Phần
mười
Nụ
cười em bé
Gương
mặt hoa mè
Ðoạn
đường phải đến
Người
dốt giác ngộ
Một
chút lửa địa ngục
Nụ
cười em bé
Xưa
có một vị Sa di lớn tuổi, chuyên tu khổ hạnh, chứng quả
A La Hán. Người ở mãi trong núi sâu, không giao tiếp với
ai, quyết chí tu luyện các phép mầu và điều phục mọi phiền
não để cầu quả vị Vô Thượng Chánh Giác.
Một
làng nọ, sát chân núi, có một em bé mới lên bảy tuổi,
mặt mày sáng sủa, tư chất thông minh trông có vẻ khác thường
lắm. Mặt dù tuổi còn nhỏ, nhưng em rất mến chuộng Phật
Pháp, vì vậy mà em đã sớm gỡ bàn tay âu yếm của người
mẹ hiền tìm thầy học đạo.
Một
hôm, trên đường tìm thầy vất vả trên núi sâu, em gặp
một vị A La Hán đương ngồi tham thiền trên tảng đá lớn.
Em mừng rỡ quá, tâm hồn bừng sáng lên, em liền đảnh lễ
vị A La Hán xin làm đệ tử hôm sớm với thầy học đạo.
Thấy em tướng mạo đẹp đẽ phương phi, có chí hướng xuất
trần, vị A La Hán thâu nhận làm đệ tử và trong tâm tưởng
rằng em bé mai sau sẽ nối sự nghiệp mình để duy trì Phật
Pháp.
Trải
qua một năm trường học tập, tu dưỡng em bé ấy không lúc
nào lãng xao mà mỗi lúc mỗi tinh tấn thêm nữa. Vì vậy mà
em sớm được thần thông tự tại, mắt thấy thấu suốt
các quốc độ nhiều như vi trần, tai nghe hết mọi thứ tiếng
khắp nơi, tùy theo ý mình có thể thay đổi hình dáng bay khắp
trong không gian vô biên tự tại. Ðồng thời em có thể biết
biết hết các cuộc đời quá khứ của mình, rõ thấu nguồn
gốc chân giả trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai.
Một
hôm em bé ấy ngồi tham thiền, thấy cuộc đời quá khứ của
mình nên mỉm cười, trông có vẻ nên thơ lắm.
Thấy
em bé cười rất dễ thương, vị A La Hán hỏi:
- Vì
sao đương khi tham thiền con lại cười thế?
- Bạch
Thầy. Con cười với con, đời trước cũng như đời này làm
một người con để lại cho năm người mẹ ngày đêm khóc
lóc, buồn rầu, tủi phận tình thương con không một chút
nguôi phai. Con là đứa con làm cho năm người mẹ đau khổ,
thân thể hao mòn, mất hết hạnh phúc. Bây giờ năm người
mẹ ấy vẫn còn và còn nhớ con, khóc vì con quên ăn bỏ ngủ.
Thân con như điện chớp, như sương mai, năm bà mẹ con như
người nắm hạt châu trong tay, không khổ mà vẫn cứ đi tìm
cái khổ. Con ở trong thiền định nhìn lui về quá khứ thấy
cuộc đời như thế nên con mỉm cười trước nỗi rắc rối
khó tả ấy.
- Người
mẹ thứ nhất ấy khi sanh con ra, thì bên cạnh nhà con cũng
có người sanh ra đồng thời với con. Con ra đời được ít
ngày, vì nhân duyên hết nên con đi qua đời sống khác. Mẹ
con thấy đứa bé bên cạnh học đi, học nói, học cười
liền liên tưởng đến con, buồn rầu và than thở:
“Nếu
như con tôi còn thì bây giờ cũng đã biết học đi, học nói,
học cười rồi. Trời ơi, sao con tôi bỏ tôi đi đâu sớm
vậy”.
Mẹ
con ôm bụng nghẹn ngào không nói nên lời, hai hàng lệ lăn
tròn xuống khóe miệng.
Mẹ
đứa bé bên cạnh tươi vui ngắm nhìn đứa con vừa cười
vừa đi chập chững, còn mẹ con đau lòng khóc nức nở.
- Khi
làm con người mẹ thứ hai, con lại từ giã mẹ con rất sớm.
Mẹ con thấy đứa bé ôm vú mẹ vừa bú vừa mân mê rồi
say ngủ say sưa trong lòng mẹ, bà liền xúc động nhớ đến
con rồi khóc.
