Phần
Ba
Ca
Lưu Ðà Di
Phật
Pháp Nan Văn
Tâm
Nhìn
Nắm
Tro Tàn
Sự
tích Chim Tu Hú
Ca
Lưu Ðà Di
Ưu
Ðà Di (UDÀYI ) là một viên đại thần rất được sủng ái
của đức vua Tịnh Phạn. Ông có biệt tài tổ chức các vấn
đề kinh tế tài chánh và ngoại giạo. . . Nhưng cũng có một
tật khá lớn là vô cùng háo sắc, đắm nguyệt say hoa. Chính
ông là người đã hiến kế cho đức vua Tịnh Phạn lập tam
cung lục viện, tuyển mộ cung phi đem sợi tóc mỹ nhân để
cột chân Hoàng tử Tất Ðat Ða dạo nọ.
Khi
đã được tin con mình đã thành đạo, đi bố giáo nhiều
nơi mà chưa chịu về thăm nhà, vua Tịnh Phạn vô cùng nôn
nóng, liên tiếp Ngài phái liền chín vị cận thần thân tín
mời Ðức Ðạo Sư về thành Ca Tỳ La Vệ. Ðáp lại sự chờ
mong của đức vua, sau khi gặp Phật và nghe pháp, chín vị
sứ giả đều tỉnh ngộ, quên phứt đi sứ mệnh của mình,
xin cạo tóc sống đời Sa môn và lần lượt đắc quả cả.
Lần thứ mười Ưu Ðà Di phụng mạng ra đi, thỉnh được
Ðức Ðạo Sư trở về thăm quê cũ, dù ông cũng rất lấy
lòng cảm động khi nghe những thời pháp của Ngài, nhưng Ưu
Ðà Di vẫn trở về phò vua giúp nước như trước.
Mãi
đến lúc vua Tịnh Phạn mất, Ưu Ðà Di mới từ quan, bỏ
lại hàng chục tòa dinh thự nguy nga cùng hàng trăm thê thiếp
lộng lẫy, cạo bỏ râu tóc sống đời khất sĩ. Ðể ghi
dấu lần đổi thay vĩ đại này ông đổi tên là Ca Lưu Ðà
Di (KALUDÀYI). Tuy đã thay đổi thức ăn, hình thức, cùng nếp
sinh hoạt nhưng các cố tật của Ca Lưu Ðà Di vẫn còn, vì
thế ông đã gây ra khá nhiều rắc rối cho Ðức Ðạo sư,
Tăng đoàn cũng như chính bản thân ông.
Vừa
gia nhập Tăng đoàn, Ca Lư Ðà Di đã đến gặp Ðức Ðạo
sư than phiền rằng diện tích tấm tọa cụ do Ngài hạn định
cho chư Tăng thật là khiêm tốn so với thân hình to béo của
Sư. Ðức Thế Tôn liền chế luật cho phép Sư được mở
rộng kích thước tấm nệm ngồi, mỗi bề thêm nửa tấc.
Có
được tấm tọa cụ ưng ý, Ca Lưu Ðà Di vẫn chưa tọa thiền
được, vì tiếng quạ kêu ồn ào làm tâm tư xao động. Thế
là trong lúc các bạn đồng phạm hạnh đang ngồi thiền định,
Ca Lưu Ðà Di liền đi chẻ tre, chuốt cung tên để đi bắn
quạ. Sau giờ tỉnh tọa, các thầy Tỳ kheo kinh hoảng khi thấy
xác quạ nằm đầy vườn, vì vua quan thành Ca Tỳ La vốn lừng
danh với tài xạ thủ. Chuyện đến tai Phật, Ca Lưu Ðà Di
bị Ngài khiển trách một trận nên thân. Chưa hết, một hôm
trên đường đi kinh hành, đức Ðạo sư bắt gặp một
sàng tòa cao ngất nghểu đặt giữ gã ba đường, Ca Lưu Ðà
Di đang nằm đong đưa trên chiếc gường dây nầy. . . Ðương
sự được mời xuống và Ðức Ðạo sư phải chế thêm một
giới cấm nữa: “Không được giăng võng quá cao”.
Nhờ
sự hướng dẫn của Ðức Ðạo sư và các bạn đồng phạm
hạnh Ca Lưu Ðà Di gọt rửa dần nhhững tập khí quan liêu
vương giả, duy có một điều gây rắc rối không ít cho Sư
và Tăng đoàn là Sư khó lòng tự chủ khi thấy bóng mỹ nhân.
