Phần
11
51/
Giữ ý như giữ thành
52/
Ðịnh nghiệp khó tránh
53/
Sự tích cây nêu ngày tết
54/
Một cách cho
55/
Công Ðức thọ Bát quan trai
Giữ
ý như giữ thành
Khi
Phật ở nước Xá Vệ, trong chúng Tỳ kheo tại tịnh xá Cấp
Cô Ðộc có một vị Tôn giả tên là Soreyya, đã chứng quả
A La Hán. Câu chuyện sau đây được truyền tụng về cuộc
đời của vị Tôn giả trước khi đắc quả.
Trong
lúc Tôn giả Soreyya còn ở tại gia ngài là con một vi phú
hộ ở thị trấn Soreyya. Một hôm Soreyya cùng ngồi trên xe
đi tắm với một người bạn thân của chàng có gia nhân đông
đảo đi theo. Khi ra khỏi thành bỗng chàng thấy Tôn giả Ca
Chiên Diên, đệ tử của Phật đang ôm bát đi vào khất thực.
Tôn giả Ca Chiên Diên có một màu da sáng đẹp như vàng ròng,
sắc diện uy nghiêm khả kính đến nỗi đoàn người đi tắm
chú mục nhìn ngài không biết chán. Thanh niên Soreyya, là người
hiếu sắc, thấy Tôn giả bèn nghĩ thầm trong bụng: “Ồ,
ước gì vị Tôn giả ấy là vợ ta! Ước gì màu da cũng đẹp
đẽ như vị Tôn giả ấy. Ngay khi tư tưởng ấy vừa khởi
thanh niên Soreyya biến thành phụ nữ. Chàng vô cùng bối rối,
vội nhảy ra khỏi xe lẩn vào đám đông trốn biệt. Phụ
nữ Soreyya không dám về nhà, đi mãi đi mãi, theo đoàn người
tiến ra thành phố cho đến khi gặp một đoàn xe đi về phía
đô thị Tắc Ca, Nàng bạo dạn đến gần một xe xin quá giang
đến thành Tắc Ca, trông thấy thiếu nữ Soreyya xinh đẹp
họ bằng lòng ngay. Họ bảo nhau:
-
Con trai của chủ chúng ta chưa có vợ, chúng ta hãy đưa nàng
này về, thế nào cũng được trọng thưởng.
Quả
nhiên, khi xe về đến thành Tắc Ca, phú ông Tắc Ca rất vui
mừng được cô dâu xinh đẹp, làm lễ cưới ngay cho con trai
mình. Thế là thanh niên Soreyya trở thành vợ của thanh niên
Tắc Ca, con trai của phú ông ở đô thị Tắc Ca. Ðám cưới
không bao lâu, nàng mang thai, sau mười tháng sinh ra một thằng
con trai bụ bẫm. Ðứa con này vừa mới biết đi tập tễnh,
nàng lại cho ra đời một thằng con khác. Soreyya trước là
nam nhi ở thành Soreyya đã có vợ hai con, bây giờ biến thành
phụ nữ lại sinh ra hai đứa con là bốn. Soreyya làm cha hai
đứa và làm mẹ hai đứa vậy.
Một
hôm thành Tắc Ca có hội chợ, tình cờ Soreyya trông thấy
một thanh niên trong đám đông, và nhận ngay ra là người bạn
rất thân đã cùng ngồi xe đi tắm với mình ngày trước,
khi chưa biến thành phụ nữ. Bà Soreyya bảo gia nhân ấy đến
mời thanh niên ấy về nhà mình. Thanh niên ngạc nhiên, nhưng
được người đẹp mời cũng khoái, thấy không có gì hại
thì liền theo gót gia nhân về nhà bà Soreyya. Ngồi vào ghế
thanh niên mới đánh bạo lên tiếng:
-
Thưa bà, có lẽ bà lầm chăng? Tôi chưa hề trông thấy bà
từ trước đến nay, vì đây là lần đầu tiên đến thành
phố này.
-
Thưa ông tôi không lầm đâu, có phải ông là người thành
Soreyya.
-
Thưa bà chính vậy. Thế ra bà biết.
Soreyya
bèn hỏi chàng thanh niên về sức khỏe của ông bà phú hộ
cha mẹ mình và hỏi thăm tin tức vợ và hai con đang ở Soreyya.
Thanh niên hỏi:
-
Thưa bà họ đều khỏe mạnh, tại sao bà biết họ?
-
Thưa ông, tôi biết lắm chớ. Thế còn người con trai của
họ, thanh niên Soreyya ở đâu?
-
Ồ, thưa bà đừng nhắc chuyện thương tâm ấy nữa. Bao nhiêu
năm nay việc ấy đã thành một vết thương lòng cho những
người thân. Số là chúng tôi cùng ngồi xe đi tắm, nhưng
khi ra khỏi thành, không biết chàng biến mất tự bao giờ,
người thì đoán chàng xuống tắm bị nước cuốn trôi người
thì cho có lẽ bị cá nuốt. Tìm khắp nơi không thấy nên
gia đình đã làm chay cho chàng.
-
Thưa ông, chàng không chết đi đâu cả, chính tôi là Soreyya
ngày trước.
-
Thưa bà, bà nói cái gì thế? Soreyya là bạn rất thân của
tôi, tôi biết rõ y là đàn ông.
-
Thưa ông vậy mà tôi là Soreyya.
-
Sao lại có chuyện kỳ quái như thế?
-
Ông có nhớ lúc ta đi xe ra khỏi thành đã gặp một vị Tôn
giả ôm bát vào thành hay không?