“Con
ơi, mẹ nhớ con quá. Sao con không ở lại bú sữa mẹ, chuyện
vãn với mẹ, để cho mẹ bồng ru con ngủ. Con sao không nhớ
mẹ mang nặng đẻ đau mà con vội lìa mẹ để cho mẹ nhớ
con đến nỗi hao mòn tàn tạ”.
- Khi
làm con người thứ ba, năm mười tuổi, con từ biệt mẹ con,
chuyển qua đời sống khác. Thường trong bữa ăn, mẹ con khóc
lóc và than rằng :
“Tội
nghiệp cho đứa con tôi, giờ phút này, không cùng ngồi ăn
với mẹ như trước. Nào cơm ngon, nào thức ăn quý, một mình
mẹ cô độc như thế này sao mẹ nuốt cho vô, con ơi! Gia tài
sự nghiệp lâu nay mẹ dành dụm cho con, sao con không ở lại
với mẹ hưởng lấy miếng ngon, con lại ra nằm ngoài gò hoang
vắng.”
Nói
xong mẹ con lăn ra khóc ròng rã.
- Khi
làm con người mẹ thứ tư, tuổi chưa thành niên, con lại
sanh ra trong đời này. Bấy giờ bên cạnh nhà con có một người
bạn tuổi đã trưởng thành đang làm lễ rước dâu linh đình
nhộn nhịp. Mẹ con thấy thế, ra vào than thở:
“Năm
nay mà con mình còn thì cũng đã có cháu sum vầy, mình đây
cũng hớn hở vui sướng như ai, có đâu đến nỗi cô đơn,
tương lai hiu quạnh!”.
Mẹ
con buồn bực, khóc than và oán giận cho kiếp số mong manh
bể dâu.
- Trong
đời này, mẹ con nuôi con được bảy năm, con lại từ biệt
quê hương, cắt tình âu yếm của mẹ con, may mắn được
gặp thầy học đạo. Hơn một năm tu dưỡng con đã được
thần thông tự tại, biết được bao nhiêu con đường gai
góc đã qua và nhìn thấy sự cao đẹp huy hoàng suốt đời
vị lai không bến hạn. Mẹ con ở nhà nhớ nhung, ngày đêm
luôn luôn than vãn.
“Con
ơi! Con tìm thầy học đạo ở đâu mà mẹ không nghe tin tức
chi đến con cả. Con còn bé quá, rủi ro ai biết, đói lạnh
ai hay, lỡ có sơ suất điều gì ai đỡ lời chịu tiếng.
Ngày đêm nghĩ đến con mẹ trằn trọc xót xa và đau lòng
cho mẹ quá. Mẹ van xin con về để sống có mẹ có con đầm
ấm, ngày mai khôn lớn, con đủ lông đủ cánh con hãy tìm
thầy học đạo mẹ chả ân hận gì. Nhờ ơn trên xui khiến
cho con tôi sực nhớ đến mẹ để trở về núp dưới bóng
mẹ hiền che chở, tội nghiệp!”
Trải
qua mấy lần tử biệt sanh ly, con đã để lại cho năm người
mẹ con một mối thương tâm thống thiết. Giá như thời gian
và không gian rút ngắn lại trong một lúc một nơi, con sẽ
lần lượt trở về với năm người mẹ con. Nhưng con e việc
đi lại đối với con vẫn tự tại an nhiên không mộtchút
thêm bớt. Song dù có trở lại, những người mẹ ấy có biết
con là ai, rồi chớp nhoáng đời qua càng làm cho người mẹ
ấy thêm âu sầu buồn thảm hơn nữa. Năm người mẹ ấy
vì tình thương ràng buộc, ngày đêm chỉ cuộc hạn trong vòng
nhớ thương chật hẹp, nhưng con vẫn là con, con nào có đắm
say lưu luyến trong vòng sanh tử trầm luân. Năm người mẹ
ấy, người nào cũng tưởng con sống với cuộc đời ba, bốn,
năm năm đâu có biết đời con bao la, sống chan hòa trong muôn
nghìn sự vật. Giá như con chỉ sống trong tình lưu luyến
ấy thì đời con còn vất vưởng mãi trong vòng tham ái thế
gian, có đâu được vươn lên một cuộc đời cao rộng, an
vui và giải thoát.
