|
c
TUỔI
TRẺ LÊN ĐƯỜNG
Tuệ Sỹ
I. CHUẨN
BỊ HÀNH TRANG
MỘT VẬN
HỘI MỚI CỦA ĐẠO PHẬT
Tịnh xá
Kỳ Viên là nơi thường lai vãng của các tỳ kheo từ các
phương xa đến thăm viếng đức Đạo sư để nghe Ngài nói
về những sự thật của đời người, đến bản chất tồn
tại của vạn hữu. Một số đông các tục gia đệ tử cũng
thường đến để nghe pháp, để giúp đỡ các tỳ kheo những
phương tiện cần thiết cho đời sống tu tập của họ. Không
ngày nào vắng khách; và số khách đến, với xe ngựa, với
những đoàn tùy tùng tấp nập, thật không phải là ít. Nhưng
tất cả mọi người dù là tăng hay tục, đều đến trong
im lặng và đi trong im lặng. Tinh xá lúc nào cũng giữ vẻ
cô tịch của một cõi đời, ở ngoài tất cả mọi cõi đời,
của những sự sống đang cố vươn mình lên trên những định
luật khắt khe chi phối sự sống.
Và một hôm,
không biết từ đâu đến vô số khách lạ chưa bao giờ thấy.
Họ đến từ phương Đông, từ phương Tây, từ mọi phương,
từ những thế giới thật xa xăm diệu vợi. Họ khoác những
chiếc áo sặc sỡ đủ mọi màu sắc, ngự trên những cỗ
xe lộng lẫy, với những tàn lọng làm bằng các thứ tơ lụa
của thiên thần. Con số những người khách lạ này không
chỉ hàng trăm hay hàng nghìn. Thật là vô số kể. Hàng trăm
triệu, hàng trăm tỷ. Hơn thế nữa, nhiều không thể đếm.
Nhiều đến mức không thể tưởng tượng nổi một con số
gần với cụ thể.Dù vậy, dù với số vô tận ấy, dù với
những hiện tượng kỳ diệu chưa từng thấy ấy, tất cả
đều không gây sự ngạc nhiên đáng chú ý nào đối với
các tỳ kheo đang ngụ ở Kỳ viên. Họ vẫn im lặng như mọi
ngày. Vẫn thực hiện những bổn phận như mọi ngày. Thậm
chí, họ như không biết có sự hiện diện của vô số khách
lạ này; không biết đến những gì đang xảy ra và đang làm
thay đổi khung cảnh u tịch của tinh xá này. Nhưng, những
người khách lạ kia đến đây để làm gì nhỉ? Vâng, họ
đến theo dấu hiệu triệu của Phật. Dấu hiệu ấy là tâm
đại bi tràn đầy khắp cả hư không vô tận. Đức Phật
đã rải tâm đại bi ấy bằng thiền định, được mệnh
danh là thiền định của con sư tử vươn mình. Họ nhận được
dấu hiệu triệu ấy từ hư không, qua những làn ánh sáng
chói ngời đức tính đại bi và đại trí. Họ đến để
tham dự một cuộc hội nghị thảo luận về chương trình
hóa đạo và hành đạo do hai vị Bồ tát Thượng thủ chủ
trì: Bồ tát Phổ Hiền, Viện trưởng viện Hành đạo, và
Bồ tát Văn Thù, Viện trưởng Viện Hóa đạo.
Trườc hết,
Ngài Viện Trưởng Viện Hành Đạo, Bồ tát Phổ Hiền, giới
thiệu một chương trình hành đạo thật vô cùng vĩ đại.
Phạm vi hành đạo bao gồm từ một thế giới nhỏ xíu bằng
hạt cát, thậm chí nhỏ hơn nữa: bằng một nguyên tử, cho
đến những thế giới bao la trải rộng từ vô cực này đến
vô cực khác. Thời gian hành đạo có thể chỉ trong vòng khoảnh
khắc một sát na, và có thể lâu dài đến vô lượng vô số
đại kiếp. Người hành đạo có thể hành đạo dưới mọi
hình thức; hoặc bằng những đoàn thể mà con số đoàn viên
nhiều như những đám mây lớn che kín cả vũ trụ, hoặc độc
nhất chỉ một mình; có thể là một thầy tu, có thể là
thương gia, có thể là một ẩn sĩ khổ hạnh, hay một y sĩ,
một nghệ sĩ, một chính khách, v.v
Sau cương
lĩnh thống nhất của cả hai Viện được thông qua, Bồ tát
Văn Thù rời khỏi Thiên Trụ lâu các, nơi diễn ra đại hội
nghị, cùng với vô số Bồ tát đồng hành, đi về phương
nam để thực hiện chương trình tuyên giáo của Viện Hóa
Đạo.
Dù sao, kết
quả của đại hội cũng đã gây được sự chú ý của một
vị tỳ kheo lão thành của tinh xá Kỳ viên; tôn giả Xá Lợi
Phất nhận thấy nghi biểu trác việt siêu quần của Bồ tát
Văn Thù, Tôn giả Xá lợi Phất xin phép Phật được theo dõi
cuộc vận động tôn giáo của Viện Hóa Đạo. Tôn giả dẫn
theo sáu ngàn tỳ kheo. Họ dừng lại giữa đường. Tôn giả
Xá Lợi Phất ca ngợi với sáu ngàn vị tỳ kheo trẻ tuổi
này về cốt cách của một con người siêu việt với một
tâm hồn siêu việt như Bồ Tát Văn Thù. Các tỳ kheo trẻ
tuổi yêu cầu được hướng dẫn đến diện kiến con người
siêu việt đó. Theo lời yêu cầu này, tôn giả Xá lợi Phất
giới thiệu họ với Bồ tát Văn Thù. Như tư thái của một
con voi chúa khi quay mình nhìn lui, Bồ tát quay nhìn các vị
tỳ kheo trẻ ấy, khuyến khích họ, giới thiệu với họ mười
điều tâm niệm cao cả để có thể trở thành một nhân cách
tuyệt vời. Đó là mười tâm nguyện không bao giờ biết mệt
mỏi:
1.- Tâm nguyện
mong cầu được tham kiến, được gần gủi và phục vụ hết
thảy cả chư Phật mà không bao giờ biết mệt mỏi.
2.- Tâm nguyện
tích tập hết thảy tất cả những thiện căn mà không bao
giờ biết mệt mỏi.
3.- Tâm nguyện
mong cầu học hết tất cả Phật pháp mà không bao giờ biết
mệt mỏi.
4.- Tâm nguyện
thực hành tất cả các ba la mật mà không bao giờ biết mệt
mỏi.
5.- Tâm nguyện
thành tựu tất cả tam muội của Bồ tát mà không bao giờ
biết mệt mỏi.
6.- Tâm nguyện
lần lượt thâm nhập hết tất cả tam thế mà không bao giờ
biết mệt mỏi.
7.- Tâm nguyện
làm trang nghiêm thanh tịnh thế giới Phật trong cả mười
phương mà không bao giờ biết mệt mỏi.
