Phần I
: Giới Thiệu Tổng quát
I.1.Chương
1 :
Dẫn
nhập
I.1.1
Nhan đề và giới thiệu đề tài
Tâm
lý học là khoa học nghiên cứu về tâm lý con người. Tâm
lý học thường đi đôi với giáo dục học, gọi chung là
tâm lý giáo dục. Về góc độ lịch sử, tâm lý học ra đời
muộn hơn so với các ngành khoa học khác. Nhưng cũng như các
ngành khoa học, tâm lý học bắt nguồn từ triết học và
từ đó đã sớm đi vào giải quyết các vấn đề quan trọng,
then chốt trong đời sống con người. Ngày nay tâm lý học
trở thành một trong những ngành học quan trọng nhất về
con người, nó liên quan mật thiết đến các lĩnh vực văn
hóa và văn minh của nhân loại. Vì rằng, văn hóa và văn minh
là những gì được làm ra bởi con người; nó là sản phẩm
của con người, và do đó, không thể tách rời con người
ra khỏi các lĩnh vực văn hóa và văn minh trong hệ thống tương
quan, mang tính chất tùy thuộc lẫn nhau (Y tha khởi).
Tuy
nhiên, trước viễn cảnh của thực tại, các nền văn minh
nhân loại hiện nay đang rơi vào khủng hoảng - sự mất cân
bằng một cách trầm trọng giữa đời sống vật chất và
tinh thần. Các nước văn minh, tiên tiến thì nỗ lực tập
trung vào các ngành khoa học công nghiệp và siêu công nghiệp,
như công nghệ tin học, công nghệ không gian...; các nước
đang phát triển và kém phát triển thì nỗ lực đi vào công
nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nói chung, cả hai đều đi vào
mục tiêu phát triển kinh tế ở tầm vĩ mô. Tuy nhiên, điều
nghịch lý, mâu thuẫn vẫn diễn ra trên toàn thế giới, đó
là : đói nghèo, bệnh tật, chiến tranh, và nạn nhân mãn v.v...
Trong
khi, chỉ số đánh giá mức phát triển của mỗi quốc gia,
mỗi dân tộc được xác định trên tỷ lệ tăng hoặc giảm
của "GDP" (General Domestic Product - Tổng sản lượng hàng hóa
nội địa) và "GNP" (Gross National Product - Tổng sản lượng
quốc gia); thì ngược lại, chỉ số "stress" của con người
ngày càng tăng. Đối với các nước công nghệ (1) siêu cường
của thế giới thì căn bệnh trầm kha nhất không phải là
kinh tế, mà chính là "stress" - một sự khủng hoảng tâm lý
thời đại. Ngược lại, các nước kém phát triển và đang
phát triển thì căn bệnh khủng hoảng đó bao gồm cả hai
: khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng tâm lý. Với một đường
hướng phát triển như thế đã đánh mất sự quân bình của
đời sống con người. Nếu sự phát triển chỉ dựa vào lợi
tức thu nhập (income) kinh tế và tư bản (tiền tệ), nghĩa
là chỉ dựa vào khát vọng làm giàu và tôn vinh sự bảo thủ
độc quyền (exclusive) - nói theo ngôn ngữ của Phật là tham
ái (tanhà) và chấp thủ (upadàna) - thì ắt hẳn sẽ đưa đến
khổ đau, bất hạnh và tuyệt vọng.
Vì
thế, trước viễn cảnh của những khủng hoảng trầm trọng,
nhất là khủng hoảng tâm lý của con người như là các hội
chứng của stress thời đại, các giá trị trong sự sống của
con người cần thiết được xét lại, và cần được soi
sáng bởi những lời dạy của Đức Phật.