- Bạch
Thầy, con xem thấy thế gian phàm phu không nhận chân sự thành
hoại, hợp tan, hễ được thì reo mừng, mất thì đâm oán
trách, nên cứ mãi tao ra vô số ác nghiệp rồi suốt đời
suốt kiếp bị nghiệp ấy chi phối. Mọi chúng sanh sở dĩ
chịu lấy bao nhiêu khổ báo cũng đều bắt nguồn từ tham
ái ấy mà gây ra. Nếu mọi người ai cũng gạt ra ngoài tham
ái triền phược, mở mắt vươn lên các đấng Giác Ngộ tối
cao để bắt chước làm theo mọi công hạnh tốt đẹp của
Người thì cuộc đời biết bao sung sướng.
- Thầy
là cây đuốc đưa đường cho con làm cho đời con được nhìn
xa thấy rộng và giao cảm được với các đấng Như Lai trong
mười phương tam thế. Hôm nay con xin tạm biệt cùng Thầy
để đem ánh sáng của Thầy gieo rắc mọi chân trời đen tối.
Em
bé vì Thầy thưa xong liền bay thẳng lên không bao la,
lược khuất trong bầu trời thanh thanh huyền diệu.
Minh
Huấn
“Ta
lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà
không gặp kẻ làm nhà. Ðau khổ thay! Kiếp sống cứ tái diễn
mãi! Hỡi kẻ làm nhà! Nay ta đã gặp được ngươi rồi. Ngươi
không được làm nhà nữa! Bao nhiêu rui mè của ngươi đều
gãy cả rồi, kèo cột của ngươi đã tan vụn cả rồi. Trí
ta đã đạt đến vô thượng Niết bàn, bao nhiêu dục vọng
đều dứt sạch cả”.
__________
(Kẻ
làm nhà: nguyên luân hồi, ái dục. Nhà: thân thể. Rui mè:
các thứ dục khác. Kèo cột: vô minh).
Gương
mặt hoa mè
Thuở
xưa có một vị tiểu thư xinh đẹp, con quan tri huyện. Nhân
một chuyến lễ chùa, nhan sắc mặn mà của nàng, làm động
tâm một nhà sư trẻ tuổi.
Vừa
trông thấy cô gái, trống ngực sư đã nện inh ỏi. Sư kêu
gọi Ðức Bồ Tát Quán Thế Âm đến líu cả lưỡi mà hình
bóng của giai nhân vẫn lảng vãng quanh Sư. Nghĩ mình đã xuất
gia đầu Phật, nhất định cắt đức đường tơ mà nghiệp
chướng tiền khiên quá sâu nặng. Sư đổi pháp môn tu, nhờ
một chàng thư sinh có đôi tay tài hoa, vẽ dùm hai bức tượng:
Một bức là dung nhan chim sa cá lặn của giai nhân, còn bức
kia thì tô thêm một mặt hoa những nốt đậu mùa để Sư
tập quán “bất tịnh”. Chàng thư sinh vui vẻ nhận lời
trợ giúp cho nhà Sư đáng thương tha thiết cầu đạo này.
Ðể bức họa linh động, chàng tìm cách gặp gỡ giai nhân.
Ngờ đâu thần ái tình lại bắn luôn mũi tên còn lại, chàng
đâm ra yêu thiếu nữ mê mệt. Và sau khi hoàn thành hai bức
tượng, nhờ nhà Sư chúc phúc cho mình, chàng trở về mượn
người đánh tiếng xin cầu hôn người đẹp. Sau bao nhiêu
lễ lộc rắc rối, chàng thư sinh được giai nhân nhận lời.
Hôn lễ được dự định sẽ cử hành vào mùa đông sắp
tới. Mọi chuyện tưởng đâu sẽ xuôi chèo mát mái thì…thình
lình có dịch đậu mùa bò đến.
Giai
nhân vì chưa quá tuổi vị thành niên, nên đã vướng phải
bệnh này. Và gương mặt đẹp như ngọc của nàng bỗng trở
nên giống hệt bức tranh thứ nhì mà nhà Sư đang quán tưởng.
Ðến
cuối đông, chàng thư sinh thở dài cưới cô vợ xấu xí vì
một lời đã thốt ra thì dù đến bốn ngựa cũng không theo
nổi.
