khi ông trưởng giả qua đời, thì chính quyền địa phương
đến lập thủ tục giấy tờ tịch thu tài sản, sung công
quỹ. Nhưng người con gái lớn không cho và đến tâu vua:
- Tâu
bệ hạ, cha con mới mất, gia đình con hiển nhiên hiện giờ
là không có con trai rồi, nhìn mẹ con còn đang mang một người
con trong bụng, biết đâu sau này là con trai thì sao. Vậy mong
ơn Vua xin hẹn lại một thời gian, say khi mẹ con đủ ngày,
đầy tháng, chừng ấy quả thiệt là chẳng muộn. Vua nghĩ
có lý bèn nói:
- Con
nói có lý, ta sẽ cho quan địa phương dừng lại.
Chăng
bao lâu, bà trưởng giả hạ sanh một cậu con trai, nhưng tiếc
thay chẳng có tai mắt mũi lưỡi gì cả, chỉ có hình dáng
như người con trai nên gọi là con trai mà thôi, bèn đặt tên
là Man Từ Tỳ Lê.
Dù
chẳng đầy đủ bộ phận con người, nhưng cũng là trai, nên
tài sản đó không bị nhà nước tịch thu làm của công.
Tuy
được một người em trai, nhưng người chị chẳng hài lòng
tí nào cả, mặc dù tài sản vẫn còn nguyên, vì đứa em trai
chẳng giống vật chỉ mà cũng mang dành hưởng trọn một
gia tài đồ sộ, cô chán nản cho thân gái bèn bỏ nhà ra đi
làm kẻ hầu hạ cho người: Khi nấu ăn, khi dâng nước, chẳng
khác như đứa tớ gái.
Gần
đó có một nhà trưởng giả, ông thấy vậy bèn hỏi:
- Nhà
con giàu có, đâu phải nghèo hèn gì, tại sao không ở nhà
mà thụ hưởng, tiêu xài mà phải ra thân tôi tớ cực nhọc
vậy?
- Thưa
ông, cha con vừa chết, của cải đầy kho đụn, mà chị em
chúng con đều là con gái, nên của kia bị Vua thu làm công,
nhưng may sao mẹ con vừa hạ sinh được một đứa con trai,
nhưng nghiệt nỗi chẳng có tai mắt mũi lưỡi gì cả, nhờ
vậy mà tài sản khỏi bị tịch thu. Em trai của con được
trọn quyền sử dụng, nhìn thấy vậy mà buồn tủi cho phận
gái vô duyên, chẳng bằng một người con trai mà chẳng ra
người nên thân con mới ra nông nỗi này.
- Buồn
làm gì vô ích, con muốn thoát khỏi thân gái bây giờ hãy
tạo nhân lành, làm phước để kiếp sau sanh làm con trai khôi
ngô tuấn tú, vậy giờ con hãy đi với ta đến chỗ Phật.
Hai
ông cháu cùng đi đến yết kiến Thế Tôn.
- Kính
bạch Thế Tôn, Man Từ Tỳ Lê được phước duyên gì mà sinh
vào nhà giàu sang, phú quý, nhưng bạch Thế Tôn, bị tội gì
mà sinh làm thân người mà chẳng đủ lục căn, xin Thế Tôn
chỉ dạy.
- Lành
thay, trưởng giả, về đời quá khứ có hai anh em sanh vào
một gia đình giàu có, người anh tên là Ðàn Nhã Thế Chất
người em tên là Thi La Thế Chất.
Người
anh nết na thuần hậu, trung chánh và hay bố thí, giúp đỡ
kẻ nghèo cùng, bởi vậy nên được mọi người trong nước
kính nể, tôn trọng, về sau được Vua chọn vào triều giữ
chức bình sự, để sử lý việc kiện tụng của dân.
Theo
luật bấy giờ, những người vay nợ, chẳng có giấy tờ
bút mực gì cả, mà hai bên đều đến quan bình sự làm chứng
cho là được.
Lúc
ấy, nhà Thi La Thế Chất giàu sang cho vay tiền lãi. Hôm ấy,
có người lái buôn đến vay ông một số tiền khá lớn để
đi buôn. Ngày giao tiền cả hai cùng đến trước quan
bình sự để làm chứng. Khi đi Thi La Thế Chất dắt theo hai
đứa con trai nhỏ, nói với anh rằng:
- Em
chỉ có đứa con trai này, vậy sau này em có chết đi, thì
món nợ người lái buôn mượn trả lại cho nó. Xin anh làm
chứng cho.
- Em
đừng lo, không sao đâu, sau này ông ta sẽ trả lại cho cháu,
miễn sao ông đi được tốt đẹp và trở về an toàn là hay.
Sau
thời gian chẳng bao lâu, Thi La Thế Chất qua đời, để lại
tài sản cho vợ và con, còn người lái buôn kia không may, khi
thuyền ra biển bị trận bão đánh đắm tàu tất cả, ông
bám vào khúc gỗ và gió thổi tạt vào bờ.
Người
con trai của Thi La Thế Chất hay được tin ấy lấy làm thương
tình, nên khi gặp lại người lái buôn cũng chẳng đòi nợ.