-
Vâng, tôi nhớ có gặp vị Tôn giả Ca Chiên Diên ngày hôm
ấy.
-
Ðấy khi tôi trông thấy Tôn giả, tôi nghĩ mong Tôn giả là
vợ mình có được làn da mịn đẹp như Tôn giả. Ngay sau
khi tôi vừa có ý nghĩ đó, tôi liền hóa thành phụ nữ. Ồ,
thưa ông tôi bối rối quá, không thể nói cùng ai tôi nhảy
đại ra khỏi xe chạy trốn, và đến thành phố này.
-
Ồ bạn ơi, bạn đã làm một việc quá điên rồ. Sao bạn
không bảo tôi. Thế bạn có sám hối cùng vị Tôn giả ấy
không?
-
Không bạn ạ, tôi chưa từng sám hối Ngài. Nhưng bạn có
biết hiện giờ Ngài ở đâu không?
-
Ngài ở quanh quẩn gần thành phố này.
-
Ước chi Ngài đến đây, tôi sẽ cúng dường thực phẩm cho
Ngài.
-
Tốt lắm, vậy bạn hãy sửa soạn, ngày mai tôi sẽ thỉnh
Ngài đến đây để bạn sám hối cùng Ngài.
Rồi
người bạn của Soreyya vốn là một người Phật tử thuần
thành đi đến chỗ Tôn giả Ca Chiên Diên ở, để thỉnh Ngài
về nhà cư sĩ thọ trai.
Tôn
giả hỏi:
-
Này thanh niên con đâu có nhà ở đây? Không phải con là du
khách ở thành phố này sao?
-
Bạch Tôn giả việc ấy không quan hệ, xin Tôn giả nhận lời
cho ngày mai được cúng dường Tôn giả tại nhà.
Tôn
giả im lặng nhận lời. Ðến giờ thọ thực hôm sau, Ngài
cùng thanh niên đến nhà Soreyya. Sau khi bà Soreyya bày biện
các thức ăn thượng vị lên cúng dường, thanh niên bảo bà
Soreyya quỳ xuống dưới chân Tôn giả và thay lời nàng tác
bạch:
-
Bạch Tôn giả, xin Tôn giả tha thứ cho bạn con.
Tôn
giả chẳng hiểu ất giáp gì trước sự tình ấy bèn hỏi:
-
Có chuyện gì thế?
-
Bạch Tôn giả, người đàn bà này trước kia là đàn ông
và là bạn rất thân của con. Một hôm y nhìn Tôn giả và
có ý nghĩ quấy, nên bị biến thành đàn bà tức khắc, xin
Tôn giả hãy tha thứ cho y.
-
Ðược ta tha thứ cho ngươi. Hãy đứng lên.
Vừa
khi Tôn giả thốt ra những lời ấy Soreyya đứng lên và trở
lại thân hình nam nhi như trước. Con trai Tắc Ca, chồng của
Soreyya, thấy vợ mình mới đó đã hóa thành đàn ông liền
bảo:
-
Này bạn ơi, vì bạn đã là mẹ của hai đứa con, tôi là
cha của chúng thì quả thật chúng là con chung của chúng ta.
Bạn hãy ở lại đây với tôi đừng có đi đâu, chúng ta
hãy đem tình cầm sắc đổi ra cầm kỳ (vợ chồng đổi thành
bè bạn).
Soreyya
nói:
-
Hỡi bạn, tôi đã hai lần hóa thân ngay trong một đời người.
Ban đầu làm đàn ông, sau biến thành đàn bà và bây giờ
hóa thành đàn ông trở lại. Ban đầu tôi làm cha hai đứa
bé, sau lại làm mẹ hai đứa khác. Tôi còn sống ở đời
làm gì nữa! Tôi muốn xuất gia. Bây giờ bạn hãy săn sóc
hai đứa bé này.
Nói
xong, Soreyya hôn hai đứa bé, từ giã chúng rồi xin theo Tôn
giả Ca Chiên Diên. Tôn giả nhận chàng về trong Tăng đoàn.
Sau khi truyền giới cụ túc cho Soreyya Ngài đưa Soreyya Tỳ
kheo về tịnh xá Cấp Cô Ðộc nước Xá Vệ.
Câu
chuyện đời tư về Soreyya truyền đi rất nhanh khắp thành
Xá Vệ. Dân chúng tò mò đến tận nơi để biết rõ thật
hư. Suốt ngày Tỳ kheo Soreyya phải bận rộn về những người
này. Câu hỏi bất di dịch là:
-
Bạch Ðại Ðức, có phải tin đồn Ngài hóa thân hai lần
là đúng không?
-
Ðúng.
-
Bạch Ðại Ðức, Ngài đã từng làm cha hai đứa trẻ và làm
mẹ hai đứa khác, Ngài thương cặp nào hơn.
-
Tôi thương cặp con do tôi làm mẹ nhiều hơn.
Cuộc
phỏng vấn cứ tái diễn như vậy không biết lúc nào ngưng
làm cho Tỳ kheo Soreyya không rảnh phút nào để tham thiền
nhập định. Do đó, Ðại Ðức quyết định rút vào rừng
sâu, độc cư thiền định. Sau một thời gian ngắn, nhờ nỗ
lực tu tập, Ðại Ðức chứng quả A La Hán và trở lại nếp
sống bình thường trong Tăng đoàn ở tu viện.
Những
người đến thăm lại được dịp phỏng vấn Tôn giả trở
lại:
-
Bạch Tôn giả, tin đồn rằng Ngài đã làm cha hai đứa trẻ
và làm mẹ hai đứa khác, có đúng không?
