|
c
Vài
Nét Về
Thượng
Tọa Thích Tuệ Sỹ
Viên Linh
Tuệ Sỹ
Phạm Văn Thương sinh ngày 15-2-1943 tại Paksé, Lào, nguyên quán
Quảng Bình, Trung Phần, Việt Nam, qui y Phật từ thuở đồng
nhi, tốt nghệp Viện Cao Ðẳng Phật Học Saigon năm 1964 và
Viện Ðại Học Vạn Hạnh phân khoa Phật học năm 1965. Ðược
đặc cách bổ nhiệm Giáo sư thực thụ Viện Ðại Học Vạn
Hạnh từ năm 1970 nhờ những công trình nghiên cứu và những
khảo luận triết học có giá trị hết sức cao, như Ðại
Cương Về Thiền Quán, Triết Học Về Tánh Không
(An Tiêm Saigon, 1970). Rất giỏi chữ Hán, rành chữ Pháp, chữ
Anh, chữ Pali và chữ Phạn. Ông cũng đọc hiểu tiếng Ðức,
nghiên cứu kỹ về Heidegger và Hoelderlin. Cuốn Thiền
Luận nổi tiếng của D.T Suzuki bản Việt ngữ
là do ông dịch.
Tuệ Sỹ là một học giả uyên
bác về Phật Giáo Nguyên Thủy và Ðại Thừa, đọc và nghiên
cứu Tô Ðông Pha từ nguyên tác, để lại một tác phẩm chan
hòa tính thơ: Tô Ðông Pha, Những Phương
Trời Viễn Mộng (Ca Dao Saigon, 1973). Những lúc
rảnh ông chơi dương cầm. Ông làm nhiều thơ, viết một số
chuyện ngắn đặc sắc, phần lớn đăng trên tạp chí Khởi
Hành (1969-1972) và Thời
Tập tại Saigon (1973-1975), khi đứng tên trong Bộ
Biên Tập tạp chí này. Ông cũng là Chủ bút Tạp Chí Tư
Tưởng của Viện Ðại Học Vạn Hạnh.
Vào ngày 1-4-1984, Thượng Tọa Tuệ
Sỹ bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt giữ cùng giáo sư Trí
Siêu Lê Mạnh Thát và 19 Tăng ni, sĩ quan cũ của QLVNCH, bị
kết án mưu võ trang lật đổ chính quyền và trong phiên tòa
kéo dài nhiều ngày cuối tháng 9 1980, ngày 30 ông bị kết
án tử hình cùng giáo sư Lê Mạnh Thát.
Do sự tranh đấu tích cực của
các cơ quan nhân quyền quốc tế, Hà Nội phải giảm án xuống
còn chung thân khổ sai, đem giam ông tại trại A-20 Phú Yên.
Tháng 10.1994, cùng với 200 tù nhân, ông tham gia biểu tình đòi
gặp phái đoàn Liên Hiệp Quốc và thực hiện các quyền khác,
nên bị Cộng Sản đầy ra Bắc.
Những lời tuyên bố của người
tù lương tâm Tuệ Sỹ, tại Tòa Án, cũng như khí phách kiên
cường lúc trong tù, là gương sáng chói lọi, và niềm tự
hào của Phật giáo và của dân tộc: "Lập trường của
chúng tôi là lập trường của Phật giáo, là lập trường
của toàn khối dân tộc". Năm 1998, Hà nội thả Thượng
Tọa, cùng với một số người khác. Trước đó, ông đã
tuyệt thực trong tù. Trước khi thả, họ muốn Tuệ Sỹ ký
vào lá đơn Xin Khoan Hồng để gửi lên ông Chủ Tịch Nhà
Nước Trần Ðức Lương, Tuệ Sỹ trả lời: 'Không ai có quyền
xét xử tôi, không ai có quyền ân xá tôi". Họ nói không viết
đơn thì không thả. Tuệ Sỹ không viết, và tuyệt thực.
Họ phải thả ông, sau 10 ngày tuyệt thực. Hôm đó là ngày
1.9.1998.
Sáng hôm sau, lúc 10 giờ 45, Thượng
Tọa Tuệ Sỹ được đưa lên tầu hỏa về Nam. Theo lời kể
với ông Võ Văn Ái, Thượng Tọa ngồi suốt 36 tiếng đồng
hồ trên tầu thì không chịu đựng thêm, vì rất yếu sau
10 ngày không ăn ở trong tù. Ông xuống Nha Trang, vào Phật
học viện Hải Ðức.
Thượng Tọa Tuệ Sỹ tuyệt thực
một mình, không có tổ chức, báo chí không biết. Ông tuyệt
thực "để khẳng định mình", như ông nói. Ít lâu sau
Hà Nội lại ra lệnh ông phải về chốn cũ, là Chùa Già Lam
ở Gia Ðịnh, chứ không được phép ở lại Chùa hải Ðức.
Ông từ chối, viết một lá thư gửi cho nhà cầm quyền Hà
Nội, nói một là ở Hải Ðức, hai là vào tù trở lại. Tin
này có loan trên báo chí hải ngoại.
Trước sau, tác giả Những Phương
Trời Viễn Mộng đã bị giữ trong nhà tù Cộng sản 14 năm.
Giữa tháng 4 năm 1999, Hòa thượng Quảng Ðộ đề cử Thượng
Tọa làm Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo.
Source: Khởi Hành Số
31.
|