Thời
gian sau có người lái buôn khác, cho mượn vốn và dẫn ông
ta đi để đền bù lại chuyến thất bại trước. Rất may,
chuyến này gặp tốt đẹp hoàn toàn, vàng bạc, châu báu chở
đầy tàu. Thế là ông ta phát tài lớn. Ông mời họ hàng
anh em vui say, thanh toán món nợ của người lái buôn cho mượn
vừa rồi, nhưng còn món nợ của Thi La Thế Chất thì không
trả. Ông nghĩ: “Chuyến trước mình về chẳng thấy đứa
con trai ông đòi hỏi gì, có lẽ khi mình với cha nó giao ước
mượn tiền thì nó còn nhỏ quá nên không nhớ, hoặc là thấy
mình buôn bán lỗ lã nên không đòi, vậy mình thử cậu bé
có còn nhớ hay không”.
Hôm
đó ông mặc áo đẹp, cưỡi ngựa đi chợ, gặp cậu con trai
Thi La Thế Chất, cậu trai hỏi:
- Người
lái buôn, bây giờ ông đã phát tài lớn rồi, vậy hãy trả
lại số tiền mượn khi trước của cha tôi đi.
Ông
ta giả đò vớ vẩn rồi đáp:
- Nào
tôi có mượn tiền của cha cậu hồi nào đâu, hay là ai, cậu
nhầm ư?
Trở
về nhà, ông ta liền lấy một viên ngọc đi ngay đến nhà
quan bình sự, nhét viên ngọc vào tay vợ quan, thưa rằng:
- Thưa
bà quan lớn, khi trước tôi có vay của ông Thi La Thế Chất
một số tiền nên bây giờ con ông theo đòi, mà hiện giờ
gia đình tôi túng thiếu nên không trả nổi, vậy thằng con
trai ấy đến kiện tụng, thì xin bà nói giúp giùm quan lớn
để cho qua, tôi khỏi trả số nợ ấy.
- Ôi!
Quan lớn nhà tôi trung trực lắm anh ơi! Tôi không giám đâu.
Nhưng
ông ta theo năn nỉ mãi nên bà ta cũng động lòng, chấp nhận.
Ðến tối, vợ đem câu chuyện ấy thuật lại cho chồng nghe,
chồng gạt phắt đi và nói:
- Bà
chỉ làm việc rầy rà, bà có biết nó là cháu tôi, hơn nữa
tôi là người thành thực liêm chính, nhà Vua tin dùng, giờ
này bà biểu tôi làm điều càn dở hay sao, mai nó có đến,
sai lính đuổi đầu nó ra.
Sáng
ngày người lái buôn lại lóc ngóc đến, vợ quan lớn thấy
liền nói rằng:
- Không
được ông ơi, tôi nói rồi nhưng chồng tôi không nghe, còn
la tôi nữa.
Thấy
bất ổn người lái buôn lòi ra hai viên ngọc nữa và nói
rằng:
- Xin
bà lớn giúp giùm cho một phen nếu giả như rằng con trai kia
có kiện tụng và số tiền bồi thường ấy bà cũng đâu
có dùng được. Bà cầm tất cả đi, xin bà thương cho trăm
sự nhờ bà.
Nghe
êm tai, và lòng tham nổi dậy bà hứa sẽ giúp.
Tối
đến quan lớn làm việc về, cơm nước xong xuôi, vào phòng
khách ngồi nghỉ, bà lẽo đẽo theo sau và nói với chồng:
- Này
mình, đó là việc nhỏ mọn mà, mình giúp tí thôi, có gì
mà liêm chính quá.
- Không
có lý như vậy, tôi là người thiên hạ tin dùng, nếu tôi
làm điều gian dối, ăn hối lộ thì đời nay không ai tin tôi,
rồi đời sau đọa vào địa ngục để trả nợ, biết chừng
nào cho xong. Bà hãy dẹp đi, đừng nói nữa.
Ðứng
phắt dậy, ông bỏ vào phòng ngủ.
Lúc
ấy đôi vợ chồng sinh được một mụn con trai chưa biết
đi. Bà bèn lập mưu bế con vào phòng giận dỗi:
- Tôi
với mình kết duyên với nhau hai thân như một, gặp việc
dù đến chết cũng chẳng thể rời nhau và cũng chẳng lúc
nào trái ý, huống nữa đây là một việc chẳng đáng kể,
trọn quyền nắm trong tay mình, vậy mà tôi đã hết lời năn
nỉ mà mình chẳng chiều tôi một chút, vậy mà tôi sống
làm gì cho bận lòng mình, tôi giết con trước rồi sau tự
sát cho xong đời tủi hổ này.
Quan
bình sự nghe vợ nói quyết liệt như vậy, như nhát búa bổ
vào đầu, nghẹn vổ họng, thầm nghĩ: “Ta chỉ có một mụn
con, nếu chết rồi thì ai nối dòng gia thất, còn nếu chiều
theo bà vợ oan nghiệt này thì trái pháp luật, làm điều xằng
bậy, đời này bị phỉ nhổ, rồi đời sau chịu quả báo
khổ muôn kiếp. Thật là một việc nan giải, từ chối cũng
không được mà nhận lời cũng chẳng yên”. Cuối cùng buộc
lòng ông phải đáp:
- Thôi
bà cứ yên tâm.
Thấy
chồng chấp nhận bà vui mừng, sáng hôm sau gặp người lái
buôn, bà hớn hở nói:
- Mọi
việc đều xong, quan lớn nhận lời rồi, ông khỏi lo.