Một
hôm đang ngồi trong tịnh thất, chợt thoáng thấy một thiếu
nữ diễm lệ đi ngang, quên phứt là mình đã xuất gia, Ca
Lưu Ðà Di liền tụt xuống giường thiền chạy ra chận đường
người đẹp. chuyện đến tai Phật, Sư bị rầy la nặng nề
và thề chừa hẳn.
Lời
thề chỉ giữ được một nửa: lần khác Ca Lưu Ðà Di không
chạy ra chận đường người đẹp nhưng ngồi trong tịnh thất
Sư không nín được dăm lời trêu chọc. Lần này Ca Lưu Ðà
Di lại phủ phục dưới chân Ðức Ðạo sư nguyện. . . sẽ
không chọc ghẹo người đẹp nữa. . . Xui xẻo cho Sư nhiều
Hoàng phi và cung nữ của vua Bình Sa, trên đường đi lễ Phật
lại đi qua tịnh thất của Sư. Đương sự liền khua chìa
khóa lẻng kẻng để gợi sự chú ý của thiên hạ. để trừ
hậu hoạn, Ðức Ðạo sư cho phép Ca Lưu Ðà Di được dời
tịnh thất ra cuối vườn để tránh cảnh.
Chuyện
rắc rối lại xảy đến với nhà sư đa tình này trên đường
đi khất thực: Ca Lư Ðà Di ôm bát đứng bất động trước
nhà mỹ nhân. . . Ðức Ðạo sư đành chế giới:
“Tỳ
kheo khất thực xong phải đi không được nấn ná lại nhà
người đẹp”.
Ðiều
luật này được Ca Lưu Ðà Di hết sức tôn trọng, Sư chỉ
đứng ngoài đường lộ dòm vào thôi. Có người mách Phật,
Ngài lập tức chế giới. Ca Lưu Ðà Di liền ngồi trên ngạch
cửa, Ðức Ðạo sư cấm ngồi nơi cửa, Sư bèn chui vào kẹt
cửa của gia chủ. . . Nhiều phen Sư bị các ông bố hoặc
đấng phu quân của mỹ nhân vây đánh phải chạy thục mạng,
vất cả y cùng bát.
Tai
tiếng của Ca Lưu Ðà Di bay tới tấp đến hương thất của
Ðức Ðạo sư, sau các lời khiển trách, Ngài từ bi đích
thân giáo hoá Sư, cấm không được rời xa Ngài. Nhờ vậy,
Ca Lưu Ðà Di dần dần bỏ được thói cũ, tinh cần tu tập,
không bao lâu đắc A La Hán quả.
Việc
lớn đã xong, Tôn giả Ca Lưu Ðà Di dùng hết năng lực của
mình để phụng sự mọi người. Tôn giả tỏ ra xứng đáng
xuất sắc trong việc giúp Ðức Phật tổ chức Tăng đoàn
và hướng dẫn quần chúng bình dân, vì hành chánh và ngoại
giao là một trong những biệt tài của Tôn giả. Tôn giả còn
được Ðức Ðạo sư phái đi giảng hòa những vụ tranh chấp
trong dân chúng. Và bất cứ cuộc hiềm khích nào, dù gây go
cách mấy, khi Tôn giả đã nhúng tay vào đều được hòa giải
rất tốt đẹp.
Về
sau do những dư nghiệp của quá khứ, Tôn giả Ca Lưu Ðà Di
đã điềm nhiên thị tịch dưới nhát dao của tên hung bạo,
khi Tôn giả muốn cứu hắn ra khỏi bùn nhơ của dục vọng.
“Ðốn
cây mà chưa đào hết cội rễ thì nhánh vẫn ra hoài, đoạn
trừ ái dục mà chưa sạch căn gốc thì khổ não sanh trở
lại mãi”.
Phật
Pháp Nan Văn
Một
thuở nọ, Phật ngự tại tịnh xá Kỳ Hoàn có 500 thiện tín
đến xin Ngài giảng pháp. Ðức Thế Tôn không hề phân biệt
gia cấp dòng họ sang hèn. Với ai, Ngài cũng giảng dạy bình
đẳng như nhau, giống như nước mưa rơi từ không trung xuống
thấm nhuần ngàn cây nội cỏ một cách vô tư.