-
Ðúng.
-
Ngài thương cặp con nào hơn?
-
Không thương cặp nào cả.
Các
Tỳ kheo nghe Tôn giả trả lời như vậy, liền đến bạch
Phật.
-
Bạch Thế Tôn, Tỳ kheo Soreyya phạm tội nói dối. Trước
kia vị ấy thường bảo: “Tôi thương hai đứa do tôi làm
mẹ hơn là hai đứa do tôi làm cha”. Thế mà bây giờ khi
người ta hỏi, vị ấy đáp là không thương đứa nào. Bạch
Thế Tôn, như vậy là nói dối.
-
Này các Tỳ kheo, Tỳ kheo Soreyya không nói dối đâu. Trước
kia ông ấy chưa chứng quả, bây giờ ông ấy đã chứng quả
và biết rõ rằng: “Chẳng phải cha hay mẹ, mà chính là cái
tâm khéo điều phục mới đem lại lợi ích cho chúng sanh”.
Câu
nói ấy trở thành pháp cú thứ 46 được lưu truyền.
THÍCH NỮ TRÍ HẢI
“Việc
qua rồi chẳng nhớ
Việc
chưa đến chẳng lo
Hiện
tại đừng đem lòng vọng tưởng”.
Ðịnh
nghiệp khó tránh
Thuở
Phật tại thế, có một vị Tỳ kheo số phận xui xẻo mặc
dầu thầy tu hành rất tinh tấn, giới hạnh trang nghiêm mà
không bao giờ được no đủ. Số “con rệp” ấy đeo đuổi
thầy mãi cho tới khi mãn phần, sau khi đã đắc quả A La Hán.
Ðến ngày lâm chung, nhờ thần lực của Tôn giả Xá Lợi
Phất, vị Tôn sư của thầy, thầy mới ăn được một bữa
no lòng trước khi lìa đời.
Thầy
xui xẻo từ khi còn trong bụng mẹ. Chẳng những riêng thầy
xui xẻo, mà thầy còn mang sự bất hạnh đến cho tập thể
trong đó có hiện diện của mình. Thầy là con của một gia
đình đánh cá ở một làng ven biển có 1000 hộ khẩu. Từ
khi nhập thai mẹ, cả làng đi biển không đánh được một
con cá nào suốt cả tháng, mọi người phải ăn rong biển
cho đỡ đói lòng. Họ bắt đầu nghi ngờ có một gia đình
hắc ám trong làng đã đem đến tai họa cho tất cả. Do đó
họ cố tìm cho kỳ được cái gia đình xui xẻo ấy để loại
ra khỏi tập thể. Phương pháp họ làm là họ chia hai số
hộ khẩu trong làng thành hai nhóm, mỗi nhóm 500 gia đình để
làm ăn riêng, sinh hoạt riêng. Kết quả là một nhóm bắt
đầu khá giả trở lại, một tiếp tục xui xẻo. Nhóm này
lại chia hai để biết cái gia đình xui xẻo ấy nằm ở đâu.
Khi chia thành hai nhóm nhỏ thì cũng như trước, 250 gia đình
bắt đầu khá giả, còn 250 gia đình vẫn còn xui. Lại chia
hai lần lượt như vậy để biết gia đình xui xẻo nằm ở
đâu, thì cuối cùng họ khám phá ra gia đình của vị Tỳ
kheo nọ. Cả gia đình thầy bị loại ra khỏi làng, đi lang
thang như những người du mục. Bà mẹ khám phá ra từ ngày
mang thai thầy, tai họa mới đến cho cả một làng và cho gia
đình, nên muốn thầy chết đi. Tuy nhiên, một người chỉ
còn một đời cuối cùng này là giải thoát (chứng quả A
La Hán, không còn trở lại cõi đời) thì không ai có thể
giết chết được trừ khi chính nghiệp lực của người ấy.
Do vậy, cuối cùng mẹ thầy cũng sinh ra thầy và nuôi cho đến
biết đi ăn xin. Trong thời gian bà nuôi đứa con mang sự xui
xẻo ấy, bà rất vất vả và khốn đốn trong việc kiếm
ăn. Cho đến một ngày không chịu đựng được nữa, sau khi
đẩy thầy vào xin ăn tại một nhà nọ, bà mẹ tẩu thoát.
Ðứa
trẻ - vị A La Hán tương lai nọ ngơ ngác khi bước ra không
trông thấy mẹ, cũng không có cái gì ăn, bèn đi lang thang
đầu đường xó chợ lượm những mẩu bánh người ta vứt
bên đường để ăn cho đỡ đói. Trong “cuộc lử” đó
đứa trẻ tình cờ gặp Tôn giả Xá Lợi Phất. Ðộng lòng
thương, Ngài hỏi:
-
Con cái nhà ai? Sao gầy sọp thế?
-
Bạch Tôn giả, con là một đứa con mang lại sự xui xẻo cho
mọi người, nên không ai chịu nuôi con, con phải ốm đói.
-
Con có muốn xuất gia trở thành một tu sĩ không?
- Bạch
Tôn giả con muốn lắm chứ, nhưng ai chịu chứa chấp con?
-
Lại đây, ta sẽ độ cho con.
Ðứa
trẻ vui mừng đi theo Tôn giả. Tôn giả Xá Lợi Phất dắt
về vườn Cấp Cô Ðộc, tắm rửa sạch sẽ, cho ăn cơm và
thế phát quy y cho cậu bé làm Sa môn đuổi quạ[1] Lớn
lên đến tuổi thành niên, Tôn giả cho thầy thọ giới cụ
túc thành một vị Tỳ kheo.