- Thật
cám ơn bà muôn vạn, quý hóa quá, nhờ bà tận tình giúp đỡ.
Sáng
hôm sau người lái buôn thức dậy, mặc áo quần bảnh bao,
đeo vòng vàng ngà ngọc, cưỡi ngựa đi vào chợ, cậu bé
con trai Thi La Thế Chất thấy mình ông đeo vòng vàng, ngà ngọc
thầm tưởng chắc ông ta mang đến trả nợ cho mình, nhưng
một đỗi chẳng thấy ông nói gì hết và có vẻ làm lơ,
cậu bèn chạy lại hỏi:
- Này
người lái buôn, tiền nợ của cha tôi khi trước ông nên
trả cho tôi đi chớ!
- Ô
kìa, cậu bé, ai vay nợ cha cậu hồi nào?
- Ông
quên rồi hả? Có quan bình sự làm chứng mà!
- Tôi
không biết, cậu có muốn cứ trình quan.
- Vậy
ông theo tôi.
Hai
người bèn đi đến trước quan bình sự.
Hai
người bèn đi đến trước quan bình sự.
- Thưa
bác, ông lái buôn nầy ngày trước có vay tiền của cha con
để đi buôn và khi ấy bác làm chứng, lúc ấy cũng có con
nữa. Vậy mà bây giờ con đòi, ông nói chẳng có vay mượn
chi cả. Xin bác giải quyết dùm con.
- Nầy
cháu, bác có nghe nói gì đâu? Hay là cháu nhầm ai rồi! Thôi
cháu nghe lời bác, hãy bỏ qua đi, đừng rầy rà nữa.
- Không,
chính bác đã quên chứ cháu không có nhầm đâu, hôm đó bác
có đưa tay chỉ và nói với cha cháu rằng: “Ðược rồi
không sao đâu, chú cứ yên lòng cho họ vay, miễn họ đi về
được yên lành thì tốt”. Vậy mà bây giờ bác bảo là
không thấy, không nghe, không chỉ, không nói gì.
- Bác
là người xử đoán công minh, luật pháp rõ ràng, lẽ nào
bác lại ép cháu. Thôi cháu chớ có nhiều lời.
- Thưa
bác, bác là người liêm chính, trung thực nhà Vua cử làm Quan
bình sự, ai ai cũng tin dùng bác, còn tôi, tôi là cháu ruột
của bác mà bác xử ngược lý như vậy thì người ngoài ra
sao nữa, bác sẽ ép họ đến mức nào. Nhưng riêng cháu, cháu
cũng chẳng biết điều phải lẽ trái như thế nào, thôi thì,
đời sau sẽ rõ.
Thuyết
giảng đến đây, Ðức Thế Tôn nhắc lại:
- Nầy
Trưởng Giả, Quan bình sự thưở trước nay chính là Man Từ
Lê Tử, chịu phải quả báo không tai mắt mũi lưỡi, bởi
do một lời nói dối và giả bộ làm ngơ lúc đó, nhưng cũng
vì hay giàu lòng bố thí nên được phước thọ sanh nhà giàu
sang, phú quý và làm chủ một gia tài đồ sộ như thế.
Sự
báo ứng thiện ác rõ ràng, hãy cẩn thận miệng lưỡi chớ
nói càn mà mang họa.
GIỚI
ÐỨC
Kiếp
này nợ trả chưa xong
Làm
chi thêm đỡ nợ chồng kiếp sau
Tai
hại của sân hận
Thuở
xưa, tại thành Ba La Nại dưới quyền thống trị của Ðức
Vua Ki Ta Va Sa, Ngài là một minh quân, thương yêu dân chúng
như con ruột của mình.
Hiền
nội của Ngài là một trang tuyệt sắc giai nhân, đủ tài
cầm kỳ thi họa. Trong chuỗi ngày hạnh phúc trọn vẹn ấy,
Hoàng Hậu thọ thai, thật là một tin lành khiến cho Hoàng
gia và dân chúng vui mừng không sao tả xiết. Ðức Vua
Ki Ta Va Sa vốn đã thương yêu Hoàng Hậu, bây giờ lại quý
mến hơn, và hằng gia tăng lễ bái cầu nguyện thường xuyên
hơn, tự thân Ngài chăm sóc từng miếng ăn thức uống của
nàng, cho đến màn nệm gối loan thật êm ấm, thật tinh khiết.
Một đoàn ngự y được lệnh túc trực bên Hoàng hậu để
theo dõi sức khỏe, từng biến chuyển của Hoàng Hậu và thai
nhi.
Thời
gian thấm thoát trôi qua, ngày khai hoa nở nhụy đã đến, Ðức
Vua Ki Ta Sa Va cùng Hoàng tộc hết sức đợi chờ, dân chúng
Ba La Nại đều kéo về Hoàng Cung, hàng vạn dân chúng tụ
tập quanh Hoàng thành để chờ đợi tin mừng, thời gian hình
như lắng đọng. Khi tiếng loa tin Hoàng Hậu trổ sanh Hoàng
Tử thì tiếng reo mừng của dân chúng vang trời dậy đất.
Mọi người ôm nhau nhảy nhót hò hét như điên để biểu
lộ niềm vui tột cùng ấy. Nhưng người sung sướng nhất
hôm nay phải kể là Ðức Vua Ki Ta Sa Va. Ngài truyền lệnh
dân chúng kết hoa ăn mừng, một đại tiệc được tổ chức
sau đó, Hoàng Tử mới ra đời được chọn một tên thật
đẹp là Ðút Tha Ku Ma Ra.