1-
Vấn đề khủng hoảng tâm lý
Như
vừa trình bày, trong xu thế công nghiệp hóa và siêu công nghiệp
hóa của thế giới hiện nay, con người thường xuyên rơi
vào các khủng hoảng theo hai chiều hướng, hoặc là bị loại
trừ bởi các thiết bị hiện đại, hoặc là phải lao động
quá mức có thể. Sự kiện đó xảy ra trên qui luật cạnh
tranh mà các nhà kinh tế thời đại cho rằng đó là cạnh
tranh để sinh tồn và cạnh tranh để phát triển (2). Nhưng
thực chất là cạnh tranh để đi đến chiến thắng độc
quyền, và có khi dẫn đến sự triệt hạ lẫn nhau giữa tư
bản tư nhân hoặc tư bản độc quyền nhà nước (3); còn
hậu quả thì đưa đến không những ở mức độ cộng đồng
mà còn ở chính mỗi con người.
Trong
khi đó, Đức Phật dạy : "Dầu tại nơi chiến trường, thắng
hàng ngàn quân địch, tự thắng mình tốt hơn, đó là sự
chiến thắng tối thượng". (Php.103) Hoặc là "Dầu Thiên thần,
Càn thát bà, Ma Vương hay Phạm Thiên, không ai chiến thắng
nổi người đã tự chiến thắng và tự chế phục". (Php.
105)
Sự
chiến thắng như thế chính là nền tảng để từ đó tái
lập sự quân bình cho đời sống tâm lý, và xa hơn là sự
giải quyết các khủng hoảng của con người chính nó, với
tư cách là con người cá biệt (individual) và con người của
cộng đồng, với tư cách là thành viên của xã hội (member
of society).
2-
Vấn đề triết lý nhân sinh
Nói
đến tâm lý con người cũng là nói đến tâm lý xã hội.
Các ngành tâm lý học và xã hội học, đạo đức học, luận
lý học... đều tập chú vào con người và các diễn biến
tâm lý của con người. Và mục tiêu của các ngành học đó
là giúp con người kiến tạo một đời sống hạnh phúc, đồng
thời giúp phát triển một cách toàn diện các tánh hạnh (behaviour),
các đức tính (virtue) của con người. Tuy nhiên, ngay từ đầu,
triết học tâm lý đã vướng phải một sai lầm lớn, đó
là xây dựng một hệ thống nhận thức luận (epistemology),
giá trị luận (axiology) và bản thể luận (ontology) trên căn
bản của một ngã thể (ego), một bản thể (essence). Và do
đó, tất yếu phải đưa đến những quan niệm, phương pháp
v.v... nhằm duy trì và bảo vệ cái ngã thể (4) bất thực
đó như cái bản năng (Id), cái siêu ngã (superego) trong tâm
lý học mà Sigmund Freud đề xuất. Vì thế, khi con người đối
diện với sự thật của định lý vô thường, sinh ra khổ
đau và rơi vào khủng hoảng. Khủng hoảng tâm lý là căn bệnh
miên trường đối với con người. Do đó, cần phải xét lại
vấn đề tâm lý giáo dục của thời đại.
Đức
Phật dạy rằng : "Các hành vô thường", "các pháp là vô ngã"
(5). Điều đó là một tia nắng rực rỡ, khả dĩ soi sáng
và giải quyết các vấn đề hiện đại của con người.
3-
Vấn đề cá nhân và xã hội
Cá
nhân và xã hội là hai mặt của một hiện hữu. Cá nhân không
thể thoát ly ngoài xã hội mà có, và ngược lại, xã hội
không thể thành tựu nếu không có mỗi con người cá nhân.
Sự tách biệt giữa cá nhân và xã hội là điều không thể
và lầm lẫn. Do đó, các hệ thống triết học nếu tự qui
giảm mình về hoặc là duy tâm, hoặc là duy vật v.v... đều
rơi vào phiến diện, và tha hóa. Điều này được Thích Chơn
Thiện, trong luận án Tiến sĩ về "Lý thuyết nhân tính" (6),
đánh giá và xếp loại như sau :
a)
"Nhóm tư tưởng ngôi thứ ba : Các tư tưởng cho rằng có nguyên
nhân đầu tiên của vũ trụ gọi là nhóm tư tưởng ngôi thứ
ba - người mà ta nói về. Do vì vai trò làm chủ cuộc sống
của con người bị đánh mất trong nhóm tư tưởng này, nên
tư tưởng của nhóm này bị tha hóa (alienation)".
b)
"Nhóm tư tưởng ngôi thứ hai : Các tư tưởng cho rằng sự
thật chỉ hiện hữu trong thiên nhiên hay hiện tượng giới
gọi là nhóm tư tưởng ngôi thứ hai - người mà ta nói với.