Số
phần xui xẻo vẫn theo mãi vị Tỳ kheo suốt cả đời. Mỗi
khi đi khất thực, người ta vừa để vào bát thầy một muỗng
cơm thì thấy bát đã đầy tràn, làm cho không ai có thể bỏ
gì thêm vào nữa. Khi thầy về đến chùa, thì trong bát chỉ
có độc một muỗng cơm để cầm hơi cho thầy khỏi chết
đói. Cứ như vậy cho đến ngày mạng chung đã chứng quả
A La Hán, thầy cũng chưa bao giờ được một bữa no lòng.
Biết
thầy sắp mãn phần ở dương gian, Tôn giả Xá Lợi Phất
động lòng thương xót nghĩ: “Losaka” (tên của thầy Tỳ
kheo xui xẻo) hôm nay sẽ mạng chung. Ta sẽ làm đủ mọi cách
giúp cho vị ấy ăn một bữa cho no trước khi chết.
Với
ý định ấy, Tôn giả dẫn vị Tỳ kheo đi vào làng khất
thực. Nhưng vì có Losaka, Tôn giả không xin được món gì,
Ngài đành phải bảo vị ấy trở về, và đi một mình để
xin ăn. Sau khi khất thực đầy bát, Tôn giả đem về cho vị
Tỳ kheo Ngài đứng ôm bát trước mặt đệ tử bảo:
-
Con hãy ăn đi.
Vị Tỳ kheo ngần ngại không dám ăn trước mặt Tôn sư, và
nhất là để Ngài cầm bát, mặc dù thầy rất đói. Tôn giả
giục:
-
Con đừng ngại, ta phải đứng cầm bát để chờ con dùng
bữa cho xong mới được. Vì nếu không có ta ôm bát, tất
cả thức ăn này biến mất, và con sẽ tiếp tục đói.
Vị
Tỳ kheo vâng lời thọ thực. Nhờ thần lực của Tôn giả
Xá Lợi Phất vị ấy ăn được một bữa no lòng trước khi
xả báo thân chót của một vị A La Hán.
Sau
khi thầy Tỳ kheo xui xẻo quá vãng, các Tỳ kheo khác nhóm họp
tại diệu pháp đường trong vườn Cấp Cô Ðộc hỏi Ðức
Thế Tôn nguyên nhân vì sao một đời giới hạnh thanh tịnh,
tu hành tinh tấn, vị Tỳ kheo bạc phước kia vẫn phải gánh
chịu sự rủi ro suốt đời như vậy. Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo, những hành động của chính vị ấy trong
tiền kiếp là nguyên nhân sự xui xẻo hiện tại của y. Trong
tiền kiếp y cũng là một vị Tỳ kheo, do lòng ganh tỵ, y đã
cản trở cư sĩ cúng dường một vị Tỳ kheo khác trong khi
vị này đã chứng quả A La Hán. Vì ác nghiệp ấy cho nên
dù có tu hành thanh tịnh, y cũng phải thọ quả báo thiếu
thốn, xui xẻo trong nhiều đời kiếp cho đến khi chứng quả.
THÍCH NỮ TRÍ HẢI
“Luật
nhân quả không kiếp sau hay kiếp trước, giữa kiếp này vay
lại trả rồi vay. Vay oán nhiều nên nợ đời thêm nặng,
biết nhắn gởi cùng ai mau tỉnh giấc mê say”.
Sự
tích cây nêu ngày tết
Ngày
ấy không biết từ bao giờ và cũng không biết bằng cách
gì, Quỷ chiếm đoạt tất cả đất nước. Người chỉ ăn
nhờ ở đậu và làm rẽ đất của Quỷ. Quỷ đối với Người
ngày càng quá tay. Chúng nó dần dần tăng số phải nộp lên
gấp đôi và mỗi năm mỗi nhích lên một ít. Cuối cùng chúng
nó bắt Người phải nộp theo một thể lệ đặc biệt do
chúng nó nghĩ ra là “Ăn ngọn cho gốc” Người không chịu,
chúng nó lấy áp lực, bắt Người phải theo. Vì thế, năm
ấy sau vụ gặt, Người chỉ còn trơ ra những rạ là rạ.
Cảnh tượng da bọc xương thê thảm diễn ra khắp mọi nơi.
Bên cạnh bọn Quỷ reo cười đắc ý. Người cơ hồ muốn
chết tuyệt.
Phật
từ phương Tây lại, có ý định giúp Người chống lại sự
bóc lột tàn nhẫn của Quỷ. Sau mùa đó, Phật bảo Người
đừng trồng lúa mà cào đất thành luống trồng khoai lang.
Người cứ y lời làm đúng lời Phật dặn. Quỷ không ngờ
Người đã bắt đầu có mưu kế mới chống lại mình nên
cứ nêu đúng trong thể lệ như trước “Ăn ngọn cho gốc”.
Mùa thu hoạch ấy, Quỷ rất hậm hực nhìn thấy gánh khoai
núc nỉu chạy về nhà Người đổ thành từng đống lù lù,
còn nhà mình chỉ toàn những dây và lá khoai là những thứ
không nhai nổi, thể lệ đã qui định, chúng nó đành cứng
họng không thể chối cãi vào đâu được.
Sang
mùa khác, Quỷ thay thể lệ mới là “Ăn gốc cho ngọn”.