Một
vị tiên tri đại tài được mời đến, sau khi quan sát Thái
Tử nhiều lượt, nét mặt nhà tiên tri bỗng thoáng vẻ âu
sầu. Ðức Vua liền phán hỏi:
- Khanh
xem tướng Thái Tử như thế nào mà lộ vẻ lo âu như vậy?
- Vị
tiên tri ngập ngừng:
- Tâu
Hoàng Thượng… Tâu Hoàng Thượng…
Ðức
Vua nóng lòng hỏi:
- Hoàng
Tử thế nào? Khanh cứ trình bày, ta sốt ruột lắm!
Vị
tiên tri đáp:
- Muôn
tâu Bệ hạ, hạ thần không muốn vì một lời nói của mình
làm suy giảm cuộc vui hôm nay.
Ðức
Vua vội nói:
- Kể
từ các vị Tiền Ðế dựng nước đến nay, dòng dõi của
ta là một chủng tộc anh hùng, chỉ biết chiến thắng không
hề biết chiến bại, ta và chủng tộc bao giờ củng nhìn
thẳng vào sự thật, Khanh cứ tâu trình đi, đừng ngại chi
cả.
- Muôn
tâu Hoàng Thượng, sau nầy Hoàng Tử sẽ lìa đời một cách
khổ sở lắm.
- Khổ
sở đến mức nào?
- Kính
tâu, Hoàng Tử sẽ lìa trần bởi khát nước.
Ðáp
xong vị Tiên tri xin phép cáo từ, Ðức Vua cho tùy tùng đưa
vị Tiên Tri đến nơi cư ngụ.
Vốn
biết tài tiên đoán của vị Tiên Tri không bao giờ sai. Ðức
Vua cho triệu tập bá quan một phiên họp khẩn cấp, tại Kim
Loan điện. Hôm ấy, bầu không khí thật u buồn và nghiêm
trọng. Ai ai cũng hiểu rằng, Hoàng Tử bây giờ không phải
riêng của Ðức Vua và Hoàng tộc mà sinh mạng của Hoàng Tử
bây giờ gắn liền với niềm hy vọng của toàn thể dân tộc
này. Bá quan ai cũng thi nhau đưa những ý kiến hay nhất của
mình. Cuối cùng một kế hoạch tỉ mỉ được thảo ra với
niềm hy vọng lớn sẽ ngăn ngừa những điều tai hại xảy
đến cho Hoàng Tử.
Một
mặt Ðức Vua truyền lệnh cho đào giếng trong và ngoài thành,
trữ nước bằng lu để trong các chòi lá rải rác theo dọc
đường. Một mặt Vua ra lệnh cho các nơi gia tăng nguyện cầu
mong được nhiều sự an lành đến cho Thái Tử. Nhưng than
ôi! Nghiệp chướng của Hoàng Tử Ðút Tha Ku Ma Ra quá sâu
dày, cho nên bây giờ dù muốn chuyển nghiệp cũng rất khó,
những nghiệp ác đó đã tạo phải trả không sai vậy.
Thời
gian thấm thoát trôi qua, Hoàng Tử Ðút Tha Ku Ma Ra lớn dần
trong sự vui mừng của Ðức Vua, Hoàng Hậu cùng Hoàng tộc,
nhưng ai cũng lo lắng không hiểu đại họa chừng nào sẽ
đến cho Hoàng Tử.
Càng
lớn lên Ðút Tha Ku Ma Ra cũng tỏ ra thông minh đĩnh ngộ, văn
võ song toàn, nhưng trước sự nuông chiều của Ðức Vua cùng
Hoàng Hậu và sự kính trọng của mọi người, lòng kiêu hãnh
cũng lớn dần theo thời gian. Bao giờ Ðút Tha Ku Ma Ra
cũng nghĩ rằng ngoại trừ phụ vương và mẫu hậu, ai ai cũng
phải cúi đầu trước mặt chàng.
Cách
kinh thành Ba La Nại không xa, một khu lâm viên tươi tốt, thú
rừng rất nhiều. Dân chúng không được phép bén mảng đến
đấy, khu lâm viên này chỉ dành cho Hoàng tộc, Hoàng Tử Ðút
Tha Ku Ma Ra rất thường đến đây tha hồ bắn giết không
một chút nương tay. Trong xứ ấy dân chúng rất tôn trọng
những nơi tu hành này. Các vị tu sĩ kể từ các triều đại
trước, những ngôi tu viện luôn luôn được nhà Vua xây dựng
và bảo hộ, những vị tu sĩ luôn luôn được tôn trọng,
vì họ hiểu rằng có như thế các vị Thánh nhân mới đủ
cơ duyên ra đời, bởi một nước nào nơi tôn thờ được
giữ gìn có các vị Thánh nhân xuất hiện, xứ ấy sẽ hưởng
thanh bình an lạc, mưa gió thuận hòa, thiên tai sẽ không đến,
và triều đại sẽ rất bền vững.
Một
hôm Hoàng Tử Ðút Tha Ku Ma Ra cùng đoàn tùy tùng đến khu
lâm viên săn bắn, Ðút Tha Ku Ma Ra rất thích khu rừng này
vì nơi đây có đủ muông thú để thỏa mãn lòng hiếu sát
của chàng.