Nhưng
dù Ngài ân cần giảng dạy, mấy người kia ngồi nghe pháp
một cách lơ đãng. Ông thì ngũ gục; ông lấy tay gõ hoài
trên mặt đất; người cứ lay mãi một nhánh cây; kẻ ngó
mông lung trên trời; chỉ có một người chăm chú nghe. Tôn
giả A Nan đứng quạt hầu Phật, ngạc nhiên về cử chỉ
của năm ông khách nên khi họ vừa ra về, Ngài liền hỏi
Phật:
-
Bạch Thế Tôn, thời pháp của Ngài giảng như sấm rền vang
không trung, mà chỉ có một người chăm chú nghe, còn mấy
người kia đều lơ đảng hết sức.
- Này
A Nan, ông chưa biết rõ về năm người ấy?
- Bạch
Thế Tôn, không.
- Người
đầu tiên đã làm thân rắn 500 đời, thường khoanh tròn nằm
ngủ nên đến kiếp này hắn cũng còn giữ cố tật ấy, chẳng
có lời nào của ta lọt vào tai hắn.
- Bạch
Thế Tôn. Những kiếp ấy xảy ra liên tiếp hay có xen kẽ?
Khi thì hắn mang thân người, lúc mang thân trời.
-
Khi khác làm rắn. Không thể nào kể được những kiếp luân
hồi của hắn. Nhưng có 500 kiếp liên tiếp, hắn làm rắn
và thường ngủ li bì.
Người
dùng tay gõ gõ trên mặt đất, đã 500 đời làm nối kết
tổ trong lòng đất nên kiếp này hắn vẫn còn giữ thói quen
ấy.
Người
cứ lay động nhánh cây, là 500 đời làm khỉ quen leo trèo
nên bây giờ hắn không tài nào ngồi yên một chỗ.
Người
hay nhìn mông lung trên trời, đã từng làm chiêm tinh 500 đời,
nên bây giờ vẫn còn thói quen.
Người
chăm chú nghe lời ta, đã từng đọc tụng kinh Vệ đà 500
đời nên quen chăm chú cần mật như lúc nghe mật chú.
- Nhưng
Bạch Thế Tôn, lời Ngài dạy, con thấy thấm tận xương tủy,
mà lại sao họ lại lơ là?
- A
Nan, bộ ông tưởng giáo lý của ta dễ nghe lắm sao?
- Bạch
Thế Tôn! Chẳng lẽ Ngài cho nó khó nghe?
- Ðúng
thế.
- Tại
sao?
- Này
A Nan, những người này trong vòng luân hồi đã trãi qua nhiều
kiếp chưa - từng nghe đến tên Tam Bảo, cho nên bây giờ họ
không thể thâm nhập giáo pháp. Ra vào cuộc tử sanh vô tận,
họ chỉ quen nghe tiếng nói của súc sanh. Hơn nữa, họ còn
tiêu phí gần hết thì giờ trong việc ăn uống, vui chơi, múa
hát, và không thể nghe theo lời ta giảng.
- Bạch
Thế Tôn! Vì lý do vì họ không thể nghe pháp?
Không
lửa nào mạnh như lửa tham ái, đốt cháy hết mọi loài chẳng
chừa một cọng cỏ. Vào kiếp hỏa, hỏa tai thiêu rụi toàn
thế giới không chừa lại một thứ gì nhưng lửa này cháy
có giới hạn trong một thời gian, trong vòng một thái dương
hệ. Vì thế ta nói rằng không lửa nào bằng lửa tham ái,
không kềm kẹp nào bằng sân hận, không lưới nào như lưới
si mê, và không dòng sông nào bằng sông ái dục. Ngài nói
kệ:
Lửa
nào bằng tham dục?
Ngục
nào bằng tâm sân?
Lưới
nào bằng mê đắm?
Sông
nào bằng ái hà?
(Pháp
cú 251)
Thích
Nữ Như Thủy – Như Ðức
“Chiều
chiều nghe tiếng chuông ngân
Lòng
như xoá hết tham sân hận thù.
Cuộc
đời là kiếp phù du
Sớm
còn, tối mất, mau tu thân mình”.
Tâm
Nhìn
Xưa
có một vị Tỳ kheo, cất một cái am trên một sườn núi
vắng vẻ để tu tập thiền định. Dưới chân núi là một
con sông, có một chuyến đò qua lại. Vị Tỳ kheo muốn hạ
sơn hoá đạo phải đi qua chuyến đò ấy. Kẻ đưa đò là
một lão mẫu tuổi trên 50, còn khoẻ mạnh.
