Phần
Mười Một
Pothila
ông sư rỗng
Dưới
gốc mai vàng
Ngọc
báu trong túi áo
Tam
nghiệp hằng thanh tịnh
Phạm
chí ngạo mạn
Pothila
ông sư rỗng
Vào
thời Phật tại thế có vị trưởng lão tên Pothila. Vị sư
này lão thông Tam tạng và vẫn thường tuyên đọc giáo lý
cho một nhóm 500 vị Tỳ kheo nghe. Chỉ hiềm có một điều
là sư chưa chứng được quả Thánh nào cả. Ðể giúp sư,
Ðức Thế Tôn thường gọi sư là “Pothila rỗng” mỗi khi
tiện dịp. Chẳng hạn như mỗi lần sư đến bên Ðức Phật.
Ngài bảo:
- Hãy
đến đây Pothila rỗng!
- Ngồi
xuống đi Pothila rỗng!
- Hãy
đi đi Pothila rỗng ! v.v…
Và
khi trưởng lão Pothila đã rời khỏi ghế, đi ra, Ngài nói:
- Pothila
rỗng đã đi.
Trưởng
lão Pothila thầm nghĩ: “Ta đọc tụng thông thuộc cả Tam
tạng và chú giải cũng rành mạch không kém, ta là thầy giáo
thọ cho 500 Tỳ kheo và 18 hội chúng, vậy mà Ðức Thế Tôn
vẫn gọi là “Pothila rỗng” chắc vì ta chưa phát triển
chánh định nên Ngài gọi như thế”. Cảm thấy bị kích
động, Sư tự nhủ: “Ta sẽ vào rừng để thiền định”.
Chiều
hôm ấy sau khi giảng kinh xong, đợi lúc trời nhen tối, trưởng
lão mang y bát, nối gót theo nhóm thính chúng cuối cùng ra khỏi
pháp đường. Các thầy Tỳ kheo ngồi trong phòng học kinh nhưng
chẳng hề hay biết gì về vị pháp sư của mình.
Sau
khi đi khoảng 120 dặm đường trưởng lão Pothila gặp một
cụm rừng là nơi ẩn cư của 30 vị Tỳ kheo. Sư đến chào
vị trưởng chúng thưa:
- Bạch
trưởng lão, xin Ngài hãy chỉ dạy cho con.
- Này
Tôn giả, Ngài là một vị giảng sư chúng tôi còn phải học
với Ngài, sao Ngài nói thế?
- Thưa
trưởng lão, Ngài đừng từ chối, xin hãy chỉ dạy cho con.
Tất
cả vị Tỳ kheo ngụ tại rừng cây này đều đã đắc quả
A La Hán. Vị trưởng chúng nghĩ thầm: “Ông sư này là người
học rộng, có lẽ ông đầy lòng kiêu hãnh” nên thầy từ
chối chỉ dạy và gởi Pothila xuống cho đệ nhị tòa. Pothila
cũng cung kính xin học hỏi với vị sư này, nhưng vị đệ
nhị tòa lại đẩy sang đệ tam tòa. Và cứ như thế, cho đến
người nhỏ nhất trong chúng: một chú tiểu 7 tuổi đang ngồi
khâu áo. Kiêu khí của Pothila cũng tụt dần cho đến mức
thấp nhất .
Trưởng
lão Pothila đến bên chú tiểu, chắp tay cung kính:
- Thưa
Tôn giả, xin Ngài hãy chỉ dạy cho con.
- Ồ!
Pháp sư! Ngài nói gì thế? Ngài lớn hơn tôi về tuổi tác
cũng như học thức tôi còn phải học thêm ở Ngài nữa mà?
- Bạch
Tôn giả, xin Ngài đừng từ chối: Hãy chỉ dạy cho con!
- Thưa
Tôn giả, nếu Ngài có đủ kiên nhẫn làm theo lời tôi, tôi
sẽ hướng dẫn Ngài.
- Con
sẽ kham nhẫn tất cả, nếu Ngài dạy con nhảy vào lửa, con
cũng nhảy theo.
Nhìn
bộ y phục đắt giá của Pothila, chú tiểu chỉ một cái ao
gần đó:
- Xin
Ngài hãy để nguyên y phục và nhảy xuống ao.
Thấy
y phục của vị trưởng lão này ướt đẫm, chú tiểu bảo:
- Hãy
leo lên.
Trưởng
lão Pothila liền leo lên đứng cung kính trước mặt chú tiểu.