Ngược
chiều với đoàn xa giá, một vị Phật Ðộc Giác lặng lẽ
ôm bát vào thành khất thực, trước vẻ trang nghiêm và oai
nghe tế hạnh của vị Bích Chi Phật, những tư tưởng an lành
của ngài luôn luôn phát tiết, khiến mọi người khi nhìn
Ngài cảm thấy hoan hỷ lạ thường. Không ai bảo ai, đoàn
tùy tùng đồng loạt chắp tay cung kính hướng về Ðức Phật
Ðộc Giác đảnh lễ.
Hoàng
Tử Ðút Tha Ku Ma Ra thấy thế, lòng sân hận nổi lên như
thác lũ, nghĩ rằng bọn tùy tùng ấy chỉ được phép cúi
đầu trước mặt mình mà thôi, bây giờ trong khi đi vời mình
mà ngang nhiên cúi đầu trước lão tu sĩ này.
Nhanh
nhẹn rời lưng voi, tiến đến trước mặt Ðức Phật Ðộc
Giác giựt lấy bình bát trên tay Ngài quăng xuống đất rồi
dẫm lên cho bể. Ðoàn tùy tùng kinh ngạc lẫn hãi hùng trước
hành động quá ngông cuồng của Thái Tử nên không ai kịp
can gián điều gì.
Với
lòng bi mẫn, nghĩ rằng hành động tội lỗi vĩ đại như
thế sẽ gây nhiều thảm họa cho kiếp hiện tại và kiếp
vị lai, nên Ðức Phật Ðộc Giác nhìn Hoàng Tử với đôi
mắt từ bi vô lượng.
Không
một chút hối hận ăn năn, Thái Tử cất lên một chuỗi cười
ngạo nghễ và khiêu khích:
- Này
lão Sa môn kia, ông biết tôi là ai không?
- Ðức
Phật Ðộc Giác vẫn yên lặng.
Hoàng
Tử nói tiếp:
- Ta
là Hoàng Tử Ðút Tha Ku Ma Ra con của Ki Ta Va Sa đây.
Vị
Ðộc Giác Phật vẫn lặng yên không nói gì, Ðút Tha Ku Ma
Ra thao thao bất tuyệt:
- Lão
có giận ta không? Lão hãy mở mắt nhìn ta cho kỹ. Xem bộ
dạng ông như thế mà dám làm gì ai.
Ðức
Phật Ðộc Giác vẫn thản nhiên yên lặng, Ngài đành chịu
đói và vận thần thông bay về núi Nam Dra Mu Ha Ka.
Không
còn hứng thú trong việc đi săn đó nữa, Hoàng Tử truyền
lệnh cho đoàn tùy tùng trở lại hoàng cung. Ðoàn tùy tùng
nặng nề luy bước, ai ai cũng lo sợ vì nghiệp dữ quá nặng
nề mà Hoàng Tử mới tạo.
Trên
đường về, Hoàng Tử bỗng cảm thấy nói năng lạ thường,
sức nóng ngày càng tăng, cảm thấy khát nước. Hoàng Tử
truyền lệnh cho đoàn tùy tùng tìm nước uống, nhưng do nghiệp
lực quá nặng nề khiến hồ ao giếng đều khô cạn, đoàn
tùy tùng tìm mãi không được một giọt nước nào, trong khi
ấy Hoàng Tử đang lăn lộn la hét:
- Nước!
Nước! Hãy cho ta uống nước. Ôi! Khát nước quá! Có lẽ
ta chết mất!
Dù
tận tâm tận lực, đoàn tùy tùng vẫn không tìm ra chút nước
nào, thậm chí đến một giọt cũng không có.
Chịu
khát không nổi, Ðút Tha Ku Ma Ra quằn quại khổ sở, cuối
cùng trút linh hồn.
Sau
khi lìa trần, linh hồn Hoàng Tử bị đọa vào địa ngục
A Tỳ chịu khổ không sao tả xiết.
GIỚI
ÐỨC
Giận
lên là phát cơn điên
Người
khôn hóa dại, người hiền hóa ngu.
Tai
hại của lòng tham
Thời
Ðức Phật còn tại thế, một hôm Ngài cùng A Nan đi du hóa
tại một vùng quê, Ðức Phật đang đi trên đường bỗng
Ngài bước đi bên bờ cỏ. A Nan ngạc nhiên, tự nghĩ:
“Ðức Thế Tôn không bao giờ đi dậm trên cỏ non, vì lý
do nào hôm nay Ngài không đi trên đường mà lại đi trên cỏ”.
Nghĩ thế A Nan bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn, vì sao Thế Tôn không đi trên đường mà lại tránh
đi trên cỏ?
- Này
A Nan, phía trước có kẻ giặc, sau ta có ba Phạm Chí đang
đi, họ sẽ gặp giặc đó.
Ba
người Phạm Chí đang đi bỗng thấy bên đường có một gói
vàng bèn dừng lại lấy bỏ túi.
Khi
được của, ba anh mới bàn tính, rồi bảo một người đến
chợ mua đồ về ăn uống no say, khao nhau một bữa.
Anh
đi chợ vừa đi vừa nghĩ: “Gói vàng ấy nếu chia cho hai
anh kia thì ta sẽ ít đi, chi bằng nhân lúc này ta cho thuốc
độc vào đồ ăn để giết cả hai người kia thì số vàng
đó do ta hưởng trọn”. Nghĩ thế, anh liền thực hành ngay
ý định.