8.- Tâm nguyện
giáo hóa và điều phục hết thảy chúng sinh mà không bao giờ
biết mệt mỏi.
9.- Tâm nguyện
thành tựu Bồ tát hạnh trong hết tất cả cõi Phật qua suốt
vô số chu kỳ thời gian vô tận mà không bao giờ biết mệt
mỏi.
10.-Tâm nguyện
thực hiện tất cả vô số ba la mật nhiều bằng vô số hạt
bụi trong vô số thế giới Phật, thành tựu tất cả mười
uy lực của Như Lai với mục đích là để thành thục tất
cả chúng sanh, mà không bao giờ biết mệt mỏi.
Sau khi khích
lệ sáu ngàn tỳ kheo trẻ này nêu cao chí nguyện Phật đà,
Bồ tát Văn Thù tiếp tục đi về phương nam.
MỘT NHÂN
CÁCH LÝ TƯỞNG CỦA THANH NIÊN PHẬT TỬ
Bồ tát Văn
Thù và đoàn tuyên giáo của ngài dừng lại phía đông Phước
thành, ngụ trong rừng cây Sa la có tên là Trang nghiêm tràng.
Ở đó có một ngôi tháp cổ to lớn, là nơi mà trước kia
đức Thế Tôn đã từng ở đó tu Bồ tát hạnh, cho nên được
nổi tiếng khắp cả mọi thế giới Phât.
Tại đây,
Bồ tát Văn Thù cũng thuyết giáo cho vô số cư sĩ nam,
cư sĩ nữ, vô số thanh niên và thiếu nữ. Trong số những
thanh niên đến nghe thuyết giáo này, Ngài chú ý đến một
thanh niên có một tư cách đặc biệt, đó là Thiện Tài đồng
tử.Thiện Tài, nghĩa là một nhân cách có một đức tính
nội tại phong phú, được ghi nhận ngay từ khi mới thụ thai
qua những dấu hiệu mà
người ta
có thể biết được. Đó là những giá trị có thể hình
dung một cách cụ thể bằng bảy loại mỏ quý: mỏ vàng,
mỏ bạc, mỏ lưu ly, mỏ pha lê, mỏ trân châu, mỏ mã não,
mỏ xa cừ, và những cá tính nội tại của vị đồng tử
vừa thọ thai này đã chói sáng chung quanh như sự ngời sáng
của bảy loại mỏ ấy.
Nhận thấy
nơi người thanh niên này những cá tính ngời sáng, Bồ tát
Văn Thù giới thiệu tính cách bao la hoằng vĩ của Phật pháp,
sự thành tựu cao cả của Phật thừa, chí nguyện bao la không
cùng tận của Bồ tát đạo, gợi lên nơi mọi người tâm
nguyện tự giác vô thượng, chí nguyện vị tha vĩ đại. Sau
đó Bồ tát bỏ đi.
Thiện Tài
nhìn theo, và do sự thúc đẩy mãnh liệt của lý tưởng Phật
thừa và chí hướng Bồ tát đạo vừa được khơi dậy, vội
vã theo gót Văn Thù, mong mỏi được chỉ dạy con đường
học hỏi và thực hành Bồ tát hạnh. Như tư thái một con
voi chúa nhìn lui, Bồ tát Văn Thù quay lại nhìn Thiện Tài,
ca ngợi lý tưởng cao cả và chí nguyện vĩ đại của người
thanh niên này, rồi Bồ tát chỉ giáo vắn tắt: “Gần gũi
và phụng sự các thiện trí thức, đó là nhân duyên tối
sơ để thành tựu trọn vẹn nhất thiết trí. Do đó, đừng
bao giờ mệt mỏi với điều này.”
Như vậy,
một nền tảng sinh hoạt của thanh niên đã được nêu lên
một cách cụ thể: một tình bạn chân thành với một trái
tim rực cháy. Học đạo và hành đạo bằng trái tim nhiệt
thành, bằng tình bạn thiêng liêng cao quý. Đi khắp mọi nơi,
đến với mọi người, hướng tới sự nghiệp cao cả của
Phật thừa, từ đây về sau, trong cuộc lữ hành đơn độc,
một mình một bóng như cánh nhạn giữa bầu trời bao la vô
tận, Thiện Tài không bao giờ cảm thấy cô độc, không bao
giờ biết mệt mỏi, trong bất cứ nghịch cảnh nào với muôn
vàn gian khổ nào vẫn tìm thấy hương vị mặn nồng của
tình bạn chân thành để có thể giữ vững ý chí ngoan cường
tiến thẳng tới.Bồ tát Văn Thù còn dạy thêm: “muốn
thành tựu Nhất thiết trí, cần phải quyết định tìm đến
với chân thiện tri thức, với những người bạn hiền. Không
bao giờ biết mệt mỏi trong việc tìm bạn, không bao giờ
cảm thấy đủ trong việc tìm bạn, không bao giờ xao lãng
những điều khuyên bảo tốt đẹp của bạn hiền, và không
bao giờ cố ý tìm tòi những khuyết điểm của bạn hiền.”
Và rồi Ngài chỉ đường cho Thiện Tài đi về phương Nam
để học hỏi những điều cần học hỏi với các chân thiện
tri thức ở đó.
Vâng lời
chỉ dạy, Thiện Tài từ giã ân sư lên đường, với tình
cảm quyến luyến như không muốn rời khỏi vị thầy khả
kính của mình, với nước mắt lưng tròng, và với ước ao
gặp gỡ kỳ ngộ với người bạn đáng yêu chưa hề quen
biết đang chờ đợi mình một nơi nào đó trong một thế
giới xa lạ nào đó.
PHẦN THI
TỤNG
Và rồi,
cuối cùng Thiện Tài đã cất bước xuống núi, đi về phương
Nam. Và bấy giờ, chúng ta sẽ theo dõi cuộc hành trình này
qua những bài thơ Đường luật của Phật Quốc Duy Bạch thiền
sư người đời Tống. Về tiểu sử, về lai lịch các bức
minh họa và các bài thơ kèm theo, chúng ta sẽ chờ một dịp
khác, nếu thuận tiện. Vì đấy là công việc khảo cứu;
nó không hấp dẫn chúng ta cho lắm.Về các bài thơ này, chúng
ta cũng chỉ mới cố gắng dịch theo văn xuôi mà thôi. Để
chờ một dịp thuận tiện nào đó, khi mà nguồn thi hứng
bất thần hiện đến. Nhưng chúng ta hy vọng rằng nguyên văn
chữ Hán cũng phải là khó thưởng thức đối với đa số
độc giả. Tuy nhiên, một số điểm cần được chú thích
để có thể lãnh hội rõ ràng nội dung của mỗi bài thơ,
và do đó, để có thể thưởng thức trọn vẹn ý vị của
nó.
BÀI THƠ THỨ
NHẤT
Xuất lâm
hoàn hựu nhập lâm trung,
Tiện thị
sa-la Phật miếu đông;
Sư tử hống
thời phương thảo lục,
Tượng vương
hồi xứ lạc hoa hồng.