Chú giảng dạy:
Này
Tôn giả, như một cái hang có sáu cửa ngõ. Một con dế chun
vào hang. Ai muốn bắt nó phải bịt năm cửa, chỉ chừa một
cửa là tóm được nó ngay. Tôn giả hãy quan sát sáu căn của
mình. Ðóng năm căn lại và tập trung trọng tâm vào ý căn.
Nghe
những lời nói của chú tiểu, Trưởng lão hốt nhiên tỉnh
ngộ, nói:
- Bấy
nhiêu cũng đủ rồi.
Trưởng
lão liền nhập định. Ðức Thế Tôn cách đó 120 dặm, biết
rằng Tôn giả sẽ đắc quả, Ngài liền hóa thân đến trước
mặt Pothila, đọc kệ. Bài kệ này trở thành câu pháp cú
282, và được lưu truyền cho đến ngày hôm nay:
“Thật
vật do thiền định trí tuệ phát sinh, không hành thiền trí
tuệ phai dần, thông suốt những điều lợi hại này, hãy
tự mình làm thế nào để trí tuệ phát sinh”.
Thích
Nữ Như Thủy-Như Ðức
“Dù
tuổi cao mày bạc
Không
tịnh hạnh tu trì
Tôn
xưng là hòa thượng
Danh
suông chớ ích chi”
Dưới
gốc mai vàng
Ngày
xưa, có đôi vợ chồng Rùa sống rất êm đềm trong một động
đá bên dòng sông thơ mộng.
Một
hôm, Rùa vợ mắc phải chứng bệnh ăn không tiêu. Rùa chồng
cho mời tất cả lương y thủy giới đến chữa, nhưng bệnh
vẫn không thuyên giảm mà có phần trầm trọng hơn.
Một
buổi chiều nước lớn, Tôm có dịp đi qua động Rùa, nghe
có tiếng rên liền hỏi:
- Anh
rùa ơi! Bộ trong nhà có ai đau sao tôi nghe có tiếng rên? Rùa
chồng bước ra trả lời:
- Mấy
hôm nay vợ tôi bị bịnh vì ăn không tiêu.
- Chị
đau mấy hôm rồi?
- Ba
hôm rồi, đúng hôm kỷ niệm ngày chúng tôi gặp lần đầu,
vợ tôi vì sung sướng nên ăn nhiều hơn thường ngày.
Tôm
ân cần hỏi:
- Anh
có mời ai đến chữa bịnh cho chị chưa?
- Ðủ
cả rồi, nhưng sao không thấy thuyên giảm tí nào, tôi lo quá
anh ơi.
- Tôi
biết một thứ thuốc hay lắm, có thể làm chị lành bịnh
tức thời, nhưng không biết anh dám tin kinh nghiệm của tôi
không?
- Anh
biết làm ơn chỉ giùm, ơn này tôi không dám quên.
- Ơn
nghĩa gì, biết chỉ giùm cho nhau, tôi chỉ thuốc sợ khó tìm.
Bây giờ, nếu anh muốn chị chóng lành bịnh thì anh phải
mau mau đi tìm gan khỉ đem về phơi khô, rồi cho chị ăn từng
miếng nhỏ.
Nói
xong Tôm theo dòng nước lội đi. Rùa chồng trở vào nói với
vợ:
- Thuốc
của anh Tôm chỉ có vẻ hay, nhưng biết làm sao tìm ra được
gan khỉ mà phơi khô.
- Em
cũng không biết nữa.
Rùa
chồng tìm trong óc mãi lúc lâu mới nhớ ở cách đó khá xa
có một hòn đảo có rất nhiều khỉ thường hay nhảy nhót,
đùa giởn bên dòng sông. Con khỉ chúa đàn thường hay nhăn
nhó mặt mày trêu chọc mỗi khi thấy Rùa lội qua.
- Anh
nhất định chữa bịnh cho em bằng thứ thuốc anh Tôm vừa
chỉ. Bây giờ anh đi tìm thuốc đây, em ở nhà nằm yên một
chỗ chờ anh, nhớ đừng đi đâu hết nghe không. Anh ráng đi
mau về sớm với em.
Dặn
dò xong Rùa chồng hăng hái ra đi. Vừa bơi, Rùa vừa suy nghĩ
phải ăn nói làm sao cho thật hay để Khỉ chịu theo về động
của mình. Rùa bơi đến đảo thì đã quá nữa đêm. Vầng
trăng mười sáu nghiêng mình tỏa xuống đảo một màu vàng
nhạt, làm cảnh vật trở nên mờ ảo trông thật đẹp mắt.
Vừa
bước lên bờ, Rùa đã lên tiếng gọi. Khỉ nghe tiếng gọi
liền hỏi:
- Ai
gọi tôi đó?