Phật bảo Người lại chuyển sang trồng lúa. Kết quả Quỷ
lại hỏng ăn. Những hạt lúa vàng theo Người về nhà, còn
rạ phó mặc cho bọn Quỷ. Quỷ tức lộn ruột nên mùa sau
chúng nó tuyên bố : “Ăn cả gốc lẫn ngọn”. Lần này
Quỷ nghĩ : -“Cho chúng mày muốn trồng gì thì trồng, đằng
nào cũng không lọt khỏi tay chúng tao”. Nhưng Phật đã bàn
với Người thay đổi giống mới, Phật trao cho Người hạt
giống cây ngô để gieo khắp nơi mọi chỗ.
Năm
ấy lại một lần nữa Người sung sướng trông thấy công
lao của mình không uổng. Trong nhà Người thóc ăn chưa hết
thì từng gánh ngô đã tiến về chứa từng cót đầy ăm ắp.
Về phần Quỷ lại bị một vố cay chua tức uất hàng mấy
ngày liền. Cuối cùng Quỷ nhất định bắt Người phải trả
lại tất cả ruộng đất không cho làm rẽ nữa. Trong bụng
chúng nó nghĩ: -“Thà không được cái gì cả còn hơn là
để cho chúng nó ăn một mình”.
Phật
bảo Người điều đình với Quỷ cho tậu một miếng đất
vừa bằng bóng một chiếc áo cà sa. Nghĩa là Người sẽ trồng
một cây tre trên có mắc chiếc áo cà sa, hễ bóng che bao nhiêu
diện tích ở mặt đất là đất sở hữu của Người ở
đó. Ban đầu Quỷ không thuận, nhưng sau chúng nó suy tính
thấy đất tậu thì ít mà giá rất hời bèn nhận lời: “Ồ!
Bằng một chiếc áo cà sa có là bao nhiêu”. Chúng nó nghĩ
thế, hai bên làm tờ giao ước: ngoài bóng che đất là của
Quỷ, trong bóng che là của Người.
Khi
Người trồng xong cây tre, Phật đứng trên ngọn tung áo cà
sa bay tỏa ra thành một miếng vải tròn. Rồi Phật hóa phép
làm cho cây tre cao vút mãi lên, đến tận trời. Tự nhiên
trời đất trở nên âm u: bóng của áo cà sa dần dần che
kín khắp cả mặt đất. Bọn Quỷ không ngờ có sự phi thường
như thế, mỗi lần bóng áo lấn dần vào đất chúng, chúng
phải dắt nhau lùi mãi. Cuối cùng Quỷ không có đất ở nữa
phải chạy ra biển Ðông. Vì thế người ta mới gọi là Quỷ
Ðông.
Tiếc
vì đất đai hoa màu đều thuộc về tay Người, Quỷ rất
hậm hực, cố chiêu tập binh mã vào cướp lại. Lần này
Người phải chiến đấu với Quỷ rất gay go vì quân đội
của Quỷ có đủ một bầy ác thú như voi, ngựa, chó, ngao,
bạch xà, hắc hổ v..v... rất hung dữ. Phật cầm gậy tầm
xích đánh giúp Người làm cho quân của Quỷ không tiến lên
được.
Sau
mấy trận bất lợi, Quỷ bèn cho quân đi dò xem Phật sợ
gì, Phật cho chúng biết là sợ hoa quả, oản chuối và cơm
nắm, trứng luộc. Ðối với Phật cũng dò hỏi và biết quân
của Quỷ chỉ sợ độc có mấy thứ : máu chó, lá dứa, tỏi
và vôi bột.
Lần
giáp chiến sau đó, quân của Quỷ đem không biết cơ man nào
là hoa quả đến ném Phật, Phật bảo Người nhặt làm lương
ăn rồi đem máu chó vấy khắp mọi nơi. Quân của Quỷ thấy
máu chó sợ hoảng hồn bỏ chạy.
Lần
thứ hai, quân của Quỷ lại đem oản chuối vào ném quân Phật.
Phật bảo Người nhặt làm lương ăn giã tỏi phun vào quân
địch. Quân của Quỷ không chịu được mùi tỏi nên cũng
cắm đầu chạy biệt tích.
Lần
thứ ba, quân của Quỷ lại đem cơm nắm, trứng luộc vào
ném quân Phật. Người tha hồ ăn và theo lời Phật dùng vôi
bột vung vào Quỷ. Người lại lấy lá dứa quất vào chúng.
Quỷ chạy không kịp, lại bị Phật bắt đầy ra biển Ðông.
Ngày Quỷ già, Quỷ trẻ, Quỷ đực, Quỷ cái cuốn gói ra
đi, bộ dạng của chúng vô cùng thiểu não. Chúng rập đầu
xuống đất cố xin Phật thương tình cho phép một năm được
vài ba ngày vào đất liền thăm phần mộ của tổ tiên cha
ông ngày trước, Phật thấy chúng khóc vang cả lên mới thương
hại, hứa cho.
Vì
thế, hàng năm cứ đến ngày Tết nguyên đán là ngày Quỷ
vào thăm đất liền, thì người ta theo tục cũ, trồng nêu
để cho Quỷ không dám bén mảng vào chỗ người đang ở.
Trên nêu có bánh đất mỗi khi gió rung thì tiếng động phát
ra để luôn luôn nhắc nhở bọn Quỷ nghe mà tránh. Cũng trên
đó có buộc một bó lá dứa hoặc cành đa mỏ hài để cho
Quỷ sợ. Ngoài ra, người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi
nhọn về phía Ðông và rắc vôi bột xuống đất vào những
ngày Tết để cấm cửa Quỷ. Có câu tục ngữ :
Cành
đa lá dứa treo kiêu (cao)
Vôi
bột rắc ngõ chớ trêu mọi nhà
Qủy
vào thì Quỷ lại ra
Cành
đa lá dứa thì ta cứa mồm.