Nghĩ
rằng dung nhan của vợ mình từ đây sẽ không gây rắt rối
cho ai nhất là chư Sư, nên sau tuần trăng mật, chàng đưa
vợ đến lễ chùa và luôn tiện thăm nhà Sư si tình dạo nọ.
Nhác
trông thấy “người xưa” nhà Sư sững người kinh ngạc
và sau đó Sư vui mừng khôn tả.
Ðêm
hôm ấy nhà Sư lúi húi dựng một giàn hỏa và viết một
phong thư gởi lại cho Hòa thượng trụ trì báo tin rằng Sư
đã đắc đạo nhờ phép quán “bất tịnh”, rằng mối tình
si, sự vô minh của Sư đã được giải tỏa… bằng cớ là
khi chạm mặt giai nhân, Sư chỉ thấy dung nhan của nàng qua
bức tranh mặt rỗ của Sư.Và đó là một bằng chứng hiển
nhiên để Sư tin rằng khi bước lên giàn hỏa Sư sẽ vào
Niết bàn lập tức. Bức thư được gởi đi trước khi giàn
hỏa được nhen nên sau đó, Hòa thượng trụ trì bắt Sư
khuân hết số củi dựng giàn hỏa vào nhà trù rồi sắm hành
lý cho Sư lên đường tham học…
“Sự
tham lam nó làm cho con người chìm đắm mãi trong biển luân
hồi. Mà nhứt là cái tham về sắc dục nó đày đọa và vùi
lấp con người một cách ghê gởm”.
Ðoạn
đường phải đến
Lúc
Phật ngụ tại Xá vệ, có một thương gia chở hàng hóa từ
thành Ba La Nại đến bán. Vừa đến thành phố, trời đã
quá nhá nhem tối, ông thương gia phải dừng xe cạnh một dòng
sông, nghĩ bụng: “Ngày mai ta sẽ qua sông”.
Ðêm
hôm ấy, một cơn dông thổi qua thành phố mưa như trút. Suốt
bảy ngày đêm vẫn không ngớt, nước sông dâng cao, đường
sá lấy lội, dân chúng đều tìm chỗ trú mưa nên khách thương
không có dịp bán hàng. Ông tự nghĩ: “Ta đã đi một đoạn
đường khá dài, nếu phải đổi lộ trình chắc là không
kịp nữa. Thôi! Ta đành ở đây hết mùa mưa, mùa đông, và
mùa hạ để bán buôn vậy!”.
Lúc
đó Ðức Thế Tôn đi khất thực trên đường phố, ngang qua
đoàn xe buôn, Ngài mỉm cười. Tôn giả A Nan hỏi lý do, Ngài
đáp:
- A
Nan, ông có thấy vị thương gia kia không?
- Bạch
Thế Tôn, con có thấy.
- Ðời
sống của ông sắp hết, vậy mà ông ta còn dự định ngụ
tại đây hết mùa này sang mùa khác để bán hàng.
- Bạch
Thế Tôn, ông ấy sắp chết sao?
- Này
A Nan, chỉ bảy ngày nữa, ông ta sẽ rơi vào bụng cá.
Và
Ngài nói kệ:
Hãy
tinh cần nỗ lực
Làm
những gì cần làm trong hôm nay
Ai
biết được ngày mai sẽ chết?
Chúng
ta đều bất lực trước tử thần
Hạnh
phúc thay cho kẻ nào sống
Từng
ngày và đêm không lo lắng
Dù
chỉ là một đêm
Ðó
là người khôn ngoan thanh tịnh.
- Bạch
Thế Tôn, như vậy con sẽ báo tin cho ông ta biết.
- Ðược,
ông cứ đi.
Tôn
giả đến trại vị thương gia khất thực. Ông cung kính cúng
dường thức ăn cho Ngài. Tôn giả hỏi:
- Ông
định ở đâu bao lâu?
- Bạch
tôn giả, con từ phương xa đến, nếu trở về thì quá tốn
kém nên con dự định ở lại đây suốt năm, bao giờ bán
hàng xong mới đi.
- Này
cư sĩ, ông nên biết rằng đời người thật ngắn ngủi,
không biết sẽ chết vào lúc nào.
- Sao?
Bộ con sắp chết?
- Phải
đó, cư sĩ. Ông chỉ còn bảy ngày nữa thôi.