Một
hôm, khách qua sông thấy kẻ đưa đò không phải là lão mẫu
nữa, mà một thiếu nữa rất duyên dáng đẹp đẽ, dung nghi
trang trọng, cử chỉ thanh cao. Hỏi ra mới hay rằng, người
con gái không biết người ở xứ nào, một ngày nọ, tới
xin lão mẫu ở trọ và giúp bà một tay đưa khách qua sông.Thấy
nàng xinh đẹp, lại đoan trang, lão mẫu vô cùng thương mến.
Từ
đó, khách sang sông thăm thầy ngoạn cảnh mỗi ngày mỗi đông.
Có lẽ ai cũng thích qua đò để được ngắm dung nhan giai
nhân và cái vẻ thướt tha mềm mại của tay ngà đưa mái
chèo nhẹ trên mặt nước. Thầy Tỳ kheo thỉnh thoảng có
việc phải hạ sơn, cũng qua đò. Nhưng có điều lạ, khi qua
bên kia sông rồi, khách chỉ trả có một tiền, cô gái đòi
thầy phải trả hai tiền. Vị Tỳ kheo ngạc nhiên hỏi tại
sao lấy tiền đắt hơn. Cô gái cười nói: Mọi người qua
đò chỉ có qua đò thôi. Còn thầy, ngoài việc qua đò, thầy
còn ngắm tôi nữa nên phải trả gấp đôi. Không lý cãi cọ
lôi thôi với một cô gái, vị Tỳ kheo đành phải chịu trả
cho cô hai tiền.
Lần
sau, có việc phải hạ sơn. Vị Tỳ kheo bước xuống đò không
dám nhìn cô mà úp mặt xuống lòng đò. Ðến bến, mọi người
lên trả tiền đò, đến lượt thầy, cô gái bắt trả gấp
tư.Thầy hỏi: Lần trước, cô bảo tôi qua đò nhìn cô phải
trả gấp hai, nay tôi không hề nhìn cô mà chỉ úp mặt xuống
đò, tại sao cô đòi gấp tư? Cô gái nói rất nghiêm trang:
Mấy lần trước, thầy chỉ dùng mắt nhìn nơi mặt và bên
ngoài của tôi. Hôm này thầy dùng tâm và nhìn hết toàn thân
bên trong của tôi nên phải trả gấp tư. Nghe xong, thầy Tỳ
kheo phát lên cười và hình như có sở ngộ. Ngoảnh lại cô
gái đò đã biến đi đâu mất. Từ đó, chỉ còn lão mẫu
đưa khách sang sông . . .
“Tâm
không vọng động, pháp pháp toàn chơn. Tâm là nguồn gốc
của Thiện Ác. Muốn đoạn cội rễ trước phải chế ngự
Tâm. Tâm có định, ý mới sáng suốt, sau mới chứng Ðạo”.
Nắm
Tro Tàn
Ngày
xưa. . . thuở Ðức Phật còn tại thế, một hôm có người
mẹ ôm xác con tìm đến Ðức Phật để khóc lóc và xin cứu
sống cho đức con của bà vừa mới chết.
Người
mẹ đau khổ tin vào thần thông và lòng từ bi vô biên của
Ðức Phật sẽ cứu sống cho con mình.
Ðức
Phật thông cảm nỗi khổ đau của người mẹ mất con và
truyền cho bà đi xin một nắm tro mang về Ngài sẽ cứu. Nắm
tro đó phải ở trong một căn nhà mà 3 đời chưa có người
thân thích chết.
Người
mẹ đau khổ vâng lời và ôm xác con vào xóm để xin tro tàn
theo lời Ðức Phật dạy. Nhưng đi từ trưa đến tối, nhà
này sang nhà khác, bà mẹ đau khổ đều nhận được những
câu trả lời giống nhau: “Gia đình chúng tôi cũng có người
đã chết”. Chưa tuyệt vọng, người mẹ đau khổ vẫn cố
gắng đi thêm vài nhà nữa. Vì sợ nắm tro xin trong một gia
đình có người chết sẽ không linh nghiệm nên bà mẹ thương
con vẫn cố gắng kiếm tìm.
Vẫn
như những lần trước, bà mẹ đau khổ đều nhận được
những cặp mắt e ngại, những cái lắc đầu.
Suy
đi tính lại, đã hơn một buổi và không nhớ rõ là đã vào
mấy gia đình, người mẹ tuyệt vọng lẩm bẩm: “Nhà nào
cũng có thân nhân đã qua đời: thân thích, họ hàng ba đời
biết bao nhiêu, làm sao tránh được cái chết”. Trên đường
trở về tìm Ðức Phật, người mẹ mất con không còn kêu
gào thảm thiết như lúc trước, tuy lòng thương nhớ con vẫn
chưa nguôi. Quỳ trước Ðức Phật, người mẹ mất con kể
rõ chuyến đi vừa rồi và thuật lại những lời từ chối
của chủ nhà.