Lục thiên
khất sĩ thập tâm mãn,
Ngũ chúng
cao nhân nhất tín thông;
Trân trọng
ngô sư hướng nam khứ,
Bách thành
yên thủy diệu vô cùng.
Dịch nghĩa:
Ra khỏi
rừng, rồi quay vào rừng trở lại,
Đấy là
phía đông của miếu Phật, rừng sa la
Khi sư tử
cất tiếng rống, cỏ non đâm chồi xanh biếc;
Trên lối
về của voi chúa, những cánh hoa rụng trổ lại màu hồng,
Sáu nghìn
khất sĩ đầy đủ cả mười tâm niệm;
Năm nhóm
cao nhân đã thông suốt một niềm tin.
Ân cần
từ giã Thầy, đi về phương Nam, (trước mắt) hằng trăm
thành thị trong bóng mờ khói nước diệu vợi vô cùng.
BÌNH GIẢI
Nội dung
mô tả sự việc mà chúng ta đã thuật ở trên.Theo quan điểm
chú giải của các nhà Hoa nghiêm tông Trung Hoa, cuộc hành trình
của Thiện Tài đễn qua 53 bối cảnh. Mỗi bối cảnh là một
giai đoạn trong quá trình tu chứng của Bồ tát gồm: Thập
tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa,
đẳng giác và diệu giác.Giai đoạn sơ khởi, Thiện Tài gặp
Văn Thù, được nghe thuyết pháp và vượt qua địa vị thập
tín. Trong bài thơ nói: nhất tín thông, là để ghi nhận điểm
này. Tín ở đây có nghĩa là tin tưởng khả năng nhất định
sẽ thành Phật của mình.Hai câu 3 và 4, nói đến tác dụng
của đại trí và đại bi trong quá trình học đạo, hành đạo
và hóa đạo. Chủ ý là ca ngợi sự thuyết giáo của Văn
Thù.Do sự thuyết giáo này, sáu nghìn tỳ kheo phát khởi tâm
nguyện bồ đề. Trước đó, họ hướng đến sự giải thoát
của bản thân với sự diệt trừ các ô nhiễm tâm. Tâm hồn
họ bấy giờ như đống tro tàn nguội lạnh, nhìn đời bằng
con mắt dửng dưng, không hàm chứa một tâm nguyện thiết
tha nào đối với Phật thừa cao cả. Lý tưởng cuối cùng
của họ là sau cuộc đời này không còn tái sanh vào một
cuộc đời nào nữa, tự hưởng thọ riêng mình pháp lạc
tối thượng của Niết bàn. Tâm hồn họ như những cánh hoa
đã rụng, đã héo uá. Nhưng, trên lối về của con voi
chúa, nghĩa
là qua lối nhìn “tượng vương hồi thị”, như cái nhìn
lui của voi chúa, của Bồ tát Văn Thù, họ được khơi dậy
niềm tin đối với Phật thừa. Tâm hồn như cánh hoa rụng
của họ bỗng chốc trổ lại màu hồng rực rỡ.Và thêm nữa,
khi tiếng nói của đại trí cất cao như tiếng rống của
sư tử, thì hạt giống giác ngộ có sẵn trong mỗi người
bấy giờ bị chấn động và nứt chồi, như tiếng sấm đầu
xuân cho cây cỏ trổi màu xanh biếc. Hai câu cuối, mô tả
tình sư đệ quyến luyến của Thiện Tài trước khi từ giã
Bồ tát văn Thù, và Thiện Tài nhìn vào bước đường phiêu
lưu trước mắt thấy như là một thế giới bao la với vô
số thị thành thấp thoáng sau màn khói nước mông lung, xa
xôi và vô tận.Sau khi ân cần bái biệt sư phụ, Thiện Tài
lên đường du học; một mình một bóng như cánh nhạn đơn
độc giữa bầu trời vô tận. Nhìn ra xa, chỉ thấy một màu
khói mây và sóng nước bao la, mà những bước đường học
hỏi cũng bao la như vậy. Chí nguyện càng cao, tâm nguyện càng
lớn, thì sở học cũng cao và lớn như vậy.
II. ĐI
TÌM ẨN SỸ
Vâng theo
những dặn dò của sư phụ, Thiện Tài theo hướng Nam đảo
Deccan, lần hồi đi đến nước Thắng lạc (Ràmàvarànta).
Tại nước này, có một ngọn núi tên là Diệu phong (Sugrìva),
đó là nơi tu dưỡng của Tỳ kheo Đức Vân (Meghasrì). Núi
thì cao, mà rừng thì sâu, bóng người thiện hữu ấy biết
tìm nơi đâu? Nhưng với ước vọng nồng nhiệt, mong gặp
được bạn hiền như người khát mong tìm thấy nước. Thiện
Tài leo khắp mọi đồi núi của dãy Diệu phong. Suốt một
ngày, vẫn không tìm ra tông tích. Rồi ngày hai, cũng chỉ thâý
mây trời phảng phất, lá rừng và suối nước rì rào, nhưng
bóng người thiện hữu vẫn mù tăm. Rồi ngày ba, ngày bốn
v.v
Bóng người
thấp thoáng rừng sâu
Mây ngàn
phủ lối biết đâu mà tìm?
Cho đến
ngày thứ bảy, duyên hội ngộ cũng là duyên tình cờ ngẫu
nhĩ, Thiện Tài trông thấy Đức Vân đang thong dong tản bộ
trên một ngọn núi bên kia, vội vàng tìm sang ra mắt, nói
lên tâm nguyện chí thành của mình và xin được thiện tri
thức chỉ giáo.
Cùng với
Đức Vân trên ngọn núi Diệu phong này, Thiện Tài dưới sự
hướng dẫn chí tình cuối cùng đã học hết tất cả sở
đắc của người Thầy và cũng là bạn cao quý này. Ở nơi
Đức Vân, trước hết Thiện Tài học hỏi được sự củng
cố niềm tin kiên quyết. Với niềm tin đó, Thiện Tài lại
học được pháp môn làm thế nào có thể ghi nhớ tất cả
Chánh pháp của hết thảy các đức Phật. Sau khi công phu này
đã được thành tựu. Đức Vân lại hướng dẫn Thiện Tài
phát triển con mắt chánh tín. Bằng con mắt chánh tín thanh
tịnh này, Thiện Tài lần lượt chứng kiến những sinh hoạt
hi hữu của vô số Phật trong khắp tất cả mười phương
thế giới, thấy những sắc tướng kỳ diệu của các Ngài,
thấy những chúng hội đạo tràng trang nghiêm của các Ngài.