Quá
xúc động, vị thương gia mời Phật đến cúng dường suốt
bảy ngày liên tiếp. Ðến ngày cuối, ông xin Phật hồi hướng
phước báo cho ông. Phật dạy:
- Này
cư sĩ, người khôn ngoan không bao giờ nghĩ rằng ta sẽ
ở đây suốt mùa mưa, qua đông sang hạ. Ta sẽ làm việc này
việc nọ. Hãy nghĩ đến cái chết của mình.
Ngài
nói kệ:
Ở
đây ta an trú suốt
Mùa
mưa, mùa đông, mùa hạ.
Người
ngu tưởng thế,
Không
biết rằng mình sẽ chết”.
(Pháp
Cú 236)
Nghe
xong vị thương gia chứng quả Dự Lưu, chúng hội cũng được
lợi ích.
Thương
gia tiễn Phật đi một quãng đường mới trở lại. Ông cảm
thấy nhức đầu và đi nằm. Chẳng bao lâu ông chết, thác
sinh lên cõi trời Ðâu Suất.
Thích
Nữ Như Thủy- Như Ðức
“Ðời
sống bị tổn giảm theo từng giây phút, trong từng niệm,
không được tăng trưởng, cũng như dòng nước dốc không
thể đứng một chỗ, cũng như hạt sương mai thế không đọng
lâu, cũng như người mù dẫn đến pháp trường, mỗi bước
là gần cõi chết”.
Người
dốt giác ngộ
Tôn
giả Châu Lợi Bàn Ðà Già là một đệ tử của Phật Thích
Ca Mâu Ni, người kém trí tuệ nhất. Tôn giả cũng có tên
là Bàn Ðặc được sanh trong một gia đình nghèo khó, mộc
mạc và sự cách biệt của cha mẹ. Cha Tôn giả là người
vất vả, thiếu học, cuộc đời chỉ biết làm tôi tớ, còn
mẹ lại là con gái của vị trưởng giả giàu có, học rộng
hiểu xa. Hơn nữa bà còn nhanh nhẹ trước những việc khó
khăn. Thế mà cuộc hôn nhân của ông bà vẫn được thành
tựu tốt đẹp, âu cũng là duyên kiếp.
Cuộc
sống êm ả trôi qua, đôi vợ chồng cách biệt này vui sướng
khi sắp sửa làm mẹ. Bà chuẩn bị về quê để chờ ngày
khai hoa nở nhụy. Trên đường về lòng bà tràn ngập niềm
vui, miên man nghĩ đến đứa con xinh xắn sắp chào đời mà
quên đi quãng đường xa. Chẳng mấy chốc đã gần đến nơi
chợt bà thấy đau nhói, mỗi lúc càng nhiều. Ðến lúc không
chụi nổi nữa, bà phải dừng lại bên vệ đường, tìm vào
nơi kín đáo, rồi hạ sanh một bé trai trắng trẻo, mập mạp,
ấy chính là Bàn Ðặc. Thương thay cho kẻ sơ sinh phải vương
mùi khổ lụy từ khi lọt lòng mẹ.
Thuở
nhỏ Bàn Ðặc thật dại khờ, vả lại nhà nghèo nên không
được đi học, vì vậy mà càng thêm dốt nát. Sau nhờ quả
phước báo may mắn được Ðức Phật độ cho xuất gia tu
hành.
Ðức dạy ông bài kệ chỉ bốn câu nhưng vì căn tánh ngu
độn mà ông học mãi không thông. Bấy giờ Ðứa Phật dung
phương tiện thực tế giáo hóa ông, chờ khi Châu Lợi Bàn
Ðặc cầm chổi quét nhà Ðức Phật liền chỉ ngay cây chổi
mà dạy rằng:
- Này
Bàn Ðặc! Khi nào cầm đến cây chổi quét nhà thì con
nhớ đọc hai tiếng: “Chổi Quét”. Nếu lòng con giữ vững
được chánh niệm hai tiếng “Chổi Quét” thì con quyết
sẽ chứng Thánh đạo, giải thoát sanh tử luân hồi.
Lúc
đầu, chỉ bấy nhiêu đó mà Bàn Ðặc cũng không nhớ nổi,
hễ nhớ tiếng “Chổi” thì quên tiếng “Quét”, mà nhớ
tiếng “Quét” lại quên tiếng “Chổi”. Thật con
người của ông không có một chút trí nhớ nào hết, đến
đỗi ai gặp ông cũng đều cười chê, đùa cợt.