- Tôi,
Rùa đây.
- À,
té ra anh mà tôi tưởng ai đâu xa lạ. Anh đến đây chơi hay
tìm tôi có việc gì?
- Không
có việc gì cả. Hôm nay trăng đẹp tôi thả đi chơi, thấy
anh tôi có cảm tình, nên ghé hỏi thăm vài lời thế thôi.
- Nếu
thế thì còn gì bằng, tôi cũng đang buồn, không biết nói
chuyện với ai. Anh nói chuyện nghe có vẻ hiền lành vui vẻ,
thế mà ngày trước tới giờ thấy anh xa lạ tôi cứ tưởng
là anh dữ dằn và khó chịu.
- Ồ,
sao anh lại nghĩ thế, tôi mới là hiền lành, dễ chịu nhất
thế gian. Thôi anh xuống gần đây nói chuyện cho vui, anh ở
trên cây tôi ngó lên hoài mỏi mắt quá.
Khỉ
liền chuyền cây xuống ngồi gần Rùa .
- Anh
chuyền cây giỏi quá, tôi thật phục tài anh.
-Tôi
thì được cái sung sướng là chạy nhảy, chuyền cành không
ai bằng, nhất là những đêm trăng đẹp như thế này, ít
khi tôi chịu đi ngủ sớm lắm, tôi thích ngồi ngắm trăng
một mình bên bờ sông.
Nghe
Khỉ nói, Rùa ganh tức lắm nhưng cũng cố lấy giọng bình
thản nói:
- Nghe
anh nghe nói tôi ham quá, anh biết thưởng thức vẻ đẹp của
đêm trăng, nếu nghe được cá hòa nhạc chắc anh hẳn hài
lòng lắm.
- Cá
hòa nhạc làm sao? Anh nói rõ tôi nghe với.
- Ở
chỗ động tôi ở, buổi s áng nào lúc mặt trời vừa mọc,
cá cũng hòa nhạc để đón chào bình minh. Tiếng nhạc của
từng loài cá hòa cùng tiếng nước chảy trên động đá,
trên rong rêu nghe tuyệt diệu làm sao, không kém gì nhạc ở
thiên thai.
- Nghe
anh nói tôi ham quá, nhưng tôi là giống trời sanh ở trên bờ,
nên đành phải thua anh ở điểm đó chớ biết làm sao.
- Nếu
chuyện không biết lội làm cản trở ước muốn của anh thì
có gì khó đâu. Anh cứ việc lên lưng tôi, tôi sẽ đưa anh
đi xem hòa nhạc, tôi hứa chắc cho anh khỏi lo là anh sẽ được
an toàn, không ướt một sợi lông.
- Tôi
cảm ơn l òng tốt của anh, nhưng tôi nặng quá, tôi sợ làm
anh mệt nhọc.
- Chỗ
anh em mà, anh đừng lo ngại gì cả. Anh lên mau, chúng ta cùng
đi cho kịp giờ. Ðoạn khởi đầu bao giờ cũng hay hơn hết…
Không
đợi Rùa nói thêm, Khỉ vội leo lên lưng Rùa.
Rùa
vội bò xuống sông bơi thật nhanh, lòng cảm thấy sung sướng
vì đã gạt được Khỉ một cách quá dễ dàng.
Ði được nữa đường thì trời đã hừng sáng.
- Tôi
nghe dường như có tiếng hòa nhạc phải không anh Rùa?
Rùa
không nhịn được phá lên cười làm Khỉ ngạc nhiên hỏi:
- Chuyện
gì làm anh cười có vẻ thích thú thế?
- Tôi
cười anh, cười sự ngây ngô khờ dại của anh. Khỉ từ
xưa tới nay vốn khôn ngoan mà lại thua trí Rùa.
- Anh
nói gì lạ vậy? Không có hòa nhạc sao?
- Anh
là con vật kém thông minh nhất mới đi tin chuyện cá hòa nhạc.
- Nếu
không có chuyện hòa nhạc thì tại sao anh lại chở tôi đi
làm gì cho nặng?
- Tại
tôi cần lá gan của anh để chữa bệnh cho vợ tôi.
- À,
té ra anh đến tìm tôi để lấy lá gan về làm thuốc cho vợ
anh uống?
- Ðúng
vậy!
- Nếu
thế thì anh lầm to rồi. Anh đem tôi về mổ bụng, tìm khắp
chỗ cũng không làm sao thấy được gan tôi.
- Tại
sao lạ vậy?