Pháp môn thành tựu cuối cùng với thiện tri thức này là
pháp môn Phổ kiến, nghĩa là có khả năng thấy suốt và ghi
nhớ trọn vẹn hết thảy nguồn sáng trí tuệ vô biên của
cõi Phật.Thế nhưng, con đường học hỏi Phật pháp không
phải đến đây là thỏa mãn. Đức Vân cho biết, giới hạn
sở học của mình chỉ có như thế, và khuyến khích Thiện
Tài nên nỗ lực tìm kiếm các thiện tri thức khác để học
hỏi thêm nhiều hơn nữa, rồi giới thiệu Thiện Tài đến
nước Hải môn mà học tập với tỳ kheo Hải vân.
THI TÁN
Đức Vân
trường tại Diệu cao phong,
Hành nhiễu
phong đầu bất định tung;
Thất nhật
ký vân tầm bất kiến,
Nhất triêu
hà cố khước tương phùng.
Phát tâm
trụ xứ sư duyên hợp,
Phổ kiến
môn trung Phật cảnh dung;
Hồi thủ
tịch dương pha hạ vọng,
Bạch vân
thanh chướng vạn thiên trùng.
Dịch nghĩa
Đức Vân
sống mãi trên đỉnh Diệu phong,
Tán bộ
đầu non, hành tung bất định;
Qua suốt
bảy ngày đã tìm chẳng thấy,
Vì sao một
sớm lại tương phùng?
Duyên sư
đệ gặp nhau nơi Phát tâm trụ,
Trong pháp
môn Phổ kiến, cõi Phật xuất hiện trùng trùng;
Quay đầu
nhìn xuống sườn non trong bóng chiều,
Mây trắng
núi xanh muôn vạn lớp.
BÌNH CHÚ
Sau khi đã
được Bồ tát Văn Thù khai đạo, Thiện Tài vượt lên địa
vị Thập tín của một Bồ tát sơ cơ. Ở địa vị này, niềm
tin đối với Phật thừa đã được xác lập, tin tưởng nhất
định vào sự giác ngộ cuối cùng của mình và biết rằng
sự nghiệp duy nhất của đời mình là hướng đến sự giác
ngộ đó. Khi niềm tin đã có thì cần phải tu tập để được
củng cố. Do đó, tiến thêm bước nữa, với mười giai đoạn
trong quaù trình tu chứng tiếp theo là địa vị Thập trụ.
Đầu tiên là Phát tâm trụ, nghĩa là an trụ vững vàng trong
chí nguyện Phật thừa. Mặc dù đây chưa phải là đạt đến
địa vị một Thánh giả, nhưng cũng là vị trí cao cả vượt
lên trên thế gian. Vì vậy để học hỏi Phát tâm trụ, Thiện
Tài được giới thiệu lên đỉnh núi. Đức Vân là biểu
tượng của đám mây lành che mát thế gian. Đỉnh núi càng
cao thì tầm nhìn càng rộng, nhờ đó mà Thiện Tài học được
Pháp môn Phổ kiến. Sự kiện phải tìm kiếm bảy ngày mới
gặp Đức Vân, được giải thích là trước khi bước vào
phát tâm trụ cần phải trải qua bảy phương tiện, hoặc
phải học tập bảy giác chi. Cách học của Thiện Tài là
không học bằng từ chương mà bằng vào sinh hoạt thực tiễn,
như Tổ Huệ Năng học đạo Thiền bằng các công phu gánh
nước, đốn cũi, giã gạo. Do đó, mỗi biến cố trên bước
đường hành hương là một vấn đề cần phải học hỏi,
và mỗi thành tựu đều là thành tựu của Phật pháp, bởi
vì, hết thảy pháp thế gian đều là Phật pháp.
Ở đây,
cũng nên sơ lược về cách bố cục chung của các bài thơ
của Phật quốc. Trong cách tu chứng của Bồ tát có hai trường
hợp quan trọng, đó là nhập vị tức giai đoạn tu tập để
chứng ngộ và xuất vị là giai đoạn cần phải vượt qua
sở chứng hiện tại để tiến lên địa vị cao hơn. Mỗi
bài thơ đều mở đầu và kết thúc tương xứng với hai giai
đoạn hệ trọng này.Phần giữa của bài thơ mô tả sở chứng
của từng vị một.Bài thơ trên đây diễn ra theo sáu bố
cục như vừa nói. Phần kết của nó nói đến sự xuất vị
của Thiện Tài, đượm màu sắc thi ca.Khi Thiện Tài từ giã
Đức Vân để tìm một thiện tri khác như đã được giới
thiệu, bấy giờ nắng chiều đang ngã dài lên sườn non, và
từ trên đỉnh núi Thiện Tài có thể thấy con đường trước
mắt chập chùng muôn vạn lớp núi xanh mây trắng. Viễn tượng
một thế giới bao la đã được chứng kiến nhưng chưa được
sống thực trong đó. Đoạn đường tới của Thiện Tài sẽ
là sống thực trong đó, sống với cái Một mà đồng thời
là sống với Tất cả cái bao la hoằng vĩ. Cái được nhìn
thấy, và cái được sống thực, không phải là hai thế giới
riêng biệt, chia cách nhau giữa những ý niệm trừu tượng
hay ấn tượng mơ hồ với thực tại cụ thể luôn luôn sung
mãn. Cho nên, cuộc hành trình của Thiện Tài cũng được gọi
là cuộc hành trình chứng nhập Pháp giới, nghĩa là đi vào
thế giới của sự sự vô ngại: Sống vĩnh cửu trong từng
sát na, và nhìn thấy vô biên trong từng hạt cát.
III. ĐẠI
DƯƠNG CHÀO ĐÓN
Từ núi lạnh
đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá
này và hạt muối đó chưa tan.