Ngày
xưa người ta còn tin rằng những lúc cần đuổi Quỷ như
khi có dịch tễ chẳng hạn, thì treo một nắm lá dứa ở
trước ngõ hay vẩy máu chó khắp mọi nơi cho Quỷ khỏi quấy.
Ðàn bà thường buộc tỏi vào dải yếm là cũng có một mục
đích gần như vậy.
NGUYỄN ÐỔNG CHI
Truyện
cổ Việt Nam tập II
“Việt
Nam là suối
Phật
giáo là ngưồn
Nguồn
làm suối đẹp, nước tuôn hoài hoài.
Từ
nguồn ra đến biển khơi
Việt
Nam, Phật giáo đời đời bên nhau !”
Một
cách cho
Tại
thành Xá Vệ, nơi có Tịnh xá Kỳ Hoàn nổi tiếng với Ðức
Thế Tôn và chúng Tỳ Kheo Tăng thường trú ngụ.
Ngày
ngày ánh thái dương chiếu trên những tấm cà sa vàng rực
của các vị Tỳ kheo Tăng đi khất thực khắp các nẻo đường,
tạo nên cảnh tượng hiền hòa tươi mát đến mọi thôn xóm,
mọi gia đình, như đám mưa lành rưới khắp cỏ cây.
Tuy
vậy, rải rác cũng có những gia đình thiếu thiện duyên,
phước báo, nên hạt mưa pháp chưa thấm đến được, chẳng
hạn, gia đình một phú hộ ở cuối thành. Ông chủ nhà này
thừa hưởng một gia tài giàu có của tổ tiên để lại,
đồng thời cũng thừa hưởng luôn cả cái tánh keo kiệt,
hung dữ di truyền. Ông và vợ con ông đã quen nếp sống đó,
nên tưởng là đương nhiên chẳng có gì trái đạo. Vì vậy,
không ai dám khuyên hóa hay bày vẽ điều hay lẽ phải gì được
nếu có thì ông cũng gạt phăng đi hết. Trong nhà ít khi đầm
ấm, chồng không cãi với vợ, thì cha cũng gây gỗ, mắng
nhiếc con. Những câu nói thô tục, trái tai thường xuyên thốt
ra, vì vậy mà bà con xóm giềng đã tránh xa không ai thèm đặt
bước tới nhà, ngoại trừ mấy người bạn bè cùng tính
nết và mấy thầy Tỳ kheo đi khất thực. Theo phép bình đẳng
thứ lớp khất thực, thầy Tỳ kheo không lựa chọn nhà sang
hèn giàu nghèo. Trên bước đường đi cứ hết nhà này đến
nhà khác. Tới trước nhà nào cũng đứng lại năm ba phút
im lặng chúc phúc cho nhà đó, rồi lui gót đi sang nhà khác,
dù nhận được gì hay không cũng vậy. Khi đến trước nhà
ông phú hộ, thầy Tỳ kheo cũng dừng lại ít phút, nhưng thay
vì nhận được phẩm vật cúng dường như các nhà kia, thì
ở đây các Thầy chỉ nhận toàn những lời nguyền rủa,
xua đuổi.
Ngày
nào cũng như ngày nào, hễ thấy bóng mấy thầy Tỳ kheo dừng
bước trước nhà, thì vợ chồng ra mắng nhiếc xua đuổi.
Thấy
vậy, có thầy Tỳ kheo đề nghị chớ đến khất thực nơi
nhà ấy nữa. Nhưng thầy khác lại khuyên nên thực hành lời
Phật dạy, thầy dẫn ra một đoạn kinh cho các Tỳ kheo nghe
về hạnh khất thực: “Nầy các Tỳ kheo, đây là nghề sinh
sống hèn hạ nhất, tức là nghề khất thực. Như lời nguyền
rủa trong đời, khi người đời nói: “Các ngươi, kẻ khất
thực với bình bát trên tay, các ngươi đi chỗ này đến chỗ
kia”. Nhưng đây là nghề sinh sống mà các thiện gia nam tử
chấp nhận, những vị sống vì lý tưởng mục đích, duyên
với lý tưởng mục đích, không phải vì ma cưỡng ép, không
phải vì thiếu nợ, không phải vì sợ hãi, cũng không phải
vì không có nguồn sinh sống như với ý nghĩ: Ta bị chìm đắm
trong sanh già chết sầu bi khổ ưu não, bị chìm đắm trong
đau khổ, bị đoanh vây bởi đau khổ, nên ta tìm con đường
tu hành giải thoát và hóa độ chúng sanh.
Thế
là các Tỳ kheo vẫn tiếp tục đi khất thực không bỏ qua
nhà đó.
Một
hôm, thầy Tỳ kheo vừa đến cửa, thì bà phú hộ cũng vừa
đi ra, bà vụt miệng nói một câu nhẹ nhàng hơn bao nhiêu
lần trước:
-
“Thưa ông, ông hãy đi nơi khác để xin, ở đây tôi không
sẵn lòng cho ông đâu, xin đừng đứng lâu mất thì giờ của
ông đó”.
Nhưng
thầy Tỳ kheo vẫn thản nhiên đứng đủ vài phút rồi tiếp
tục đi. Giữa đường chợt gặp ông phú hộ đi ngược chiều
trở về nhà. Thấy thầy Tỳ kheo quá quen thuộc ngày nào cũng
vào xin nơi nhà mình, ông chận lại hỏi:
-
Này, ông mới vào xin nhà tôi ra phải không?