- Anh không biết sao, tôi thì có tính cẩn thận, nên trước
khi nhảy chỗ nào nguy hiểm, tôi thường treo lá gan lên
một cành cây. Như thế sẽ chắc ý hơn và khỏi mất công
tìm. Anh không biết sao, loài khỉ chúng tôi, con nào cũng làm
như thế cả. Treo gan rồi chạy nhảy tự do dễ dàng hơn.
Hồi nãy, anh hối đi gấp quá nên tôi quên đem gan theo rồi.
Rùa
ngạc nhiên ngừng bơi chờ nghe Khỉ nói.
- Phải
anh đừng tính gạt tôi mà nói tử tế: “Vợ tôi đau nặng,
tôi cần lá gan của anh để chữa bệnh cho vợ tôi”, thì
tôi không bao giờ từ chối. Anh cũng thừa biết là tôi có
cảm tình với anh rất nhiều. Lá gan của tôi để treo nhánh
cây hay ở trong bụng chị thì cũng thế thôi. Không có thiệt
hại gì cho tôi cả kia mà. Nếu anh nói thật thì tôi sẳn
s àng tặng chị lá gan và sung sướng đã làm được một
điều thiện.
Rùa
cảm thấy gượng ngùng không biết làm sao. Dáng điệu bình
thản của Khỉ càng làm cho Rùa mắc cở hơn.
- Thật
tôi không biết làm sao, tôi lấy làm xấu hổ vì đã đi lường
gạt một người bạn tốt như anh. Anh không có đem gan theo
thì tôi chở anh về cũng vô ích.
- Tôi
hiểu tình cảnh của anh, nên không nở giận anh làm gì. Tôi
bằng lòng cho lá gan của tôi. Thôi anh chở tôi về đảo mau
để lấy lá gan làm thuốc cho chị.
Rùa
cảm ơn rối rít quay đầu bơi trở lại. Vừa đến đảo.
Khỉ vội nhảy lên bờ, leo lên cây chuyền cành này sanh cành
khác. Chờ một lúc lâu, Rùa sốt ruột hỏi:
- Lá
gan của anh đâu?
Khỉ
lượm một hòn đá to liệng xuống lưng Rùa và nói:
- Gan
của tôi đó, đem về mà làm thuốc cho khôn thêm tí nữa.
Hòn
đá to của Khỉ liệng trúng lưng tuy không làm tổn thương
thể xác, nhưng làm xao động tinh thần của Rùa rất nhiều.
Vẻ mặt giận dữ của Khỉ không làm cho Rùa tức giận, mà
trái lại làm Rùa hối hận vô cùng. Rùa nghĩ thầm: “Chỉ
tại mình có lòng hiểm ác định giết hại bạn để cứu
mạng vợ mình. Cũng may Khỉ lanh trí, nếu không thì đã tán
mạng rồi. Khỉ oán giận mình là phải. Mà anh Tôm cũng độc,
bày chi phương thức ác quá, mà mình thì cũng không hiền gì.
Không biết thuốc làm bằng lá gan có trị bịnh được không
mà dù là thần dược đi nữa cũng chẳng nên dùng. Ai nở
giết oan một mạng người để cứu một người. Dù kẻ được
cứu là người thân, mà kẻ bị giết là người thù...”
Chỉ
trong giây phút mà trong trí Rùa thoáng qua không biết bao ý
nghĩ. Rùa ngước nhìn Khỉ với đôi mắt lành, đầy vẻ hối
hận:
- Tôi
rất ân hận về hành động gian ác của tôi vừa rồi, xin
anh từ bi hỷ xả cho tôi.
Nãy
giờ Khỉ cũng ngạc nhiên không thấy Rùa có phản ứng gì,
khi liệng đá trúng lưng, mà trái lại có vẻ trầm ngâm suy
nghĩ. Bao nhiêu hờn giận đã theo viên đá đổ trút xuống
lưng Rùa rồi, nên khi Rùa tỏ vẻ hối hận. Khỉ cảm thấy
hả dạ ngay, vì bản tánh của Khỉ cởi mở, không hiểm ác.
- Tôi
xin anh tha lỗi về cử chỉ tàn bạo của tôi vừa rồi. Anh
có sao không? Lên đây tôi xem, tôi sẽ đi hái thuốc chữa
trị cho anh.
- Cám
ơn lòng tốt của anh, tôi không sao cả. Viên đá tuy to, nhưng
lưng tôi cũng khá cứng. Lòng tốt của anh làm tôi cảm động
và thẹn thùng vô cùng.
Rùa
từ từ bò lên khỏi mặt nước.