Hết núi
cao rồi lại đến biển rộng mù khơi, con đường xuất thế
cũng là con đường nhập thế. Cái học Bồ tát đạo là học
từ những âm thanh u tịch của núi rừng cho đến những gào
thét của muôn trùng sóng biển.Thiện Tài sau khi từ giả Đức
Vân, tìm đường về phía Nam đi ra cửa biển. Vừa đi vừa
suy nghĩ những gì đã học được từ Thiện tri thức ấy,
vừa chiêm nghiệm trong ánh sáng bao la của trí tuệ về những
con đường đưa đến giải thoát và giác ngộ của Bồ tát,
suy niệm về thế giới và sự nghiệp của chư Phật, về
phương tiện vô biên của các Ngài. Lần hồi ngày tháng, đến
một quốc độ nằm ngay trên cửa biển, được gọi là nước
Hải môn (Sàgaramukha), và tìm đến tham bái với Tỳ kheo Hải
Vân (Sàgaramegha).Hải Vân tiếp đón Thiện Tài với niềm cao
hứng về tâm nguyện chí thành mà Thiện Tài khẩn thiết bày
tỏ và yêu cầu về mục đích tối thượng của mình. Hạt
giống Bồ đề đã gieo xuống đất lành rồi, còn chờ ngày
vươn cao khỏi mặt đất để làm bóng mát cho thế gian. Do
vậy, cần phải nổ lực tinh tấn không ngừng để tài bồi
cho hạt giống Bồ đề đó.Trước khi truyền thụ cho Thiện
Tài tất cả sở đắc của mình, Hải Vân hướng dẫn Thiện
Tài bồi dưỡng thêm tâm nguyện Bồ đề cho được vững
chắc. Gốc rễ thiện phải được gieo trồng một cách rộng
rãi, không phải chỉ thiện cho bản thân, mà thiện cho tất
cả mọi loài chúng sinh. Ánh sáng trí tuệ phát sinh từ các
tam muội phải được phát triển rộng lớn bao la như đại
dương. Nuôi lớn pháp bạch tịnh không bao giờ biết mệt
mỏi. Phụng sự thiện tri thức cũng không bao giờ biết mệt
mỏi. Không hề biết tiếc rẻ thân mệnh mình. Tâm địa phải
bao la bình đẳng như mặt đất, nâng đỡ hết thảy mọi
sinh vật. Luôn luôn tìm thấy vui thú trong sự chiêm nghiệm
về những cảnh giới của Như Lai.Chẳng mấy chốc, Thiện
Tài đã học xong tất cả những giáo huấn ấy. Bài học nhập
môn để củng cố Bồ đề tâm này sau khi đã được thành
tựu, Thiện Tài lại được hướng dẫn để phát triển tâm
nguyện Bồ đề đó rộng lớn thêm nữa. Các tâm nguyện phải
được phát triển ở
đây là:
Tâm đại bi, cứu khốn phò nguy cho hết thảy chúng sinh; Tâm
đại từ, bảo vệ sự an lành cho hết thảy; tâm an lạc,
luôn luôn đem đến niềm vui cho tất cả; tâm nhiêu ích, hướng
dẫn tất cả tránh xa con đường dữ để được lợi ích;
tâm ai mẫn, bảo vệ cho những ai đang sợ hãi; tâm vô ngại,
xả ly tất cả; tâm quảng đại, rải tâm nguyện đến khắp
cả pháp giới; tâm vô biên, tâm lượng bao la như hư không
vô biên; tâm khoan bác, chiêm nghiệm hết thảy các Như Lai;
tâm thanh tịnh, trí tuệ tương ứng với bản tánh thanh tịnh
của các pháp; tâm trí tuệ, thâm nhập toàn diện vào trong
tất cả biển trí tuệ.
Sau khi nhận
xét Thiện Tài đã phát triển đầy đủ tâm nguyện như thế
để có thể tiếp thu sở chứng của mình, Hải Vân lần lượt
chỉ điểm cho Thiện tài qua kinh nghiệm tu tập bản thân.Sau
mười hai năm Thiện tài ngồi nhìn mặt biển chiêm nghiệm
tính chất bao la và sâu thẳm của nó, với những đặc tính
riêng biệt của nó. Khám phá và chứng nghiệm một đặc tính
cá biệt của nó. Đồng thời cũng là chứng nghiệm được
một đặc tính của tâm và của tất cả những gì đang tồn
tại, bởi vì, một là tất cả và tất cả là một. Tính
chất của biển được chiêm nghiệm theo thứ tự như sau:
mặt biển bao la không cùng tận, lòng biển sâu thẳm không
thể dò; độ sâu của lòng biển diễn ra từ từ cho đến
mức sâu không thể dò; lòng biển chứa đựng vô số kỳ
trân bảo vật; lượng nước của biển nhiều không thể hết;
màu sắc của nước muôn vạn, bất đồng không thể mô tả;
biển cả là nơi trú ngụ của vô số chủng loại chúng sinh,
biển cả có vô số chúng sinh với thân thể cực kỳ to lớn;
biển tiếp thu bất tận mọi nguồn nước mà lượng biển
không hề tăng hay giảm. Như thế, tinh thể của biển cũng
là tinh thể của hết thảy Phật pháp.Qua mười hai năm chiêm
nghiệm, một sớm nọ đột nhiên từ lòng biển dâng lên qua
muôn vạn lớp sóng gào một đóa sen vĩ đại, mà tất cả
bộ phận của nó đều là sự kết tinh của mọi thứ ngọc
ngà vô giá. Các loại thiên long, tám bộ quỉ thần mang đến
mọi thứ trân kỳ để chiêm bái đóa sen ấy. Nó xuất hiện
từ sự huyển hóa, từ bản chất mộng ảo của các pháp,
từ nguyện thanh tịnh, cũng giống như sự xuất hiện của
hết thảy chư Phật trong thế gian. Trải qua vô số trăm nghìn
kiếp chiêm quan và ca ngợi mà vẫn không cùng tận những điều
kỳ diệu và những lẽ mầu nhiệm chứa đựng nơi đóa sen
này.Rồi bấy giờ, trên đài sen, xuất hiện một đức Như
Lai ngồi kiết già, cao lớn cho đến tận chóp đỉnh của
thế giới hữu tình, với muôn ngàn sắc tướng và đức tính
bất khả tư nghì. Ngài đưa cánh tay mặt ra, sờ lên đỉnh
đầu của Hải Vân tỳ kheo, nói về pháp môn Phổ nhãn (samantanetra-dharmaparyàya)
trong đó chỉ cho thấy cảnh giới của hết thảy Như Lai,
mở rộng con đường hành động của hết thảy Bồ tát, nêu
rõ diệu pháp của hết thảy chư Phật. Văn từ chương cú
được dùng để nói lên pháp môn này, giả sử lấy núi Tu
di làm ngọn bút và biển cả làm mực, viết cho đến bút
cùn mực cạn, vẫn chưa chép hết một điều trong một môn
thuộc chỉ một phẩm. Ròng rã qua một ngàn hai trăm năm, Hải
Vân thọ trì pháp môn này mỗi ngày bằng vào khả năng ghi
nhớ tuyệt vời thâu nhận vô số phẩm; rồi đi sâu vào,
phân tích, lãnh hội, khai triển, và nhuần nhuyễn đến mức
có thể nói lại cho người khác hiểu.Khi Thiện Tài thành
tựu xong pháp môn Phổ nhãn này, Hải Vân cho biết, những
điều đã học và đã chứng đó thật sự chưa đi vào đại
dương Bồ tát hạnh, chưa đi vào biển cả đại nguyện, và
giới thiệu Thiện Tài đến một Thiện tri thức khác để
học thêm.
THƠ VỊNH
Nhất nhập
đa môn hựu đáo môn,
Phân minh
phổ nhãn chiếu càn khôn;
Thập niên
quán hải thâm thâm thú,
Thiên tải
văn kinh phẩm phẩm tồn.
Bạch lãng
dũng hoa thành dị thụy,
Hồng liên
hiện Phật độc xưng tôn;
Tu di tụ
bút hưu vân tả,
Vạn khoảnh
thương ba dục đoạn hồn.
Dịch nghĩa:
Vừa
mới một phen đi vào bao nhiêu cánh cửa đó, nay lại đến
một cánh cửa khác;Ở đấy, con mắt toàn triệt soi sáng rõ
ràng cả vũ trụ;
Qua mười
năm hơn chiêm quán biển, với biển sâu hun hút,
Rồi qua
hơn nghìn năm nghe kinh, mà từng phẩm vẫn được ghi nhớ
rành rẽ.