Một
hôm Vương tử Kỳ Vực đến cầu Ðức Phật và hàng đệ
tử vào cung vua để thọ sự cúng dường, nhưng không mời
Bàn Ðặc tham dự. Lúc Ðức Thế Tôn cùng hàng đệ tử đến
cung thì Vương tử Kỳ Vực sẳn sàng bưng thau nước trong
dâng lên Ðức Phật để rửa chân (theo phong tục Ấn Ðộ,
đó là phép lịch sự của chủ đối với khách), nhưng Ngài
chẳng tiếp lấy. Thấy vậy, Vương tử ngạc nhiên thưa hỏi:
- Kính
lạy Ðức Thế Tôn! Con kính dâng thau nước trong này để
Ngài rửa chân sao Ngài không nhận?
- Này
Vương tử! Trong hàng để tử của ta đến nhận sự cúng
dường có thầy Tỳ kheo Bàn Ðặc ở đó không?
- Kính
lạy Ðức Thế Tôn! Thầy Tỳ kheo Bàn Ðặc chỉ có hai tiếng
“Chổi Quét” còn không nhớ nổi, so lại không sánh bằng
kẻ chăn dê nên con không có mời đến.
- Này
Vương tử! Không phải vậy, Phật pháp phải là bình đẳng,
không phân giai cấp cao hay thấp, cũng chẳng có kẻ sang người
hèn, tất cả đều như nhau. Nếu Vương tử không mời Thầy
Tỳ kheo Bàn Ðặc đến đây thì ta không nhận lấy thau nước
này.
Biết
mình lầm lạc, làm trái ý Ðức Phật, Vương tử vội phái
quan đại thần đến thỉnh Tôn giả Bàn Ðặc.
Khi
tới nơi, Bàn Ðặc vào lãnh thọ sự cúng dường. Ðức Phật
bảo Tôn giả A Nan gắp thức ăn để vào bát Bàn Ðặc. Thấy
vậy Bàn Ðặc lấy làm mừng rỡ liền đứng dậy một lúc
lâu, đúng ra việc này ông phải chờ lệnh của Ðức Phật,
bởi vì đem so thì Tôn giả A Nan xuất gia sớm hơn Tôn giả
Bàn Ðặc.
Tôn
giả Bàn Ðặc ngồi cách xa Ðức Phật nên việc đem bình
bát đến bên Ðức Phật khi ăn xong không phải là chuyện
dễ, nhưng bình bát của Tôn giả Bàn Ðặc vẫn được đưa
đến đây trước sự ngạc nhiên của mọi người. Ðó là
nhờ sức oai thần của Ðức Phật mà đại chúng không được
biết.
Thấy
vậy, Vương tử Kỳ Vực vội chắp tay đến quỳ trước Tôn
giả Bàn Ðặc mà thành tâm sám hối.
Thuở
trước Tôn giả Bàn Ðặc vốn ngu dốt, có thể là tâm ông
không bền vững. Mặc dù bị người đời chê cười, biếm
nhã, nhưng ông vẫn không thối chí, nản lòng, mà quyết chuyên
đọc hai tiếng “Chổi Quét” suốt sáu năm dài, để rồi
ông được thức tỉnh, tâm không còn rối loạn, đi đến
Giác Ngộ và chứng Thánh quả. Từ đó về sau tâm trí phát
sanh rộng lớn, ông thấu hiểu nhiều đạo lý mầu nhiệm,
lãnh hội nhiều pháp ngữ sâu xa của Ðức Phật.
Những
người trước kia khinh thường, chê biếm ông sẽ thay ông
tiêu tai nạn. Bấy giờ không còn một ai dám cười chê ông
nữa mà lại càng kính trọng hơn.
Có
một lần Tôn giả Bàn Ðặc cùng 499 vị Ðại để tử
theo Ðức Phật đến cung Long Vương A Nậu Ðạt nhận sự
cúng dường. Khi đến bờ ao A Nậu Ðạt, Ðức Phật bảo
hàng đệ tử:
- Này
các thầyTỳ kheo! Mỗi vị hãy múc lấy nước tám công đức
ở trong ao mà uống. Sau đó các vị có thể biết được việc
đời trước của mình.
Khi
hàng đệ tử thực hành xong, Ðức Phật tiếp:
Bây
giờ các vị hãy thuật lại kiếp đời trước của chính
mình nghe ra sao.