Khỉ
cũng tuột xuống khỏi cây. Khỉ đến gần Rùa thân mật hỏi:
- Anh
thật không sao cả phải không?
Quan
sát Rùa thật kỹ lưỡng rồi Khỉ cười nói:
- Thấy
anh an lành tôi mới an tâm. À mà chị nhà đau ra sao? Bịnh
gì vậy anh?
Rùa
kể rõ căn bịnh của vợ mình, nghe xong Khỉ nói:
- Không
sao đâu, anh đừng lo, tôi biết có thứ lá cây này trị bịnh
đó hay lắm để tôi hái, rồi anh chở tôi đi trị bịnh cho
chị. Anh chờ tôi một tí. Khỉ chuyền cây một lúc trở lại
với một nắm lá.
Nào
chúng ta cùng đi.
Lại
cái màn Rùa chở Khỉ, nhưng lần này lòng dạ hai đàng khác
hẳn, không còn rắp tâm hại nhau, mà lại thông cảm thích
giúp đỡ nhau. Với lòng chân thật và mến thương vô hạn.
Thật khác xa tâm địa xấu xa lúc ban đầu. Mỗi đàng đều
im lặng đeo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Một lúc Khỉ bỗng
nói:
- Trong
rừng của chúng ta dạo này có một vị Tăng đến ở tu. Những
đêm trăng sáng Ngài thường hay thuyết pháp, anh có đi nghe
không?
- Tôi
thường hay đi nghe lắm, nhưng buồn quá anh ơi! Nghe giảng
hoài mà sao tâm tánh vẫn còn mê mờ, chưa sửa đổi được
gì nhiều cả. Cũng vẫn ích kỷ, nhỏ nhen, cũng vẫn hẹp
hòi đố kỵ, thấy ai hơn thì ganh tỵ, thấy ai thua thì khinh
khi. Chúng ta đối với Thầy thì tỏ ra kính mến còn đối
với nhau thì chẳng ra gì. Trước mặt Thầy chúng ta chào hỏi
nhau xem như chừng lưu luyến lắm, còn sau lưng Thầy thì ghét
nhau như chó với mèo.
Tôi
cũng nhận thấy như anh, chúng ta còn xa đạo không biết bao
nhiêu cây số. Anh biết bây giờ tôi nghĩ gì không? Tôi nghĩ
đến câu Thầy giảng hôm rằm: “Tâm dục vọng chỉ để
dối gạt, trái nghịch với đạo. Người vào đạo phải dùng
tâm đoan chánh, ngay thẳng làm gốc”. (Kinh Di Giáo). Vậy mà
chúng ta làm trái ngược, dùng tâm dối trá, gian ác để đối
xử nhau, nên mới sanh chuyện. Mà cũng lỗi tại tôi có tâm
khinh người, thấy anh chậm chạp, nên nhăn nhó trêu chọc.
- Cũng
lỗi tại tôi thấy anh nhanh nhẹn khôn ngoan nên tôi sanh tâm
đố kỵ, thấy anh trêu chọc sanh tâm thù ghét, cố chấp mong
có dịp trả thù. May là là chúng ta đã dừng lại kịp thời,
nếu không thì “Ác do tâm sanh, trở lại hại tâm, như sắt
hay sanh sét, sét lại tiêu sắt” (Kinh Bột). Khỉ gật đầu
nói:
- Thật
đúng: “Nói ác, mắng chửi, kiêu căng, khinh người. Các điều
ác ấy khởi ra là ganh ghét, oán hận sanh ngay. Nói lời khiêm
tốn, tôn kính, bỏ oán, nhẫn ác là ganh ghét, oán hận tự
dứt. Là người sanh ở đời, cái búa tại trong miệng sở
dĩ giết thân cũng như lời nói dữ”. (Kinh Pháp Cú). Mãi
bàn luận, mấy chốc cả hai về đến hang Rùa. Khỉ trổ tài
làm lương y. Uống thuốc Khỉ cho chẳng bao lâu chị Rùa cảm
thấy khoẻ khoắn và từ từ khỏi bịnh. Trước khi ra về
Khỉ căn dặn:
- Anh
chị nhớ tối hôm nay đi nghe giảng nghe. Chúng ta cố đi nghe
để sửa đổi tâm tánh, theo thiện, bỏ ác. “Công đức
nghe pháp được ra khỏi sanh tử” đó anh ơi! Anh chị nhớ
đi đúng giờ, đừng đi trễ có lỗi, nhớ chờ tôi dưới
gốc mai vàng nhé!