Thầy
Tỳ kheo trả lời:
-
Phải!
-
Có cho chi không?
-
Có cho.
Vừa
nghe hai tiếng “có cho” ông nổi cơn lôi đình chạy tốc
về nhà hỏi vợ:
-
Bà kia, ai bảo bà mang đồ cho Sa môn?
Bà
vợ nghe chồng hạch sách đột ngột lấy làm dửng dưng:
-
Ai nói ông đấy?
-
Ông Sa môn hồi nãy chứ ai!
-
Ồ, tôi nào có cho ông ấy thứ chi đâu!
-
Không cho sao ông ấy nói có cho?
-
Nếu không tin ông chạy theo mà tra soát.
Ông
phú hộ lại đuổi theo vị Tỳ kheo đang đi trong dáng khoan
thai đếm từng bước, đến nơi ông chẳng nói chẳng rằng
liền giựt lấy bình bát thầy Tỳ kheo ra xem, nhưng chẳng
thấy chi cả, ông liền ném bình bát xuống đất và mắng:
-
Tu hành mà nói dối! Ai cho gì đâu mà nói có cho?
Thầy
Tỳ kheo ôn tồn đáp:
-
“Ông hãy bình tĩnh, tôi sẽ nói ông nghe: bao nhiêu lần đến
khất thực nhà ông chúng tôi đều được nhận toàn những
lời nguyền rủa thô tục, nhưng sáng nay tôi vừa đến trước
ngõ thì bà chủ nhà đã cho tôi một câu nói nhẹ nhàng rằng:
“Thưa ông, ông hãy đi nơi khác để xin, ở đây tôi không
sẵn lòng cho ông đâu, xin đừng đứng lâu mất thì giờ của
ông đó”. Và tôi đã nhận lời nói đó như một phẩm vật
đặc biệt. Nghe vị Tỳ kheo nhã nhặn trình bày, ông phú hộ
thẹ thẹ cúi xuống lượm bình bát đặt lại trên tay Tỳ
kheo rồi lẳng lặng trở về, trong lòng suy nghĩ miên man. Ðến
nhà ông gọi vợ:
-
Này bà, từ trước tới nay, nhà ta có cho những gì các vị
Sa môn không?
-
Ông chẳng nhớ sao, các ông đến là mình mắng nhiếc, xua
đuổi đi chứ có cho vật gì.
-
Thôi, kể từ đây tôi đề nghị với bà rằng, mình đã không
cho đồ đạc của cải thì thôi, cũng đừng dùng lời lẽ
chua cay mà mắng nhiếc các vị Sa môn ấy nữa. Họ có tội
tình gì mà phải nghe lấy những điều sỉ nhục mạt sát
của mình. Họ cũng đâu bắt buộc mình cho cơm áo họ đâu,
họ chỉ làm công việc của một kẻ tu hành, của một người
khất sĩ xin ăn, làm ruộng phước cho bao nhiêu người gieo
trồng căn lành, giống tốt, ai có gieo giống thì họ được
gặt quả, còn mình, mình không làm thì thôi cớ sao lại mạ
nhục họ. Bà thấy không mình phi lý đấy chứ.
Nghe
chồng nói một thôi dài, bà vợ im lặng suy nghĩ.
Kể
từ khi gặp vị Tỳ kheo hôm nọ, đời sống gia đình ông
phú hộ, người ta không còn nghe những lời to tiếng, những
trận cãi vợ con, đánh đập tôi tớ, một đời sống thuận
hòa trên dưới nhường nhau đã tạo ra một không khí đầm
ấm hạnh phúc.
Và
cũng kể từ đây, gia đình ông biết ăn ở đối xử với
mọi người chung quanh. Nhờ vậy, bà con láng giềng thường
hay lui tới bắt mặt làm quen, mối tình lân cận càng thêm
thắm thiết.
GIỚI ÐỨC
“Lời
nói không mất tiền mua,
Lựa
lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
Công
Ðức thọ Bát quan trai
Một
thuở nọ, Ðức Thế Tôn và đại chúng Tỳ kheo ngự tại
Kỳ Viên Tịnh xá của Ông Trưởng giả Cấp Cô Ðộc, vườn
cây thái tử Kỳ Ðà, tại thành XáVệ.
Thuở
ấy có một thiếu nữ tên Sa Ta, là con gái của một vị thiện
tín rất nổi danh tại Xá Vệ. Nàng Sa Ta, tuy tuổi vừa đôi
tám, nhưng tư chất rất thông minh, thường đến chùa nghe
pháp, nên rất thấm nhuần Phật Pháp.
Năm
ấy Sa Ta đến tuổi trưởng thành, song thân chọn nơi môn
đăng hộ đối, gia phong lễ giáo của một gia đình danh giá
để gả nàng. Một tiệc cưới linh đình dọn ra, hai họ đều
lả Phật tử thuần thành nên tất cả đều cung thỉnh Ðức
Phật và chư Tăng đến cúng dường trai tăng trong sự hoan
hỷ tột cùng của mọi người.
Sau
tiệc cưới, Sa Ta về chung sống bên gia đình cha mẹ chồng.
Vốn là người khéo léo, siêng năng và tế nhị nên chẳng
bao lâu nàng chiếm cảm tình của mọi người trong gia đình
bên chồng, nàng tận tâm phụng dưỡng cha mẹ chồng, hầu
hạ chồng, săn sóc mọi người chung quanh. Sa Ta rất giàu lòng
từ bi, thường bố thí thức ăn quần áo cho kẻ ăn người
ở và những kẻ khốn cùng.