Nhân
đó, Ðức Phật giảng về sự sanh tử, vô thường của kiếp
người. Có sanh tất có khổ, có sống tất có chết. Người
mẹ mất con đã thấu rõ sanh tử, vô thường, không riêng
gì mình đau khổ vì có thân nhân qua đời, mà hầu hết mọi
người đều nhận chịu định luật hủy diệt đó.
Cuối
cùng, người mẹ đành ôm xác con về chôn cất.
Minh
Hưng
“Chiều
nay một tiếng than buồn diết,
Ðinh
đóng vào săng tiếng trả lời”.
Sự
Tích Chim Tu Hú
Ngày
xưa, có hai nhà Sư Năng Nhẫn và Bất Nhẫn. Hai người cùng
cạo đầu xuất gia từ ngày còn trẻ và cùng tu ở một ngôi
chùa hẻo lánh. Sau một thời gian dài tu luyện thì bỗng một
hôm, Năng Nhẫn được Ðức Phật cho thành chánh quả.
Bất
Nhẫn thấy mình tu hành không kém gì bạn mà không được
hưởng cái may mắn sớm như bạn thì rất buồn bực. Chàng
đến trước toà sen hết sức kêu nài với Ðức Phật, bày
tỏ lòng chân thành tu đạo cùng mọi sự khổ hạnh đã trải
qua của mình. Ðức Phật bảo chàng:
- “Nhà
ngươi chuyên tâm cầu đạo, lại là người trong sạch, thật
đáng khen ngợi. Nhưng tính tình nhà ngươi vẫn như con trâu
chưa thuần, chưa thể đắc đạo được. Vậy hãy cố gắng
tỏ rõ tấm lòng nhẫn nhục trong một cuộc khổ hạnh trường
kỳ, rồi sẽ theo bạn cũng chưa muộn”.
Bất
Nhẫn nghe lời bèn lên núi chọn một gốc cây bắt chước
người xưa ngồi xếp bằng tu theo lối trường định. Chàng
cương quyết ngồi im lặng như thế mãi trong ba năm, dù có
phải thế nào cũng không chịu dậy.
Từ
hôm đó, Bất Nhẫn như một vật vô tri giác. Những con sâu
con kiến bò khắp người chàng. Những con thú cà vào người
chàng. Những con chim ỉa phẹt lên đầu chàng. Chàng đều
không hề bận tâm. Chàng chỉ tâm tâm niệm niệm những nghĩa
lý đạo Phật.
Cứ
như thế, trải qua hai mùa hè và sắp sửa qua một mùa hè
thứ ba là kết liễu cuộc tu luyện. Tự dưng một hôm có
hai vợ chồng con chim chích ở đâu đến làm tổ ngay trong
vành tai của Bất Nhẫn. Chàng cứ để yên, mặc chúng muốn
làm gì thì làm. Chúng đi về tha rác lên đầu, lên mặt. Rồi
chim mái đẻ trứng. Rồi cả một thời kỳ hai vợ chồng
thay phiên nhau ấp. Cho đến lúc những con chim con kêu léo nhéo
suốt ngày. Nhưng Bất Nhẫn không lấy thế làm khó chịu.
Một
hôm, lúc ấy chỉ còn mười ngày nữa thì Bất Nhẫn hết
hạn ngồi dưới gốc cây. Hôm đó, chim vợ đến lượt đi
tìm thức ăn cho con. Suốt cả một buổi chiều nó vẫn không
kiếm được một chút gì. Mãi đến gần tối, lúc lượn
qua một cái hồ, chim vợ mới thấy một con nhện đang giăng
tơ trong một đóa hoa sen. Nhện nhác thấy chim liền ẩn vào
giữa những cánh hoa làm chim mất công tìm mãi. Không ngờ
hoa sen vừa tắt ánh mặt trời đã cúp ngay những cánh của
nó lại, nhốt chim vào trong. Chim cố tìm lối chui ra nhưng
những cánh hoa vây bọc dày quá đành chịu nằm lại đó.