Sóng bạc
trào dâng cánh hoa, báo hiệu điềm kỳ lạ,
Trên đoá
sen hồng xuất hiện Phật, được ca ngợi là đấng Chí tôn
độc nhất;
Dù lấy
ngọn Tu di làm bút cũng không thể mô tả hết,
Hàng vạn
lớp sóng biếc gào thét kinh hồn.
BÌNH CHÚ
Theo các
giải thích, ở đây giai đoạn tham bái thứ ba, chứững Trị
địa trụ, thứ hai trong thập trụ. Sau khi đã an trụ trong
sự phát tâm đối với Phật thừa, bấy giờ cần phải đào
trị tâm ấy cho thuần thục để đưa đến tự lợi và lợi
tha.Ở Trị địa trụ, Bồ tát phát mười tâm, học mười
pháp. Mười tâm: tâm lợi ích, tâm đại bi, tâm an lạc, tâm
an trụ, tâm lân mẫn, tâm nhiếp thọ, tâm thủ hộ.
Câu 1 của
bài thơ, giới thiệu sự chuẩn bị, từ phát tâm trụ chuyển
sang trị địa trụ. Câu 2, giới thiệu pháp môn Phổ nhãn
mà Thiện tài sẽ học và sẽ chứng trong địa vị trị địa
trụ.Câu Kết, mô tả uy lực của pháp môn Phổ nhãn và cũng
là giới thiệu sự xuất vị: Thiện Tài từ giả Hải Vân
trong tiếng sóng gào thét kinh hồn. Với pháp môn Phổ nhãn
thành tựu do chiêm nghiệm, nghĩa là chỉ do thấy và nghe, cho
nên muôn vạn lớp sóng bạc gào thét như thách thức những
bước thâm nhập của Thiện Tài.
Một sớm
gió mai ngát nụ hồng,
Còn chăng
cánh nhạn quá trường không.
IV. TRÊN
CỬA KHẨU LANKA
BỐI CẢNH
Trời đã
quá chiều, mà con đường thiên lý thì kéo dài suốt cả chân
trời vô tận. Cát bụi dồn chân lữ khách. Hoa rừng và mạch
suối rì rào khúc hát. Người cảm thấy mình đang đi giữa
quê hương thân thuộc tự ngàn đời. Nhưng người cũng biết
rằng, quê hương nào không là quán trọ, và quán trọ nào
không là quê hương, nên người từ biệt ra đi mà vẫn như
là đã trở về, và người đang trở về vẫn như là đã
ra đi.Chính thế, Bồ tát khi đã phát khởi bồ đề tâm, cất
bước ra đi hướng về những phương trời cao rộng, dấn
thân vào lộ trình vô tận của luân hồi, khổ đau của vô
lượng chúng sinh dồn dập bước chân, như cát bụi đường
dài, không hề ghi đậm dấu vết nhọc nhằn trên gương mặt
ngời sáng với đức tính đại từ bi, đại dũng mãnh. Bởi
vì, người không chỉ biết đi mà còn biết dừng lại. Kia
như tướng cướp hung hãn Angulimàla, trong khi dốc hết khả
năng phi hành đuổi theo Đức Phật, đuổi hoài vẫn không
kịp những bước chân khoan thai của Ngài, chợt thấy ra rằng
Như Lai đã dừng lại tự bao giờ, thì lưỡi gươm đầy máu
trên tay đã trở thành lưỡi gươm trí tuệ.Thiên Tài đồng
tử sau khi nghe ra những lời kêu gọi hào hùng của đại dương,
lôi cuốn bước chân đi vào biển cả bao la của Phật pháp,
liền được Hải Vân chỉ điểm đi về hướng cửa khẩu
Lăng già để học hỏi nơi Tỳ kheo Thiện Trụ đường lối
ra khơi. Vị thiện tri thức này đã thành tựu pháp môn vô
ngại giải. Với pháp môn ấy, Ngài có thể đi suốt cả mười
phương thế giới chỉ trong móng khởi một tâm niệm, không
hề bị trở ngại, dù là hư không bao la, dù lửa dữ, dù
nước lớn, dù vách đá kiên cố. Không những thế, tâm niệm
của Ngài còn có thể đi suốt từ cái thời quá khứ, hiện
tại, vị lai. Sở dĩ, vì Ngài biết rõ sự dừng lại. Xuân
đã qua mà cành mai vẫn còn nở rộ. Gió lay núi lớn mà gió
vẫn lặng. Nước dồn sóng cả mà nước không trôi. Bản
chất đến và đi, đi và đứng, mất và còn của vạn vật
là thế.Rồi Thiện Tài theo lời chỉ dẫn của thiện tri thức
Hải Vân, đi về Lăng già đạo, cửa khẩu dẫn ra Thái bình
dương hoằng vĩ.Thời Thượng cổ, từ lục địa Ấn độ
nhìn ra, các chủng tộc ở đó không chỉ nhìn Thái bình dương
như là nơi chốn dẫy đầy bất trắc, với hắc phong, với
ác quỷ, với các đảo dữ của các loại ăn thịt người.
Thái bình dương còn là kho tàng vô tận của các loại bảo
châu vô giá. Thái bình dương là biển Tạng thức, bị xao
động
bởi gió nghiệp, tạo ra muôn vàn cảnh khổ của chúng sinh.
Thái bình dương cũng là Như Lai tạng, từ đó sản sinh vô
biên tánh đức của Như Lai. Những người mạo hiểm muốn
tìm Như ý bảo châu để thỏa mãn những khát dục không đáy
đều tìm vào đấy. Những người đi tìm vô lượng nghĩa
của Phật ngữ tâm, của Thánh trí tự chứng, cũng cần vào
đấy. Thế Tôn đã một lần từ đáy sâu Thái bình dương,
vượt lên muôn ngàn lớp sóng của Tạng thức hải này, để
công bố mật nghĩa của Thánh trí tự chứng, trên đảo Lăng
già.
Khi Thiện
Tài vừa đến cửa khẩu Lăng già đạo, thì tại đây đang
có một thịnh hội. Thiện Tài không quan tâm đến sự kiện
rằng thịnh hội này là một dịp hy hữu mà mình được gặp
tình cờ, hay luôn luôn ở đây giờ khắc nào cũng là thịnh
hội. Khách vừa đến cũng là người đã trở về, đã thường
trụ nơi đó.Từ xa, Thiện Tài trông thấy vây quanh Thiện
Trụ có vô số đủ loại chúng sanh, đủ các chủng tộc,
các sắc dân của loài người, đủ các loại quỷ, quỷ hiền,
quỷ dữ, quỷ của âm nhạc, quỷ của bạo lực, quỷ ăn
thịt người, cho chí đủ loại Thiên thần, Thiên chúa. Trên
không, đầy khắp mặt đất, nơi nơi có vô số xe cộ, lâu
đài, tàn lọng, đủ mọi hình thái, mọi màu sắc; mây trời
vần vũ, sấm chớp xẹt giăng, như khói như bụi, long lanh,
ngời sáng. Thiện Trụ vẫn đứng yên một chỗ, mà đôi tay
vẫn vươn bắt mặt trời, mặt trăng. Vẫn ở đó, mà từng
sát na, vẫn chu du suốt cùng mười phương cõi Phật, nghe,
hiểu và ghi nhớ trọn vẹn vô lượng Phật pháp.Thiện Tài
đồng tử, với lòng tràn đầy hỷ lạc, đến gia nhập đại
hội, và được Thiện Trụ hướng dẫn tu tập và thành tựu
pháp môn vô ngại giải thoát.