Con người cũng bị đánh mất trong nhóm tư tưởng này, nên
nhóm này được gọi là tha hóa".
c)
"Nhóm tư tưởng ngôi thứ nhất : Các tư tưởng cho rằng con
người làm chủ cuộc đời mình, hay cuộc sống là vì hạnh
phúc của con người ... - người mà ta đang nói ...."
Và
tác giả cho rằng, Phật giáo, hiện sinh thuyết, và hiện tượng
luận ... thuộc về nhóm tư tưởng ngôi thứ nhất.
Tuy
nhiên, sự sắp xếp trên của tác giả chỉ nhằm phân loại
các nhóm tư tưởng một cách bao quát (universal). Sự thật
thì giữa Phật giáo và hiện sinh thuyết chẳng hạn, cách
giải quyết vấn đề hoàn toàn khác nhau (7) ngay từ nền tảng
của mỗi học thuyết, như một đằng nói Vô ngã (Non-essence),
một đằng khác nói Hữu ngã (Essence).
Ở
đây, qua giáo lý Duyên sinh (Paticcasamupàda), Đức Phật đã
soi sáng sự thật của con người và vũ trụ vạn hữu này.
Sự thật đó chính là Duyên sinh tính, Vô ngã tính. (Vấn đề
sẽ được bàn rõ ở các chương sau).
4-
Vấn đề đạo đức và luân lý
Đạo
đức và luân lý đều là các nội dung được bàn đến trong
tâm lý học, mặc dầu giữa đạo đức học và tâm lý học
thì khác nhau trên cơ sở đối tượng và quan điểm nghiên
cứu (8); nhưng cả hai đều thuộc ngành khoa học nhân văn,
nên đều hướng đến đối tượng là đời sống tinh thần
hay ý thức của con người.
Tuy
nhiên, do tính chất công ước (conventional) xã hội của đạo
đức, luân lý, nghĩa là nó luôn luôn được giới hạn bởi
tính chất qui ước chung của toàn xã hội, do đó, nó chỉ
phản ánh trên bề mặt của các hiện tượng (thiện, ác)
xã hội, mà chưa thực sự đi vào bản chất của mỗi con
người. Vì thế, một kẻ tàn ác, xấu xa, y vẫn có thể đội
lốt lương thiện - công ước để trung hoành ngoài xã hội.
Đây là nguyên nhân đưa đến nạn tham nhũng, giết người
giấu tay v.v... hay còn gọi là khủng hoảng đạo đức.
Đức
Phật, qua giáo thuyết nhân quả, nghiệp báo (karma), đã xác
định rõ : "Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa
tự nghiệp, nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc ..."(9)
Cái
thai tạng (womb) hay tâm thức đó của mỗi con người là nền
tảng của đạo đức và luân lý Phật giáo. Và tại đó,
là cơ sở duy nhất có thể giải quyết các khủng hoảng và
sự đảo lộn trật tự của đạo đức, luân lý thời đại.
(Vấn đề sẽ được bàn cụ thể ở các chương sau).