Nói
xong Khỉ nghiêng mình chào chị Rùa, vị chủ nhà chậm chạp
trả lễ và không quên cảm tạ ơn chữa bịnh của khách.
Xong đâu đấy. Rùa chở Khỉ thong thả bơi đi. Ðến mé rừng,
Khỉ nhảy vội lên bờ, hái một cành mai nhỏ thật đẹp
đưa cho Rùa và nói:
- Nhân
dịp xuân về tôi xin biếu chị ở nhà và cầu chúc anh chị
một mùa xuân hạnh phúc.
Rùa
ngậm cành mai vàng, chào anh bạn quý rồi sung sướng bơi đi…
Bảo
Liên
Lấy
từ bi thắng nóng giận
Lấy
hiền lành thắng hung dữ
Lấy
bố thí thắng xan tham
Lấy
chân thật thắng ngoa ngụy.
Ngọc
báu trong túi áo
Có
một thanh niên háo khách, ưa tiếp bạn bè, tính hòa hiệp,
dễ sống chung với mọi người. Anh có rất nhiều bạn ở
khắp nơi xa gần trong nước. Anh vốn là con của một đại
phú ông, của cải trong nhà vô số, không cần mua bán kinh
doanh. Cả ngày ngoài việc tiếp khách đãi bạn, người ta
không thấy anh làm gì vất vả. Tuy nhiên, “mùa xuân nào rồi
cũng phải hết”, điều bất hạnh đã xảy đến cho anh.
Khi anh vừa đúng 20 tuổi thì phụ thân anh qua đời. Từ đây
anh phải sống những ngày cô độc của tuổi trẻ.
Vốn
là người chỉ giỏi về sự giao du rộng với bạn hữu, không
thạo về buôn bán làm ăn, anh dần dần tiêu sạch bao nhiêu
tài sản của phú ông để lại. Khi tất cả không còn gì,
anh cô thân chích bóng lưu lạc xứ người, một ngày một
đồng cũng không có, với ý tưởng quay gót thăm lại cố
hương. Vì trước kia anh từng giao tiếp rộng, anh bước chân
đến đâu đều có bạn bè tiếp đón. Lần lượt anh đến
thăm những người bạn củ năm xưa.
Anh
không chịu làm một thực khách lâu ngày của ai. Tính khẳng
khái và tự tôn của tuổi trẻ, bảo anh làm thế. Tiền trong
mình hết hẳn. Ðã có lúc qua hai ba ngày liên tiếp mà không
có hạt cơm nào trong bụng. Tuy thế anh vẫn không dám đến
cầu sự giúp đỡ lần nữa của bạn bè. Cuối cùng khi mà
sức lực đã kiệt như không chịu nổi nữa, anh mới chịu
lần đến nhà một người bạn tri kỷ của thuở nào. Lâu
ngày được gặp lại tình bạn hữu tha thiết bội phần.
Anh muốn cố giữ không để cho bạn biết sự nghèo khó của
mình, mặc dầu cái dáng vẻ bần cùng của anh rất dễ bị
khám phá.
Bữa
nọ, bóng chiều vừa xuống, nhân bữa ăn, chủ khách hai người
đã than thở với nhau về sự thay đổi vô thường của nhân
tình thế thái. Những sầu muộn tích tụ trong lòng anh trong
những năm qua, hôm nay được khơi dậy nhân sự tiếp xúc
với bạn. Anh vừa tâm sự vừa ăn uống. Nói thật nhiều
và uống thật nhiều, bất chấp tính toán so đo. Kết quả
anh đã say mèn “bất tri nhân sự”. Bây giờ người bạn
đưa anh qua phòng ngủ, để anh nằm trên chiếc “giường
an lạc” và ngồi bên cạnh trông nom. Người bạn nhìn chăm
vào dung nhan của anh trong khi ngủ, và khi đã cùng đường
mới tìm đến người bạn này để nhận sự giúp đỡ. Hôm
nay ta giàu có như thế này-Ý tưởng của người bạn mà bạn
ta bần cùng khốn khổ. Xem qua hình dạng nhất định anh đã
chịu hết mọi thống khổ của cảnh “thương hải tang điền”.
Tuy nhiên anh không đề cập một câu nào về điều ấy. Khí
sắc của anh không còn chút nào giống như ngày trước. Bao
nhiêu của cải ta có hôm nay đều là của anh cho cả. Giá
như phải đem tất cả tặng lại cho anh, ta cũng phải làm.