THƠ TÁN
Thiều thiều
nhất đáo hải lăng già,
Diêu vọng
môn trung sự khả giai;
Niệm niệm
biến du chư Phật sát,
Phân phân
diễm duệ lạc thiên hoa.
Thủ ma nhật
nguyệt tam luân ngoại,
Thân xuất
yên vân tứ diện già;
Nhược giả
cánh cầu Sanh quý lạc,
Vũ môn hồng
lãng khiêu kim oa.
Dịch nghĩa:
Quanh co một
phen đến cửa khẩu Lăng già,
Từ
xa trông thấy trong cửa nhiều sự lạ lùng;
(Thiên Trụ)
trong từng sát na du hành khắp các cõi Phật,
Giăng giăng
lộng lẫy, hoa trời rơi xuống.
Tay sờ mặt
trời, mặt trăng ngoài ba vòng quỹ đạo,
Mình tỏa
khói mây che kín bốn phía;
Nếu lại
muốn tiến lên Sanh quý trụ,
Con nhái
vàng vượt qua sóng cả nơi võ môn.
Tạm dịch
thơ:
Quanh co chợt
đến cuộc vui này,
Nhác thấy
Lăng già lớp lớp mây;
Phút phút
dạo cùng muôn cõi Phật.
Giăng giăng
tầm tã vạn hoa trời;
Tay nâng
nhật nguyệt ngoài không giới,
Thân tỏa
mù mây kín dặm dài;
Một bước
hẹn lên Sanh quý trụ,
Nhái vàng
sóng cả vượt trùng khơi.
BÌNH CHÚ
Câu 1-2:
Thiện Tài đến Lăng già đạo, nhìn thấy Thiên, Long, Quỷ,
Thần đang tập hội cúng dường, ca ngợi Thiện Trụ.
Câu 3-6:
Thiện Trụ chỉ điểm Thiện Tài về sự thành tựu của pháp
môn Vô ngại giải thoát.
Câu 7-8:
Thiện Tài lại sửa soạn ra đi, sẽ tiến lên Sanh quy trụ.
Theo các
Sớ giải, với Thiện Trụ, học pháp môn Vô ngại giải thoát,
thành tựu khả năng cúng dường phổ biến chư Phật, và chứng
Tu hành trụ, thứ ba trong Thập trụ của Bồ tát đang ở địa
vị phàm phu.
V. VÀO
TRƯỜNG NGỮ HỌC
Nhược dã
cánh cầu sanh quý trụ,
Võ môn hồng
lõng dược kim sa.
Một bước
hẹn ngày sanh quy trụ,
Nhái vàng
sóng cả vượt trùng khơi.
Con nhái vàng
tập nhảy nhót qua muôn lớp sóng cả chuẩn bị vượt Võ
môn để hóa thành rồng. Cũng thế, Thiện Tài đã học được
pháp môn dừng lại nơi Thiện Trụ tỳ kheo, chuẩn bị những
bước nhảy cao vời để sanh vào dòng họ Như Lai. Hiểu rõ
phải dừng lại như thế nào, là hiểu rõ tự tánh của Đại
thừa Bồ tát giới.Thuở trước, có một thiện nam tử, sau
khi được nghe Phật pháp, phát tâm xin được xuất gia làm
tỳ kheo. Các Đại đức trưởng lão giảng cho thiện nam tử
ấy các điều khoản của giới luật Tỳ kheo: đây là một
giới; đây là hai giới; đây là mười giới… cho
chí, trăm giới, hai trăm giới, v.v... Sau khi nghe xong, thiện
nam tử cảm thấy rối bời trước các điều khoản giới
luật ly kỳ như vậy, không thể hiểu trọn, và không thể
nhớ hết. Làm Tỳ kheo mà không rõ hết giới Tỳ kheo, thì
hy vọng thành tựu được sở đắc gì. Thất vọng và buồn
nãn, thiện nam tử tỏ ý xin hoàn tục. Nhưng may thay, Đức
Phật đã đến, Ngài chỉ cho vị tân Tỳ kheo đang thất vọng
này rằng không cần phải học đến hằng trăm điều khoản
giới luật. Chỉ cần giữ ba điều: thân không hành bất thiện,
miệng không nói lời bất thiện và ý không nghĩ điều bất
thiện. Đơn giản chỉ giữ ba điều ấy. Vị tân Tỳ kheo
phấn khởi, hăng hái thọ trì ba giới chẳng bao lâu chứng
đắc đạo quả Niết bàn.Bồ đề tâm giới cũng vậy. Hành
Bồ tát đạo, đi trên con đường của Bồ tát để đến
Phật địa, là hành từ chỗ thiện trụ (supratisthita), đứng
hẳn lại, đến vô trụ (apratisthita), không đứng hẳn lại.
Đứng lại (pratisthita), cũng chính là đứng lên, là phát xuất,
phát khởi, hay phát thú. Trưởng lão Tu bồ đề đã có lần
hỏi Phật: làm thế nào để đứng lên (samprasthita) ? Câu
hỏi ấy cũng hàm ngụ là làm thế nào để dừng lại, và
cũng có nghĩa là để tiến tới thực hành lục độ, tiến
lên Phật thừa. Phật trả lời: Bồ tát không đứng lên (apratisthita)
khi thực hành lục độ, nghĩa là không dừng lại, không tiến
tới, v.v
Tiến tới
và dừng lại, hay không tiến tới và không dừng lại: đây
là tự tánh sâu xa của Đại thừa Bồ tát giới. Sau khi đã
thành tựu sở đắc như vậy trong Đại thừa Bồ tát giới,
Thiện Tài được Thiện Trụ giới thiệu sang học với Di
Già (Megha).Di già là một nhà ngôn ngữ học (dramida) ở một
thị trấn về phía Nam có tên là Kim cang thành (Vajra-pura).