5-
Vấn đề tương quan giữa con người và môi trường sinh thái
Vấn
đề môi trường sinh thái hiện đang là khủng hoảng bức
thiết nhất mà con người phải đối diện. Môi trường được
xem như là dưỡng khí cần thiết, mà qua đó, con người hấp
thụ để sinh sống và phát triển. Mối liên hệ giữa con
người và môi trường là mối quan hệ bất khả phân ly. Do
đó, sự hủy diệt môi trường cũng là sự huỷ diệt con
người. Từ đó các vấn đề như sinh thái học (ecology), hệ
sinh thái (ecosystem), môi trường sinh thái (ecological environment),
cấu trúc sinh thái (ecological structure), sinh thái nhân văn (human
ecology), sinh thái tự nhiên (natural ecology) và diệt sinh thái
(ecocide) v.v... được xem là các vấn đề nóng bỏng nhất
đang ảnh hưởng đến đời sống con người. Vấn đề lại
càng trớ trêu hơn, khi chính các nước tiên tiến lại là
nơi dẫn đầu về phá hoại môi trường sinh thái (10) thông
qua sự thải chất bả từ các nhà máy công nghiệp nặng,
nhẹ; sự rò rỉ hay bùng vỡ các lò phản ứng hạt nhân,
sự đắm chìm của các tàu chuyên chở dầu khí, sự đốt
phá những quặng dầu trong chiến tranh v.v... tất cả đều
đưa đến hậu quả diệt sinh thái một cách trầm trọng.
Những vấn đề trên, suy cho cùng đều bắt nguồn từ lòng
vị kỷ, và dục vọng của con người. Và hiệu ứng nhà kính
(dioxide de carbone) (11) thực ra cũng chính là hiệu ứng dục
vọng của con người.
Sự
kiện này cần thiết được soi sáng bởi giáo lý Duyên khởi
- Vô ngã; thông qua giáo lý ấy, con người sẽ hiểu được
rằng các loài hữu tình (sentient beings) và vô tình (non sentient
beings) đều là chúng sinh, cần phải tựa vào nhau mà sinh tồn.
Và sự hủy diệt sinh thái của các loài vô tình đồng thời
cũng là sự hủy diệt sinh thái của con người và muôn loài
sinh thú.
6-
Vấn đề chiến tranh và hòa bình
Chiến
tranh và hòa bình là diễn biến hai mặt của cùng một dòng
tâm thức. Khi các dục vọng mâu thuẫn, xung đột nội tại
dâng lên đỉnh cao, lập tức nó trở thành chiến tranh; và
khi tâm thức ấy buông xả mọi xung đột, mọi khát vọng....
thì nó tái lập hòa bình. Đó chính là ý nghĩa của : "Tâm
bình thế giới bình" trong kinh tạng Phật giáo. Các cuộc chiến
tranh nóng và lạnh trên thế giới đều là diễn biến của
tâm thức xung đột, khát vọng và bất an.
Đức
Phật dạy (12) : "Lại nữa, này các Tỷ kheo, do dục vọng
làm nhân, do dục vọng làm duyên, do dục vọng làm nguyên nhân,
do chính dục vọng làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát đế
lỵ tranh đoạt với Sát đế lỵ, Bà la môn tranh đoạt với
Bà la môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ; mẹ tranh đoạt
với con, con tranh đoạt với mẹ; cha tranh đoạt với con, con
tranh đoạt với cha; anh em tranh đoạt với anh em; anh tranh đoạt
với chị, chị tranh đoạt với anh; bạn bè tranh đoạt với
bạn bè. Khi chúng dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh
đoạt, chúng tấn công nhau bằng tay, bằng gạch đá, bằng
gậy gộc, bằng đao kiếm. Ở đây, chúng đi đến tử vong,
đi đến khổ đau gần như tử vong".
"Lại
nữa, này các Tỷ kheo, do dục vọng làm nhân, do dục vọng
làm duyên, do dục vọng làm nguyên nhân, do chính dục vọng
làm nhân, chúng cầm mâu và thuẫn, chúng đeo cung và tên, chúng
dàn trận hai mặt và tên được nhắm bắn nhau, đao được
quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau, chúng bắn, đâm
nhau bằng tên, chúng quăng, đâm nhau bằng đao, chúng chặt
đầu nhau bằng kiếm. Ở đây, chúng đi đến tử vong, đi
đến khổ đau gần như tử vong".