Trong
khi đó, hai người ở lại cũng cùng nhau bàn tính:
“Nếu
chúng ta chia cho người kia thì số vàng sẽ bị ít đi, chi
bằng đợi nó về rồi cả hai cùng ra giết quách là xong”.
Nghĩ vậy hai người cùng núp vào chỗ kín, chờ người kia
đi chợ mua đồ ăn về, liền nhảy ra giết chết. Giết xong,
hai người đem đồ ăn ra, ăn uống, no say thỏa mãn, nhưng
khi ăn xong thuốc độc thấm vào người, liền lăn đùng ra
đất chết hết.
Ðức
Phật bảo A Nan:
- Cả
ba người vì lòng tham nên sanh ác tâm để rồi cùng giết
hại lẫn nhau. Kẻ ngu si thật đáng thương.
GIỚI
ÐỨC
Khi
lòng tham đã xâm nhập con người thì họ quên mất đạo đức
ở đời này và quả báo ở đời sau.
Trì
giới thanh tịnh
Xưa
tại núi Trung Nhạc có thầy Tỳ kheo Nguyên Khuê hằng ngày
ngồi dưới gốc cây trong chốn rừng sâu u tịch để nhập
định. Thầy đã giữ giới rất thanh tịnh trong tâm tư đã
không, ngoài cảnh được tịnh nên mới chứng được Pháp
Hoa Tam Muội. Công phu tu luyện của Thầy đã khiến Thầy nhận
thấy tâm Thầy với Phật đã đối hiệp, thân với Ðạo
đã cảm thông.
Thần
linh các cõi đều cảm phục công đức Thầy và rải hoa Mạn
Ðà La xuống để dâng cúng.
Một
buổi nọ, trăng thanh gió mát, Tỳ kheo Nguyên Khuê tụng niệm
vừa xong, bỗng thấy có một người tướng mạo oai vệ đứng
bên mình, Thầy vui vẻ cất tiếng hỏi:
- Nhân
giả là ai vậy? Người đến với tôi đàm đạo chơi
hay có điều chi cần thiết?
Khách
đáp rằng:
- Tôi
là Thần Nhạc Ðế ở núi này, thấy Thầy trì giới thanh
tịnh nên hết lòng cảm phục. Nay tôi đến cầu xin Thầy
mở lòng từ bi truyền giới cho tôi được tu tập, vì giới
Pháp của Ðức Phật sẽ hóa độ tất cả chúng sanh vượt
ra ngoài sông mê bể khổ.
Tu
sĩ đáp:
- Nhân
giả đã thành tâm cầu giới thì ắt được, hà tất còn
xin ta truyền giới làm chi vì giới tự trong tâm mà ra chứ
đâu phải tự ngoài tâm mà tới.
Nhạc
Ðế khẩn khoản thêm:
- Lời
Thầy dạy đó hẳn là tâm lý giới. Tôi còn mê muội chưa
thấu suốt được xin Thầy truyền giới cho tôi, tôi tập
hành theo sự tướng để ngộ nhập lý tánh.
Tỳ
kheo bèn lên điện thắp đèn đốt hương kính cẩn lễ Phật
và ngồi lại nghiêm trang thuyết thần Nhạc Ðế:
- Năm
giới rất khó giữ gìn cho được thanh tịnh viên mãn. Khi
kể các giới, nhân giả phải suy nghĩ cho kỹ, liệu giữ được
giới nào thì thọ giới ấy, bằng không giữ được thì thôi
chớ đừng nên nói giữ được mà sau lại hủy phạm. Như
thế thọ giới đã chẳng được công quả gì mà còn thêm
mắc tội “pháp giới”.
Vị
thần kính cẩn thưa lại:
- Tôi
xin vâng theo lời dạy của Thầy.
Thầy
Nguyên Khuê lại nói:
- Giới
thứ nhất: Phật cấm sát sanh, không cho giết hại thần
mạng các giống hữu tình dù nhỏ mọn như loài sâu kiến,
liệu ngươi có giữ được chăng?
Nhạc
Ðế đáp:
- Tôi
lãnh nhận nhiệm vụ sát hại kẻ hung ác để răn đời. Nếu
bỏ việc ấy tôi sẽ không làm tròn bổn phận.
Giới
sư nói:
-Không
phải thế, ta muốn ngươi lưu ý đến những kẻ vô tình không
cố tâm phạm tội mà trót lỡ lầm phạm phải thì hãy nên
châm chước và những án nào mà ngươi còn nghi ngờ thì hãy
xét lại tận tường rồi mới ra tay thi hành để tránh giết
oan người vô tội.
Nhạc
Ðế nghe xong nhận xin thụ giới thứ nhất.
Giới
sư lại tiếp:
- Giới
thứ hai Phật cấm trộm cắp, không cho phép giữ lấy vật
gì không thuộc quyền sở hữu của mình, dù là vật mọn
không đáng là bao như ngọn cỏ cành rau nếu người không
cho, ta không được phép lấy. Nhân giả nghĩ thế nào?
Nhạc
Ðế nói:
- Tôi
làm Thần linh, ngay thẳng lắm không hề trộm cắp của ai.