Trường ngữ học của Di Già ở giữa chợ, ngay giữa ngã
tư đường phố. Chỗ đấy quả thật thích hợp cho một trường
ngữ học. Bồ tát ở ngay giữa ngã tư phố thị ồn ào của
sanh tử để giáo hóa chúng sanh.Bồ tát sở phát tâm, cũng
như một hài đồng vừa lớn, đang tập sự vào đời, không
chỉ học để biết đi và biết đứng, mà còn phải học
ăn học nói. Biết tiếng nói của người khác, hiểu rõ sâu
xa từng ý nghĩa trong các lời nói của người khác, để có
thể biết rõ tâm tình và xu hướng, cứ như thế mới trở
thành những người bạn tương giao, những thiện tri thức
cho nhau. Bồ tát nói pháp không duy chỉ một mình mình
nói, mà cần phải nghe người nói. Mỗi người và mỗi loại
chúng sanh đều có tiếng nói riêng biệt, tiếng nói từ chỗ
sâu thẳm của tâm tình.Khi Thiện Tài đến đó, thì Di Già
đang có một giảng khóa cho mười ngàn học viên. Giảng khóa
này có tên là “luân tự trang nghiêm” (cakràksara-parivartavyùha),
nghĩa là sự bố trí một cách trật tự theo sự luân chuyển
của các tự mẫu như vòng bánh xe. Mỗi tự mẫu, như a, i,
u, cho đến, y, r, l, v, h, đều mang trong nó những ẩn nghĩa
vi diệu, chứa đựng những tâm tình cô đọng nhất và khát
vọng nồng nàn nhất của người nói. Với chủng loại này
thì sự đau khổ được phát hiện thành tiếng A, với chủng
loại kia thì thành tiếng Ô; và với chủng loại khác nữa,
khi tiếng AI, hay ÁI, hay ÔI được phát ra, người ta biết
đó là tiếng kêu thống khổ. Đại khái là như thế. Rồi
nữa, tự mẫu này nốữi theo tự mẫu kia, khi chúng được
phát lên, người ta biết đó là tiếng nói của tình yêu,
hay của thù hận, hay của nhọc nhằn và tuyệt vọng; cho chí,
tiếng nói từ tịnh lạc của Niết bàn, của pháp tánh tịch
diệt.Và lại nữa, tiếng suối rì rào trong rừng núi hoang
sơ, tiếng ve sầu rĩ rã đêm hè, tiếng cuốc kêu lạnh lùng
giữa đêm đông băng tuyết. Như vậy thì cả đến thiên nhiên
vẫn nghìn đời bất tuyệt phát lên những tiếng nói nhiệm
mầu.Thiện Tài bước đến dưới tòa sư tử, cúi đầu lễ
sát chân Di Già, cầu xin chỉ giáo con đường đi đến Phật
thừa.Di già vô cùng cảm hứng, khi biết rằng Thiện Tài đã
phát tâm bồ đề, liền vội vàng rời tòa sư tử, bước
xuống lạy dài Thiện Tài, rải lên các thứ bông hoa bằng
vàng, bạc, các thứ bột thơm vi diệu, phủ lên mình Thiện
Tài những lớp thiên y vô giá, và ca ngợi sự phát tâm của
Thiện Tài. Sự ca ngợi này tỏa ra thành các tia sáng rọi
suốt Đại thiên thế giới. Vô số chúng sinh theo đó tập
hợp về, được nghe giảng giải pháp môn “luân từ chuyển
trang nghiêm” và đạt đến trình độ không thối chuyển
nơi Vô thượng Bồ đề.Sau đó, Di Già chỉ dạy Thiện Tài
về ánh sáng của Biện tài đà la ni (Sarasvatì-dharanyàloka),
vốn là chân tánh vi mật của ngôn ngữ. Với sự thâm nhập
của ánh sáng Đà la ni biện tài lưu loát ấy, Thiện Tài có
thể nghe và hiểu rõ mật ngôn (Mantra) từ tiếng nói của
các loài thần linh, các loài rồng, rắn, các loài thần điểu,
như ca-lâu-đà (garuda), khẩn-na-la (kinnàra), cho đến, mật
ngôn của mọi chủng tộc loài người, mật ngôn của mọi
loài súc sanh, mọi loài địa ngục v.v… trong mỗi
một, hai, ba. Cho đến trăm nghìn thế giới.Từ vô lượng
mật ngôn ấy, Bồ tát có thể đi vào sâu trong vô lượng
đại dương tư tưởng của vô lượng chúng sinh. Để đạt
đến sự thâm nhập này của Bồ tát, Di Già giới thiệu Thiện
Tài đi sang phương nam cầu học với Giải Thoát Trưởng giả
(Mukta) tại nước Trụ Lâm (Vanavasì)
THI TÁN
Đàn mạt
kim hoa hương bảo trân,
Tân phân
tán hậu hiện oai thần;
Đằng đằng
quang chiếu tam thiên giới,
Lạc lạc
ngôn phân vạn tự luân.
Uất mật
lâm man xử hổ báo,
Thâm trầm
uyên trạch tụ long lân;
Diệu âm
xướng xuất đà la ngữ,
Biện tận
Hồ nhân dữ Hán nhân.
DỊCH NGHĨA:
Bột trầm
chiên đàn, hoa vàng y, châu ngọc thơm ngát,
Sau khi
đã rải rắc tầm tả (những thứ này), rồi lại hiện thần
uy;
Từng
tia sáng chói ngời ba nghìn cõi,
Từng
tiếng rành rọt quay bánh xe hàng vạn tự mẫu.
Cọp beo
ở nơi rừng hoang rậm rạp,
Rồng
lân tụ tập nơi đầm sâu thăm thẳm;
Bằng
âm thanh vi diệu xướng lên ngôn ngữ đà la ni,
Phân biệt
rõ ai là người Hồ, ai là người Hán.
Dịch thơ:
Bột trầm,
châu ngọc, rộn hoa vàng,
Đã rải
tung bay, hiện phép thần;
Chói chói
sáng soi nghìn thế giới,
Rành rành
tiếng chuyển vạn kim luân.
Um tùm
rừng dại đầy beo cọp,
Thăm thẳm
đầm sâu tụ rắn rồng;
Mật ngữ
đà la lời ảo diệu,
Đây Hồ,
kia Hán, hiện toàn chân.
BÌNH CHÚ
Câu 1
2: Di Già tán dương Thiện Tài đã phát Bồ đề tâm.
Câu 3
4: Di già chuyển tự luân.
Câu 5
6: Chúng hội nghe pháp của Gi Già.
Câu 7
8: Công năng của diệu âm đà la ni quang minh, hay ánh sáng của
đà la ni về biện tài lưu loát.
Ở đây,
với nhà ngữ học Di Gìa (Meghadramida), Thiện Tài học được
pháp môn Biện tài đà la ni quang minh (Sarasvatyà dhàranvàkaka),
thành tựu trí tuệ thấu hiểu tất cả mọi mật ngôn hay
chân ngôn (saryesam amntràhàm jnànam), chứững Sanh quý trụ.
Hình ảnh ở hai vế trạng (câu 5 6) do cảm hứng riêng biệt
của nhà thơ, không có trong kinh văn. Hình ảnh man dại của
rừng rậm và đầm sâu gợi lên ấn tượng bí mật, u uẩn
của ngôn ngữ. Từ đó, dẫn tới hai câu cuối, luận và kết,
cá tính của mỗi người hiện rõ nơi từng âm thanh được
phát hiện.
|