Và
Ngài cũng dạy rằng : "Nếu tâm thức bị dao động bởi bằng,
thắng hay thua, thì đấu tranh khởi lên, khi cả ba không dao
động, thì đấu tranh không sinh khởi".(13)
Hoặc
là : "Thắng trận sinh thù oán, bại trận nếm khổ đau, ai
từ bỏ thắng và bại, tịch tịnh hưởng an lạc".(14)
7-
Vấn đề tâm lý giáo dục
Như
đã đề cập, tâm lý giáo dục là một trong những ngành học
quan trọng nhất về con người, nhằm khảo cứu, quan sát,
kiểm chứng các sự kiện tâm lý để xác định những định
luật tâm lý giúp con người giải quyết các vấn đề nội
tại của mình, nhằm đưa đến cuộc sống hạnh phúc. Do đó,
ngành tâm lý giáo dục có chức năng xây dựng nội dung giáo
dục và phương pháp hướng dẫn thực hiện nội dung giáo
dục đó. Các nhà tâm lý giáo dục nổi tiếng trong thời hiện
đại như Sigmund Freud, Carl Jung, Erich Fromn, Adler, Maslow, Allport,
Carl Rogers, John Dewey, Dalton, George H. Mead, Winnetka, Martimière,
Montersori... đã nỗ lực sáng tạo, đề xuất các hệ thống
tâm lý học, tâm lý giáo dục và tâm lý xã hội... Sự nỗ
lực đó đã mở ra một đường hướng giáo dục cần thiết,
hữu ích cho con người. Tuy nhiên, các lý thuyết ấy vẫn bị
giới hạn ở quan điểm cho rằng con người xuất hiện cùng
với một ngã tính (self) vĩnh hằng ; hoặc khi chạm phải những
vấn đề nan giải thường bị rơi vào "bất khả tri" luận.
(Điều này sẽ được trình bày ở phần sau).
Qua
lăng kính Duyên khởi, Vô thường, Vô ngã, Phật giáo đã đề
cập đến khá rõ về các vấn đề tâm lý giáo dục như một
ngành khoa học nhân văn và xã hội trong các kinh Nikayà và
kinh tạng Đại thừa. Nhất là đối với các kinh như Lăng
Già (Lankàvatàra), kinh Giải Thâm Mật (Sandhi-nirmona), kinh Bát
Nhã (Prãjnaparamità), kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka hay Gandavyùha).
Đặc biệt trong triết học Duy thức (Vinnànàvàda), ít nhất
là từ hơn 15 thế kỷ qua, đã có các hệ thống tâm lý học
đặc sắc như Thắng pháp luận (Abhidhammatthasangaha) của Thượng
tọa bộ, A tỳ đạt ma câu xá luận (Abhidhamma-kosa-sastra) của
Nhất thiết hữu bộ, và Duy thức của Đại thừa(15).
Các
bộ luận trên đều đi vào phân tích tâm lý qua các hoạt
động của nó và chia thành ba loại tâm cơ bản : tâm thiện,
tâm bất thiện, và tâm phi thiện - phi bất thiện hay còn gọi
là lộ trình tâm. Thông qua các loại tâm trên, con đường
giáo dục tâm lý được thể hiện ở sự tập chú thiền
định đi vào thanh lọc và làm cho tâm trở nên thanh tịnh,
thoát ly mọi khổ đau của con người.
Tuy
nhiên, trong tác phẩm này, tác giả chỉ tập trung vào nội
dung tâm lý học trên cơ sở của triết học Duy thức trong
Đại thừa Phật giáo, đặc biệt là y cứ trên tư tưởng
của Luận sư Asanga (Vô Trước) và Vasubandhu(Thế Thân). Đồng
thời, thông qua tác phẩm Duy Thức tam thập tụng (Treatise in
thirty verses on Mere - Consciousness) của Vasubandhu, tác giả sẽ
trình bày về hệ thống Tâm lý học Phật giáo như đã được
giới thiệu trong nội dung của tác phẩm này.
Tác
giả tin tưởng ở sự trình bày cụ thể, rõ ràng và hệ
thống của Luận sư Vasubandhu, trong Duy Thức tam thập tụng
sẽ giúp độc giả tiến sâu hơn vào nguồn mạch của đời
sống tâm lý của chính mình, và từ đó, chọn lựa cho bản
thân một giải pháp tốt nhất nhằm giải quyết những khủng
hoảng và kiến lập đời sống hạnh phúc, giải thoát ngay
tại cuộc đời này.