Nhưng ta biết tính khí của anh tâm tự tôn rất cao, anh nhất
định không nhận sự bố thí của người đâu… Nghĩ đoạn
người bạn rời khỏi giường, để anh tiếp tục ngủ, vào
phòng mở tủ lấy một viên ngọc báu vừa sáng lớn, rồi
một cách kín đáo nhét viên ngọc vào túi áo của anh. Ðây
là viên ngọc vô giá, có thể giúp anh nuôi sống trọn đời
không hết.
Qua
hôm sau, người thanh niên từ cõi mộng trở dậy. Mở mắt
ra, anh thấy mình đã ngủ một giấc dài trên chiếc giường
lớn lộng lẫy. Anh cảm thấy xấu hổ khi nghĩ về cuộc say
sưa chiều hôm qua. Anh hối hận vô cùng, biết rằng mình làm
một người khách ở nhà bạn sao lại có thể quá tùy tiện
như vậy. Người bạn đến, tiếp theo là một nữ bộc bưng
thau nước. Sau khi lau chải sơ sài, anh theo bạn vào phòng ăn.
Bữa ăn sáng hôm ấy quá thịnh soạn.
Mặc
dù bạn ân cần thế nào, anh vẫn thấy bất an. Sau khi ăn
xong từ biệt bạn để ra đi. Một lần nữa bạn mời ở
lại, nhưng anh nhất quyết ra đi. Cuối cùng không biết làm
sao hơn nữa, người bạn chỉ còn cách đưa anh ra cửa. Từ
đấy, anh lại sống qua những ngày của một người vô gia
cư lưu lạc. Từ thôn này qua thôn khác, thành này qua thành
khác, thời gian cũng theo bước chân anh, đi mau như dòng nước
chảy. Bị sự thúc bách của sinh hoạt anh mất hết thần
khí, cúi đầu lặng đi. Cuối cùng, anh đã làm việc hết
sức khổ nhọc hoặc phải đến từng nhà xin ăn. Chỉ cần
một bữa cơm, khổ bao nhiêu anh cũng ráng chịu, không một
biểu tượng từ nan. Anh đã biết: Sức sống và sự sống
của chính mình quan hệ lẫn nhau.
Anh
xa cách người bạn trên đã hai năm, không hề có một ý tưởng
mong được gặp lại. Nhưng việc đời làm sao ta có thể ngờ
trước. Vì vậy trong một lúc tình cờ, anh gặp lại người
bạn đó. Anh đã bị bạn phát hiện trong lúc hì hục làm
công cho một nhà giàu. Người bạn rất đỗi ngạc nhiên hỏi:
- “Bạn,
trong khi chúng ta xa cách nhau, sao anh lại nghèo như thế này?
Nhớ lại ngày sau bữa rượu anh đã say tại nhà tôi, dìu
anh lên giường, rồi lấy một viên ngọc quý đặt vào túi
áo của anh. Ðó là viên ngọc vô giá, dùng trọn đời không
hết, anh đã bỏ mất rồi sao?”.
Qua
lời chỉ dạy của bạn, anh mới bắt đầu đưa tay mò túi
áo của mình, và viên ngọc quý sáng rỡ đã được anh moi
ra, lúc ấy mới cảm động than rằng:
- “Ngu
si quá chừng! Ngu si quá chừng! Trong người mang ngọc quý,
lại chịu khốn khổ trong cảnh bần cùng. Vì sự sinh kế
mà phải vất vả, lo buồn, quả tôi là một thằng khùng nhất
trong đời vậy”.
Thích
Tâm Thiện
“Tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tất cả chúng sanh đều
có thể thành Phật. Ta là Phật đã thành. Chúng sanh là Phật
sẽ thành”.
Tam
nghiệp hằng thanh tịnh
Một
vị thiền sư đi hành cước ngang thôn ấp nọ, tìm tới nghỉ
tại một ngôi chùa bỏ vắng lâu năm. Dân làng kéo đến khuyên
thầy đi chỗ khác, thầy hỏi duyên cớ, họ kể:
- Bạch
thầy, ngôi chùa này có con quỷ xuất hiện vào lúc nửa đêm,
khóc than thảm thiết rùng rợn, khiến chúng con phải dời
nhà đi chỗ khác không dám ở gần. Nguyên do là ngày xưa nghe
đâu có vị trụ trì ở đây chết hóa thành quỷ.
- Tại
sao chết?
- Dạ
bạch, vị sư ấy đã già khi ốm nặng, các đệ tử theo lời
y sĩ, đỗ súp gà cho thầy lai tỉnh. Lúc tỉnh dậy thầy hỏi
đã cho thầy uống thuốc gì và khi được biết họ đã đổ
súp gà, thầy giận đến ngất đi và chết luôn. Từ đó đêm
nào cũng có quỷ xuất hiện ngâm lên hai câu:
Lâm
bênh ngọa tại sàng
Nhất
dạ ẩm kê thang
(Liệt
giường bệnh hành ta
Nên
uống phải súp gà)
Rồi
khóc lên tru tréo rất thê thảm.