- Ý
ta muốn bảo nhân giả đừng hưởng lễ của kẻ ác mà tha
thứ nó, cũng chớ nên trách người lương thiện không hay
cúng dường mà chẳng độ trì.
Nhạc
Ðế nhận giữ một lòng vô tư, làm tròn phận sự đúng như
lời Giới sư chỉ bảo.
Giới
sư lại tiếp:
- Giới
thứ ba, Phật cấm phạm dâm, liệu ngươi có giữ được chăng?
Nhạc
Ðế ngẫm nghĩ rồi thưa:
- Tôi
lỡ đã có vợ rồi, biết làm sao giải được.
- Ðược,
điều đó không sao, nhân giả có vợ nhưng phải gìn giữ
cho có tiết độ, ngoài ra không được gian dâm với vợ người
hoặc con em người.
Nhạc
Ðế nhận mình chuyên trừng trị nghiêm khắc những kẻ tà
dâm, sẽ không phạm giới ấy.
Ðến
đây, Giới sư lại tiếp:
- Thứ
tư là Phật cấm nói vọng: Không nói dối trá, không nói hai
lời, không nói bóng bẩy xa xôi, không nói lời gian ác, nhân
giả giữ được hay không?
- Tôi
chánh trực công minh không bao giờ nói vọng.
Giới
sư nói:
- Như
thế chưa đủ, ta muốn nhân giả trước khi nói điều
gì phải suy nghĩ chín chắn, coi lời nói có đúng với chân
lý hay không. Lời nói là vô cùng quan hệ nhất là đối với
người quyền thế, có thể làm cho kẽ khác nên cửa nên nhà
hoặc tán thân mất nghiệp.
- Tôi
xin tuân lời Thầy.
Giới
sư tiếp:
- Giới
thứ năm Phật cấm uống rượu, nghĩa là các chất làm say
người.
- Rượu
là vật đứng đầu trong các lễ vật cúng tế của người
thế gian, thiếu nó thì không ra lễ.
Giới
sư ngắt lời:
- Như
thế có thể châm chước cho nhân giả được dùng chút ít
trong dịp đại lễ. Ngoài ra không nên nhận những buổi tiểu
lễ và lai rai uống mãi vì uống nhiều mê say đến mất trí
khôn, làm hỏng các công việc. Còn khi nào người ta cùng mà
lỡ thiếu rượu thì đừng vịn câu “Vô tửu bất thành
lễ” mà trách phạt hay không chứng cho người.
Nhạc
Ðế nguyện xin tuân theo giới tửu trong điều kiện ấy. Giới
sư giảng giải thêm:
- Năm
giới tôi vừa kể là năm giới gốc làm căn bản cho mọi
giới, phàm hễ trì giới thì phải biết kinh quyền, biến
thông chớ không thể câu nệ chấp nhất.
Nhạc
Ðế từ khi thọ giới hết sức vui mừng ra công gìn giữ.
Có lần Nhạc Ðế quá hào hứng thốt với Giới Sư rằng:
- Thưa
Thầy, từ khi trì giới đến nay, Thần thông của tôi rất
là diệu dụng, chỉ kém có Ðức Phật mà thôi.
Tỳ
kheo vội bảo:
- Nhân
giả thọ giới thứ tư “Không vọng ngữ” mà đã vội quên.
Trước khi nói lời gì phải suy nghĩ chín chắn xem có đúng
hay không rồi sẽ nói, thế mà ngươi cao hứng quá nói ra như
thế nên phạm tội nói dối. Vì người tuy làm thần, có phép
biến hóa nhưng còn năm việc chưa làm nổi.
Thứ
nhất là ngươi không thể trái lệnh bề trên cai trị ngươi.
Thứ
hai ngươi không thể đi bảy bước từ phương Ðông sang phương
Tây, hay từ phương Bắc xuống phương Nam.
Thứ
ba là ngươi chưa đủ sức cai quản tất cả chư vị bách
linh và thống lãnh hết quyền chánh trong Tòa Ngũ Nhạc.
Thứ
tư ngươi không thề chuyển đi được bốn biển.
Thứ
năm ngươi không thể trốn khỏi luật vô thường.
Chính
Ðức Phật là bậc vô thượng Chí Tôn của Tam giới còn nhận
rằng Ngài có ba điều chưa làm được thay.
-Thứ
nhất Ngài không thể diệt ngay được định nghiệp.
-Thứ
hai tuy Ngài biết rõ được tất cả nghiệp tánh của chúng
sanh với nhân quả muôn kiếp ngàn đời của họ, nhưng Ngài
không thể cứu độ được những chúng sanh vô duyên với
Phật.
- Thứ
ba là tuy Ngài hóa độ được vô lượng, vô biên, vô số
chúng sanh nhưng Ngài cũng không độ được hết thế giới
chúng sanh.
Vậy
khuyên ngươi nên ngẫm điều đó mà từ đây cố gình giữ
lời ăn tiếng nói kẻo mắc lấy khẩu nghiệp.
Thần
Nhạc Ðế cúi lễ Giới Sư nguyện sám hối và thưa rằng:
- Tôi
nhờ Thầy chỉ dạy lý huyền của Ðạo vô thường như kẻ
đi đêm được nhờ ánh sang soi đường. Thật là một điều
duyên phúc lớn vậy. Từ nay tôi xin tình nguyện hiến dâng
này để Thấy sai khiến gọi là đền đáp ân nghĩa.