I.1.2
Phạm vi đề tài
Có
nhiều lĩnh vực liên quan đến đề tài ; tuy nhiên, ở đây
tác phẩm được tập trung vào các chủ đề chính như sau
:
- Sự
hình thành Tâm lý học Phật giáo.
- Đại
cương Tâm lý học Phật giáo.
- Nội
dung Tâm lý học Phật giáo qua Duy thức tam thập tụng.
Bên
cạnh đó, tác giả cũng trình bày khái lược về lịch sử
tâm lý học phương Tây và các vấn đề tâm lý học ở phần
đầu của tác phẩm, nhằm giúp độc giả so sánh đối chiếu
giữa tâm lý học phương Tây và Phật giáo. Đồng thời, ở
phần kết (Phần IV. Chương 1 & 2 và phần V), tác giả,
thông qua hệ thống tâm lý giáo dục Phật giáo, đề bạt
và giới thiệu những phương pháp thực tiễn có thể giúp
giải quyết các khủng hoảng tâm lý của con người hiện
tại và tái lập đời sống hạnh phúc thật sự như đã được
giới thiệu rõ trong các hệ thống triết học Phật giáo,
nổi bật nhất ở đây là các thể tài thuộc triết học
Duy thức.
Về
hệ thống triết học Duy thức, nó là một hệ thống thuộc
về Luận tạng (Abhidhamma - pitaka) trong Tam tạng (Tripitaka) thánh
điển Phật giáo, bao gồm : Kinh tạng (Sutta - pitaka), Luật
tạng (Vinaya-pitaka) và Luận tạng (Abhidhamma-pitaka). Tam tạng
thánh điển lại được chia thành hai hệ thống theo Nam phương
và Bắc phương Phật giáo, và có những hệ thống giáo nghĩa
riêng biệt gọi là Nam tạng và Bắc tạng. Ở đây, triết
học Duy thức thuộc về giáo nghĩa của Bắc tạng (Mahayàna-Phật
giáo). (Xem phần : Sự hình thành của Tâm lý học Phật giáo
- Phần II, Chương 1).
Công
việc nghiên cứu này, tác giả chỉ tập chú vào phần Luận
tạng của Phật giáo Mahayana, qua đó, xác định sự thật
về tâm lý và các sự kiện, diễn biến của tâm lý con người
; đồng thời trình bày con đường giáo dục tâm lý theo quan
điểm của Phật giáo nói chung và Luận tạng nói riêng. Tác
giả hoàn toàn tin tưởng ở sự giải kiến (deconstruction)
của các vị Luận sư Phật giáo(16), những người đã thăng
chứng tuệ giác và kế thừa mạng mạch Phật giáo suốt hơn
15 thế kỷ qua.
I.2.
Chương 2 :
Sơ
lược lịch sử tâm lý học
(Psychology)
Trước
khi đi vào nghiên cứu tâm lý học, cần thiết lược qua quá
trình hình thành và sự phát triển của nó, đặc biệt là
hệ thống tâm lý học phương Tây.
I.2.1
: Sự hình thành và phát triển của tâm lý học
Tâm
lý học (Psychology) là một ngành khoa học nghiên cứu về con
người, vị trí của nó đứng ở giữa khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội. Tâm lý học khảo sát, tìm hiểu các
động lực phát sinh và sự vận hành của các hiện tượng
tâm lý. Cũng như các ngành khoa học khác, tâm lý học bắt
nguồn từ triết học, và về sau trải qua hàng ngàn năm tâm
lý học mới chính thức trở thành một ngành học chuyên môn.