- Vâng
lời Phật dạy, Bàn Ðặc liền tự thuật:
- Kính
lạy Ðức Thế Tôn! Thưa toàn thể đại chúng: Ðời trước
con là một người nuôi heo. Một hôm con lùa heo đến chợ
bán. Ði được nửa đường thì bị một con sông cản lối,
vì muốn đem heo đến chợ sớm nên con không thể dừng lại
đó. Con giải quyết bằng cách cột chân heo lại và lấy vải
buộc mỏ chúng để khỏi la ồn. Xong xuôi, con cầm dây từ
từ kéo bầy heo qua sông. Khi con sang được bờ bên kia thì
bầy heo bị ngộp thở mà chết cả. Vốn liếng con bị tiêu
tan từ đó. Cuộc sống của con trở nên khổ sở, lắm lúc
như điên dại, thường đứng ở bờ sông ngơ ngác không tìm
ra lẽ sống. May gặp được một vị cao Tăng rộng lòng thương
xót, Ngài khuyên con xuất gia tu học. Sau khi bỏ thân ấy con
được sanh lên cõi Trời. Lúc hưởng hết phước ở cõi Trời
rồi mới trở xuống nhân gian làm người.
Do
vì kiếp trước buộc mỏ heo kéo sang sông làm tổn hại rất
nhiều sanh mạng nên kiếp này con mắc quả báo ngu dốt. May
nhờ kiếp trước có nhân duyên xuất gia nên đời này con
được gặp Phật độ, chứng quả vị A La Hán.
Minh
Tâm
“Người
tâm không an định, không hiểu biết chánh pháp, không tín
tâm kiên cố, thì không thể thành tựu được trí tuệ cao
siêu”.
Một
chút lửa địa ngục
Thuở
xưa, khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, lúc nào Ngài
cũng đem giáo pháp nhiệm mầu ban bố cho chúng sanh từ hàng
vua chúa quan quyền cho đến lê thứ đều thấm nhuần Pháp
Bảo. Do đó, khi bóng Ngài xuất hiện nơi đâu là đem cảnh
thái bình an lạc đến đấy.
Ngài
thường ngự nơi Kỳ Viên tinh xá, một tòng lâm vĩ đại của
Trưởng giả Cấp Cô Ðộc, vùng vườn cây cổ thụ xanh tươi
củaThái tử Kỳ Ðà.
Chung
quang Ngài lúc nào cũng có đại chúng Tỳ kheo Tăng và các
vị Ðại đệ tử uy danh lừng lẫy. Nổi bật nhất là
Ðại Mục Kiền Liên thần thông biến hóa vô cùng, có thể
di sơn đảo hải hoặc ngự lên cung trời, bay xuống địa
ngục dễ dàng như trở bàn tay.
Một
hôm Ðại đức Mục Kiền Liên, muốn vào cõi địa ngục để
xem chúng sanh thọ hình khổ sở đến mức nào.
Sau
khi đảnh lễ từ giã đấng Thiên Nhơn Sư (Phật) xong. Ngài
liền dùng thần thông bay thẳng vào cõi địa ngục. Ngài chứng
kiến những cảnh tội nhân rên siết rất đau đớn khổ sở
từ địa ngục nhỏ cho đến địa ngục lớn như A tỳ.
Khi
Ðại đức ngự đến đâu, do oai lực của Ngài, các tội
nhân được giảm tội và dừng hình phạt trong giờ phút ấy.
Những đống lửa vĩ đại đang cháy ngùn ngụt bỗng dưng
khô cạn. Một hoa sen lớn bằng bánh xe hiện ra Ðại đức
Mục Kiền Liên đến an tọa trên đóa sen tươi ấy.
Các
tội nhân vô cùng mừng rỡ khi nhận thấy hình ảnh uy nghi
của Ðại đức Mục Kiền Liên, tất cả chạy đến vây quanh
Ngài quỳ xuống thành kính đảnh lễ. Một tội nhân bạch
hỏi:
- Bạch
Ngài, Ngài từ đâu đến đây?
Ðại
đức Mục Kiền Liên đáp:
- Bần
tăng từ thế giới loài người đến đây.