Thầy
Nguyên Khuê vội chối từ:
- Bấy
lâu nay trong tâm ta đã rỗng không mà ngoài cảnh ta vẫn tịch,
ta còn mong mỏi gì hơn mà nói đến ân nghĩa.
Nhạc
Ðến thưa:
- Ðức
Phật còn hoan hỷ cho Chư Thiên Bát Bộ hộ pháp Ngài, nay mặc
dù Thầy không lưu tâm đến chuyện đền ân trả nghĩa nên
lòng tôi phát nguyện muốn để lại chút kỉ niệm với Thầy
trong cảnh Già lam.
Giới
Sư mỉm cười và sau đó Thần Nhạc Ðế dùng phép thần thông
biến nơi am cỏ của Tỳ kheo thành một nơi đầy hoa lá tốt
tươi, hương thơm bóng mát, phong cảnh thật là thanh khiết
u tịnh để đền ơn vị giới sư đã giác ngộ mình…
Trích
NIÊN LỊCH P.G
Giới
luật còn đạo pháp còn.
Phật
xử kiện
Có
một người đàn bà bồng một đứa bé đến hồ sen của
Ðức Mahasadha để rửa tay cho nó. Sau khi rửa rái cho con và
để con ngồi trên đống áo quần khô, người đàn bà ấy
xuống hồ tắm rửa.
Lúc
bấy giờ, một con quỷ Dạ Xoa cái trông thấy và thèm ăn
thịt đứa bé. Nó liền biến thành một người đàn bà và
đến nói với mẹ đứa bé rằng:
- Chị
ơi, thằng nhỏ dễ thương quá! Phải con chị không?
- Vâng
con tôi đấy.
- Tôi
cho nó bú nhé?
- Ðược,
chị cứ cho.
Lúc
ấy con quỷ ẵm đứa bé lên, nâng niu rồi bồng đi mất.
Trông
thấy con mình bị người lạ mặt bồng đi, mẹ đứa bé đuổi
theo và la lên:
- Chị,
chị đem con tôi đi đâu đấy?
- Sao,
con chị à? Ðây là con của tôi.
Hai
người đàn bà tranh chấp nhau về đứa bé.
Từ
trong nhà nghe tiếng cãi cọ ồn ào, Ðức Mahosadha gọi họ
và hỏi:
- Có
chuyện gì xảy ra đấy?
Sau
khi biết được lý do của cuộc tranh chấp và nhận ra con
quỷ Dạ Xoa cái qua đôi mắt đỏ ngầu và thân hình không
in bóng của nó, Ðức Mahosadha hỏi thêm:
- Các
ngươi có muốn ta phân xử việc này không?
- Xin
Ngài phân xử cho.
Ðức
Mahosadha gạch một đường thẳng trên mặt đất, đặt đứa
bé nằm cân phân trên đường thẳng ấy và bảo con quỷ cầm
hai tay đứa bé, mẹ nó cầm hai chân đoạn Ngài hô lên:
- Hai
người kéo đi. Ðứa bé sẽ thuộc về người kéo được
nó.
Hai
người đàn bà nong sức kéo, đứa bé đau quá ré lên khóc.
Mẹ
đứa bé, vì quá thương con, không kéo được nữa và đứng
khóc.
Ðức
Mahosadha hỏi mọi người chung quanh:
- Trong
hai người, mẹ ruột và người dưng, ai là kẻ thương yêu
đứa bé?
- Kính
thưa Ngài, mẹ ruột.
Và
ai là người mẹ của đứa bé? Người giữ đứa bé
hay là người thả đứa bé?
- Kính
Bạch Ngài, người thả đứa bé.
- Các
ngươi có biết người ăn cắp đứa bé này không?
- Kính
Ngài, chúng con không biết được.
- Ðấy
chính là một con quỷ Dạ Xoa cái, nó đã ăn cắp và định
ăn thịt đứa bé.
- Kính
Bạch Ngài, tại sao Ngài biết?
- Bởi
vì đôi mắt của nó đỏ ngầu, thân hình của nó không có
bóng, nó không có một chút tình thương đối với đứa bé
và kéo đứa bé một cách tàn nhẫn.
Bấy
giờ Ðức Mahosadha mới hỏi con quỷ Dạ xoa cái:
- Mầy
là ai?
- Tôi
là quỷ Dạ Xoa.
- Tại
sao mầy ăn cắp đứa bé?
- Ðể
ăn thịt nó.
- Vì
mê muội, kiếp trước mầy đã phạm nhiều tội ác và phải
đầu thai làm quỷ. Thế mà ngày nay mầy vẫn tiếp tục phạm
tội ác. Ngu si lầm lạc như thế thật là quá đỗi.
Sau
khi ban dạy những lời vàng ngọc trên, Ðức Mahosadha quy y
cho con quỷ Dạ Xoa trước khi nó từ giã.
Mẹ
của đứa bé hướng về Ðức Mahosadha và bạch rằng:
- Kính
Bạch Ngài, con xin kính chúc Ngài được trường thọ.
Rồi
với đứa con trong tay và niềm hoan hỷ trong lòng, người đàn
bà bái biệt Ðức Mahosadha…
THIỆN
CHÂU
Không
bố thí tiền của, không bố thí pháp, không bố thí vô úy,
thường ôm lòng tham lam ganh ghét, do nhân duyên ấy sẽ sanh
vào cõi ngạ quỷ.