Khởi
đầu, vào thời cổ đại, tâm lý học gắn liền với lịch
sử triết học và được thanh lọc qua bởi nhiều quan điểm
khác nhau. Plato (428-318 B.C.) đại diện cho dòng triết học
Duy tâm, cho rằng hiện tượng của cả tâm lý và vật lý
đều xuất sinh từ ý niệm tuyệt đối hay còn gọi là "Eros"
(Tâm), đó là niềm hứng khởi vô tận từ triết học. Ngược
lại Democrite (460-320 B.C.) đại diện cho dòng triết học Duy
vật, đi tìm cái nguyên động lực đầu tiên từ trong thế
giới tự nhiên của vũ trụ vạn hữu như nước, lửa, khí...,
và cho rằng diễn biến của tâm lý con người hoàn toàn tùy
thuộc vào các qui luật về sự vận hành của thế giới tự
nhiên. Sau đó đến Aristote (384-322 B.C.), một môn đệ sáng
giá nhất của Plato đã cho ra đời một tác phẩm tâm lý học
đầu tiên dưới nhan đề : "Bàn về linh hồn". Trong tác phẩm
này, ông đã đề cập đến một vấn đề rất quan trọng
về tâm lý, đó là mối liên hệ mật thiết giữa tâm lý
và vật lý, hay giữa tinh thần và cơ thể với thế giới
sự vật hiện tượng(17).
Đến
nửa đầu thế kỷ XVII, Descartes (1596-1650) dùng khái niệm
"phản xạ" để cắt nghĩa và giải thích các hoạt động
tâm lý giản đơn của con người, cũng như động vật. Sau
đó, Locke (1632-1704) cho rằng mọi hiện tượng và diễn biến
tâm lý đều phát sinh từ kinh nghiệm tri giác thông qua các
giác quan. Cả Descartes và Locke đều thuộc nhóm tư tưởng
nhị nguyên, cho rằng dòng diễn biến của tâm lý tùy thuộc
vào vừa thể xác, vừa tinh thần. Cùng với nhóm tư tưởng
này, dòng "Tâm lý học kinh nghiệm" (Psychological empirica) ra
đời bởi các nhà tâm lý như : J. Lov (1632-1701), Didro) (1713-1781),
Honback (1723-1789) v.v...
Ở
thế kỷ thứ XVIII, lần đầu tiên trong lịch sử tâm lý học
phương Tây xuất hiện một cách chính thức ngành tâm lý học
qua tác phẩm "Tâm lý học kinh nghiệm" (Psychological empirica)
(1732) và "Tâm lý học lý trí" (Psychological rationalis) (1734)
của C. Wolff (1679-1754), một nhà triết học Ánh sáng (Enlightenment)
Đức. Tuy nhiên, ở thời kỳ đầu này, tâm lý học chỉ là
bộ môn của triết học, và được sử dụng bởi phương
pháp nội quan. Cho đến thế kỷ thứ XIX, phương pháp nghiên
cứu tâm lý nội quan dần dần chuyển sang thực nghiệm bởi
phòng thí nghiệm đầu tiên của Wilhelm Wundt được thành lập
tại Leipzig, năm 1897. Năm 1889, đại hội I về tâm lý học
được họp ở Pháp và từ đó tâm lý học được phát triển
thành một ngành khoa học chuyên môn, độc lập bao gồm nhiều
ngành học như : Tánh hạnh học (Psychologie du Comportement Behaviourism)
của Watson, Tâm hình học (Psychologie de la Forme) hay Tâm lý học
Grestalt của Kohler (1887-1967), Wertheimer (1880-1943) và Kofka (1886-1947),
Phân tâm học (Psychanalyse) của Freud v.v... Và đến những năm
20 đầu thế kỷ XX, có Tâm lý học Marxist của Setchenov, K.
Kornilov, Vugotski, Rubinstein v.v...(18).
I.2.2
: Các vấn đề của tâm lý học
A-
Đối tượng của tâm lý học
Tâm
lý học, như đã trình bày, là khoa học nghiên cứu về các
hiện tượng diễn biến của tâm lý, các qui luật và cấu
trúc tâm lý. Những vấn đề nêu trên quả thực rất phức
tạp theo các quan niệm khác nhau; do đó, có thể phân loại
các hiện tượng tâm lý như sau :
1/
Phân loại 1 : Các hiện tượng lý trí và tình cảm.
2/
Phân loại 2 : Các hiện tượng của ý thức và vô thức (như
mộng du...)