Các
tội nhân khi nghe Ðại đức đáp như thế, lấy làm mừng
rỡ, mỗi người kể trường hợp khổ đau của mình, xin Ðại
đức hoan hỷ báo cho thân bằng quyến thuộc của họ được
biết họ đang ở trong địa ngục, khổ sở lắm, rất thương
nhớ quyến thuộc. Xin thân bằng quyến thuộc hãy vui lòng
bố thí, làm phước, trai Tăng cúng dường đến chư Tăng rồi
hồi hướng phước báu đến họ.
Ðại
đức Mục Kiền Liên hoan hỷ nhận lời, hứa sẽ nhắn lại
cho các thân nhân từng trường hợp một. Sau đó Ngài dùng
thần thông thử lấy một chút lửa địa ngục bằng hạt
cải gói trong chéo y của Ngài rồi Ngài trở về thế gian.
Khi
trở về cõi ta bà, Ðại đức Mục Kiền Liên thông báo ngay
cho thân bằng quyến thuộc của các tội nhân. Hay tin dữ,
các thân bằng quyến thuộc than khóc vô cùng thảm thiết.
Khi sự đau buồn lắng dịu một phần nào, họ liền tổ chức
một buổi lễ trai Tăng rất long trọng để hồi hướng phước
báu cho những thân nhân đã quá vãng, dưới sự chứng minh
tối thượng của Ðức Phật và Ðại đức Mục Kiền Liên
cùng với chư Tăng.
Do
nhờ oai lực chú nguyện của Ðức Phật và chư Tăng, những
tội nhân được thọ lãnh phần phước báu, được thoát
khổ cùng được thọ sanh nơi tiên cảnh.
Sau
đó Ðại đức Mục Kiền Liên, dùng thần thông bay lên cõi
Trời, với ý định quán sát sự an vui và hỷ lạc của chư
Thiên ở cõi Trời.
Ngài
ung dung thưởng ngoạn cảnh vui tươi của cung trời Ðao Lợi.
Lúc ấy chư Thiên trong sáu cõi Trời đang sống vui hạnh phúc.
Bỗng dưng họ cảm thấy nóng bức khóc chịu phi thường,
cất tiếng hết vang rần vì bị sức nóng của lửa địa
ngục toát ra do Ðại đức Mục Kiền Liên mang theo trong chéo
y của Ngài.
Ðức
Thiên Vương thấu hiểu nguyên nhân khiến cho chư thiên nóng
bức, khó chịu đến như thế liền đến ra dấu cho Ðại
đức Mục Kiền Liên hiểu tình trạng đã xảy ra.
Ðại
đức Mục Kiền Liên thầm nhủ rằng: “Chư Thiên lại nóng
bức khó chịu, náo loạn thiên cung thế này chỉ do một chút
xíu lửa từ địa ngục ta mang đến đây. Bây giờ phải ném
lửa nầy vào đâu? Nếu ta ném xuống mặt đất thì mọi vật
trên thế gian sẽ bị thiêu hủy hết. Nếu ta ném xuống biển
cả thì biển sẽ cạn nước, còn nếu ném vào không gian sẽ
bị hạn hán không mưa 12 năm. Như thế thì hãy mau mau trả
lửa nầy lại xuống địa ngục.
Ðại
đức Mục Kiền Liên lại bay xuống địa ngục một lần nữa,
để đem chút lửa nguy hại ấy trả về địa ngục như cũ.
Xong
rồi Ðại đức Mục Kiền Liên bay trở lại trần gian, về
Kỳ Viên tịnh xá đảnh lễ Ðức Thế Tôn và tường trình
lại cho Ðức Phật rõ về chuyện chuyến du hành vào địa
ngục và cõi Trời của Ngài.
Nhân
cơ hội ấy, Ðức Phật liền dùng đề tài trên để ban bố
một thời pháp cho đại chúng nghe, có câu kệ ngôn như
sau:
“Hai
trạng thái là: Một là Thiện pháp hai là Ác pháp, vì hai pháp
này kết quả không giống nhau. Ác pháp đưa chúng sanh vào
cảnh khổ, Thiện pháp đưa chúng sanh đến cảnh an vui…”
Khi
thời pháp vừa chấm dứt, các hàng Phật tử trong pháp hội
ấy đều được đắc quả, vào khoảng ba vạn bốn ngàn người
trong cùng một lúc.
Kim
Quang
“Ác
nào bằng ác sân si,
Lửa
nào bằng lửa dục tham lan tràn.
Khổ
nào bằng khổ trần gian,
Vui
nào sánh kịp Niết bàn thanh cao.”