Ở
nhà chim chồng hết bay đi kiếm vợ lại trở về. Ðàn con
đói mồi nháo nhác suốt đêm. Mãi đến sáng mai, chờ lúc
hoa nở, chim vợ mới thoát được bay về tổ. Một cuộc cải
lộn nổ ra bên tai Bất Nhẫn. Ghen vợ, chim chồng nhiếc vợ
hết lời, nhưng chim vợ hết sức bày tỏ nỗi lòng trinh bạch
của mình. Cuộc đấu khẩu kéo dài suốt cả một buổi sang
và có cơ chưa chấm dứt. Bất Nhẫn rất khó chịu. Thêm vào
đó, đàn chim con khóc đói chiu chít điếc cả tai. Nhè một
lúc vợ chồng chim tiếp tục cuộc cải vã. Bất Nhẫn bỏ
tay lên tai giật cái tổ chim vất mạnh xuống đất và nói:
“Ðồ khốn! Chỉ có mỗi một chuyện đó mà chúng mày làm
điếc tai ông từ sáng đến giờ!”.
Thế
là công sức tu luyện của Bất Nhẫn sắp hoàn thành thốt
nhiên vứt bỏ nó trong chốc lát.
Nhưng
Bất Nhẫn vẫn không nản chí. Trước tòa sen, chàng hứa sẽ
kiếm cách tỏ rõ sự hối lỗi của mình. Chàng tìm đến
một khúc sông nước chảy xiết, tình nguyện làm người chèo
đò đưa khách bộ hành quá giang mà không lấy tiền. Chàng
quyết chở cho đến người thứ một trăm mới chịu nghỉ
tay.
Lần
ấy Bất Nhẫn tỏ rõ một người rất nhẫn nại. Tuy bến
sông thường vắng khách, chàng vẫn không chịu bỏ dở công
việc. Luôn trong hai năm chàng chở được chín mươi tám người
mà không xảy ra việc gì.
Một
hôm vào khoảng giữa thu, nước sông tự nhiên tràn về chảy
xiết hơn mọi ngày. Trời bỗng đổ trận mưa lớn, giữa
lúc đó có một người đàn bà dắt một em bé đòi qua sông.
Hắn có vẻ là vợ một viên quan sở tại, chưa bước xuống
thuyền đã dọa Bất Nhẫn: -Chú nhớ chèo cho vững nghe không.
Che mui cho kín. Nếu để chúng ta mà ướt thì liệu chừng
kẻo roi quất đít đó.
Nghe
nói thế Bất Nhẫn bừng bừng nổi giận, nhưng chàng nín
được và giữ vẻ mặt tươi cười đáp:
- Bà
và cậu đừng sợ gì cả. tôi xin cố sức.
Rồi
chàng vận dụng hết tài nghệ để đưa hai mẹ con nhà nọ
qua bên kia sông được vô sự. Lúc sắp lên bờ, người đàn
bà bỗng kêu lên:
- Ta
quên khuất đi mất. Có một gói hành lý bỏ quên ở quán
bên kia. Vậy nhà ngươi chịu khó chèo sang lấy hộ.
Bất
Nhẫn nín lặng cắm cổ chèo qua sông giữa sóng gió. Mãi đến
gần tối, chật vật lắm chàng mới đưa được gói hành
lý sang cho người đàn bà. Nhưng khi soát lại gói, người
đàn bà nọ lại kêu lên:
-
Thôi rồi! Còn một đôi giày của thằng bé bỏ gầm giường.
Thế nào ngươi cũng phải gắng lấy cho ta một lần nữa.
Người
đàn bà nói chưa dứt lời thì Bất Nhẫn đã giơ tay chỉ
vào mặt:
- Cút
đi đồ chó ghẻ! Ta có phải sinh ra để hầu hạ mẹ con nhà
mày mãi đâu.
Nhưng
người đàn bà ấy vốn là Ðức Phật Quan Âm hiện hình xuống
thử lòng người đệ tử khổ tu đó, bấy giờ lại hiện
nguyên hình và cất tiếng bảo chàng:
-
Nhà ngươi vẫn chưa thực tâm nhẫn nhục, như thế thì tu
gì mà tu. Có tu hú!
Bất
Nhẫn thẹn quá đành cúi đầu nhận lỗi.
Phật
Bà Quan Âm sau đó bắt Bất Nhẫn hóa thành một giống chim
mà người đời sau quen gọi là chim tu hú. Họ bảo thứ chim
đó vào khoảng cuối hè sang thu hay xuất hiện, đúng vào lúc
xảy ra câu chuyện giữa Bất Nhẫn với Phật Bà.
Nguyễn
Ðổng Chi
“Sân
si nghiệp chướng không chừa
Bo
bo mà giữ tương dưa làm gì!”