Ðến
ngày Bát quan trai, nàng tinh tấn thọ giới, giữ gìn giới
hạnh hết sức trong sạch, không hề giải đải.
Cha
mẹ chồng của nàng đều là những người có đức tin Tam
Bảo, trước những đức hạnh tuyệt vời của Sa Ta nên cha
mẹ chồng càng yêu thương quý mến nàng dâu nhiều hơn nữa.
Thời
gian thấm thoắt trôi nhanh, đến khi tuổi thọ đã mãn, do
nghiệp thiện đã tạo ở nhân gian nàng Sa Ta được thọ sanh
về cõi Tứ Ðại Thiên Vương làm ái nữ Ðức Thiên Vương,
cũng mang tên Sa Ta như lúc ở cõi Ta Bà.
Ðức
Thiên Vương có năm cô con gái xinh đẹp tuyệt trần: Nàng
Sa Ta, nàng Sa Ja, nàng Ba Va Ra, nàng A Chi Mu Ta và nàng Su Tra.
Ðến
khi các cô tiên trưởng thành, đúng tuổi trăng tròn, Ðức
Thiên Vương Ðế Thích chọn năm nàng về cung trời Ðao Lợi
để sung vào đoàn ca nhi trong thiên đình của Ngài. Năm cô
tiên xinh đẹp ấy, hằng ngày chỉ ca múa để dâng lên Ðế
Thích thưởng ngoạn.
Một
hôm, năm nàng có sự tranh luận với nhau, một trong năm nàng
hỏi rằng:
-
Trong chúng ta, ai là kẻ có giọng tốt và vũ đẹp hơn cả?
Ai
cũng tự nhận mình hát hay và vũ đẹp hơn cả, cuộc tranh
luận gay cấn, càng lúc càng gia tăng, năm nàng không thể tự
giải quyết được, liền đem vấn đề ấy trình lên phụ
vương để phân giải giùm.
Năm
cô tiên cùng tâu rằng:
-
Muôn tâu phụ vương, trong năm chúng con ai là kẻ hát hay và
vũ đẹp hơn cả? Kính xin phụ vương hãy phân giải giùm cho
công bằng.
Thiên
Vương ít khi trực tiếp nghe con mình hát, sau một chút suy
nghĩ mới phán rằng:
-
Này các con yêu quý của cha, nếu các con muốn biết ai hát
hay và vũ đẹp hơn cả thì con nên đến ca vũ ngay trước
sự chứng kiến của chư thiên trên bờ hồ A Nô Tát Ta, nơi
rừng Tuyết Sơn biên quốc thì các con sẽ biết sự thật.
Tuân
lời phán dạy của phụ vương, năm nàng tiên bèn tổ chức
một buổi trình diễn để trổ tài ca vũ cho chư thiên thưởng
ngoạn và chấm điểm.
Rừng
Tuyết Sơn, vùng đất âm u vắng vẻ, bỗng chốc trở thành
ca vũ trường vĩ đại nhất trong lịch sử.
Lúc
ấy chư thiên từ bốn phương đồng nhau đến rừng Tuyết
Sơn đông đảo chưa từng thấy, để thưởng ngoạn tài nghệ
của năm cô tiên xinh đẹp ấy.
Năm
cô lần lượt trổ tài trước sự diện kiến của chư thiên.
Nàng Sa Ja khởi đầu bằng những bài hát tuyệt vời và những
vũ điệu tuyệt kỹ. Tiếp đến cô Ba Va Ra cất tiếng oanh
vàng lảnh lót, cùng những vũ khúc vô cùng công phu. Ðến
lượt A Chi Mu Ta và Su Tra lần lượt biểu diễn tài nghệ
trước chư thiên thì chư thiên vẫn yên lặng không chê mà
cũng không tán thưởng. Cuối cùng đến Sa Ta cất tiếng bổng
trầm, đây mới thật là cung đàn muôn điệu thật lảnh lót
du dương, hòa nhã như tiếng chim Ca Lăng Tần Già.
Nàng
Sa Ta lại xoay qua những điệu vũ thật như những cánh bướm
lượn trong nắng xuân, như đàn thiên nga bơi lội trên mặt
hồ, như tất cả tinh hoa vũ trụ đều tập trung nơi đây.
Từng
tràng pháo tay rộn rã cả khung trời, tán thưởng tài nghệ
vô cùng điêu luyện, vô cùng xuất sắc của Sa Ta, những lời
hoan hô và chúc lành vang rền cả rừng Tuyết Sơn.
Su
Tra, cô tiên út vô cùng thán phục Sa Ta bèn đến hỏi rằng:
-
Thưa chị, hồi tiền kiếp chị làm được những công đức
gì mà bây giờ có nhan sắc tuyệt đẹp và có giọng hát trong
thanh như tiếng chim Ca Lăng Tần Già và được thông minh như
thế?
Nàng
Sa Ta dịu dàng đáp:
-
Chị có sắc đẹp, giọng hát hay, thông minh như thế này vì
kiếp trước chị đã giữ giới Bát quan trai từ tấm bé cho
đến tuổi già không bị phạm giới lần nào cả.
GIỚI
ÐỨC
“Phật
tử muốn kiến lập Phật Pháp duy trì Chánh Giáo ở thế gian,
cần phải tự mình thọ trì giới luật trước”.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
“Khu ô sa di” là chú tiểu còn quá nhỏ chưa đến tuổi
thọ giới (16 tuổi) chưa làm được việc gì ngoài việc đuổi
quạ cho chúng khỏi làm ồn náo trong giờ chư tăng tọa thiền”