Vị
thiền sư nghe qua câu chuyện quyết định ở lại ngôi chùa
hoang đêm ấy. Ngài thức chờ khi quỷ xuất hiện ngâm hai
câu:
Lâm
bệnh ngọa tại sàng
Nhất
dạ ẩm kê thang
Ngài
bèn ngâm tiếp:
Tam
nghiệp hằng thanh tịnh
Ðồng
Phật vãng Tây phương.
(Ý
nói dù uống lỡ súp gà, nhưng ba nghiệp thân khẩu ý thường
thanh tịnh, thì vẫn có thể sanh Tây phương gặp Phật).
Quỷ
nghe xong, biến mất, từ đấy không xuất hiện nữa.
Thích
Nữ Trí Hải
“Ðoạn
trừ phiền não trùng tâm bệnh
Xu
hướng chân như tổng thị tà
Tùy
thuận chúng sanh vô quái ngại
Niết
bàn sanh tử thị không hoa”.
Phạm
Chí ngạo mạn
Ngày
xưa, tại Ấn Ðộ có một Phạm Chí học vấn uyên thâm, biện
tài vô ngại. Ông thường dùng xảo ngôn để lập thuyết,
lấy hư làm thực, lấy thực làm hư, chưa một ai địch lại,
ông rất lấy làm tự đắc.
Một
hôm ông đến thành Xá Vệ, giữa ban ngày ông đốt đuốc
cầm đi, mọi người thấy lạ chạy theo coi, có người trong
đám hỏi ông:
- Này
đạo sĩ, giữa thanh niên bạch nhật như thế này sao đạo
sĩ lại đốt đuốc mà đi?
- Trong
nước tối tăm, không có ánh sáng, nên ta phải đốt đuốc
mà đi.
Câu
chuyện được đồn đến tai vua, nhà vua rất lấy làm hổ
thẹn, nghĩ cả nước chẳng có người tài giỏi, để phải
bị kẻ xảo ngôn nhục mạ. Nhà vua liền sắc các quan quân
mang trống lệnh treo trên cửa thành dóng lên từng hồi vang
vọng để cầu các bậc biện tài vô ngại, hàng phục kẻ
ngông cuồng, xảo ngôn ấy.
Bấy
giờ có một vị Sa môn tài cao đức lớn, đi ngang qua thành,
thấy trống lệnh dóng lên liên hồi, liền kêu quân giữ thành
hỏi:
- Nhà
vua cầu việc gì mà đánh trống lệnh liên hồi vậy?
- Thưa
Sa môn, vua muốn cầu bậc hiền tài để tranh luận với Phạm
Chí xảo ngôn kia.
Nghe
vậy, vị Sa môn vào thành yết kiến nhà vua. Nhà vua lấy làm
mừng rỡ, cho lập đàn tranh luận và báo cho Phạm Chí cùng
dân chúng biết.
Ngày
khai đàn tranh luận được quy định, vị Sa môn đến thật
sớm, lên ngồi nơi tòa cao nhất. Phạm Chí đến sau nên ngồi
dưới thấp. Vị Sa môn nói:
- Này
Phạm Chí, ai ngồi trên thì được nói trước, ông bằng lòng
chăng?
Phạm
Chí tự nghĩ: “Ta là bậc biện tài xưa nay chưa hề có ai
địch lại, vậy sợ gì. Hãy cho Sa môn này nói trước”.
- Này
Sa môn, ông cứ nói trước rồi đến phiên ta.
- Lành
thay, này Phạm Chí ông là kẻ trí tuệ, minh đạt, là bậc
chơn nhơn đạo cốt, chứ chẳng phải kẻ đầy tớ, tôi đòi,
binh lính, xe ngựa hay kẻ vác xác chết ngoài bãi tha ma.
Khi
ấy Phạm Chí suy nghĩ mông lung chẳng biết trả lời sao cho
được. Nhà vua thấy Phạm Chí cúi đầu làm thinh, không đối
đáp, rất lấy làm mừng rỡ, dọn tiệc thiết đãi, rồi
ra lệnh cho Phạm Chí hốt phân đội trên đầu mà đi và đuổi
ra khỏi nước.
Giới
Ðức
“Không
biết mà nói là ngu,
Biết
mà không nói là hiểm”.