3/
Phân loại 3 : Các tiến trình của ý thức. Ở đây, chia làm
ba loại :
a)
Ý thức có khởi đầu, diễn biến và kết thúc (ý thức về
một điều gì đó).
b)
Ý thức xảy ra trong một thời gian ngắn nhất (như sự bộc
phát và mất đi của một ý niệm).
c)
Các xu hướng ý thức ổn định (như tình cảm, năng lực,
khí chất...)
4/
Phân loại 4 :
a)
Các nhu cầu và động cơ của tâm lý.
b)
Các khả năng và năng khiếu của con người.
c)
Các thuộc tính của tâm lý con người.
Bên
cạnh đó, các hiện tượng tâm lý trong sự vận hành của
tri giác (nhận thức) con người được diễn ra như sau :
a)
Nhận thức cảm tính : là nhận thức qua các giác quan như
: thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác, bao
gồm hai quá trình cảm giác và tri giác.
b)
Nhận thức lý tính : là nhận thức bằng lý trí từ hai quá
trình : hoặc là tư duy, hoặc là tưởng tượng.
Về
các thuật ngữ trên, có thể tóm tắt ý nghĩa của nó như
sau :
1/
Cảm Giác: là một quá trình tâm lý phản ánh riêng lẻ từng
thuộc tính của sự vật khi nó tác động trực tiếp vào
các giác quan (thính, thị, khứu, vị, xúc) của con người.
Cảm giác là bước đầu của nhận thức, và cũng là nền
tảng của sự nhận thức. Không có cảm giác sẽ trở thành
bất giác, vô tri như gỗ đá, không thể nhận thức được
hiện tượng sự vật chung quanh/bên ngoài thế giới tự nhiên.
Tuy nhiên, cảm giác thông thường có ba cường độ.
a)
Cường độ cần thiết, tối thiểu của kích thích để gây
ra cảm giác. (Tỉ dụ : cường độ cần thiết cho thị giác
có bước sóng ánh sáng là 390 mm, cho thính giác là tần số
16 hertz).
b)
Cường độ trung bình là điều kiện tốt nhất cho cảm giác.
(Tỉ dụ : bước sóng ánh sáng cho thị giác là 550-600 mm, tần
số sóng âm thanh cho thính giác là 1000 hertz).
c)
Cường độ tối đa (nếu quá là mất cảm giác) cho cảm giác.
(Tỉ dụ : bước sóng ánh sáng cho thị giác là 780 mm, và tần
số âm thanh cho thính giác là 20.000 hertz).
Ngoài
những cường độ tối thiểu, trung bình và tối đa, con người
không thể cảm giác được ở mức độ dưới tối thiểu,
hoặc trên tối đa. Đây là giới hạn của các công cụ thí
nghiệm vật lý trong tiến trình nghiên cứu tâm lý của con
người. Ở điểm này, Phật giáo có thể đi xa hơn trong việc
kiểm thảo dòng chảy của các hiện tượng tâm lý.
Đồng
thời cảm giác cũng có những qui luật căn bản như : thích
ứng, tương tác, nối tiếp, tương phản và bù trừ v.v...
2/
Tri Giác: là quá trình tâm lý tổng hợp những cảm giác riêng
lẻ để hình thành nên một tri giác toàn vẹn về một sự
vật, hiện tượng nào đó.
Câu
chuyện "Những chàng mù rờ voi" của Đức Phật có thể cho
thấy từng chi tiết của tri giác như sau :
a)
Do tích lũy kinh nghiệm và ngôn ngữ, nên tri giác về sự vật
sẽ bổ sung cho nhau và tạo thành một đối tượng toàn diện
của tri giác. Tỉ dụ các chàng mù, người rờ tai voi thì
cho rằng con voi giống cái quạt; rờ chân voi thì cho rằng
con voi giống cái trụ cột v.v...
b)
Do tựa vào kinh nghiệm cũ nên tri giác về sự vật mới sẽ
tạo nên kinh nghiệm mới. Tỉ dụ : vì đã biết hình thù
của cái quạt, nên khi rờ tai voi, chàng mù cho rằng con voi
giống cái quạt v.v...
c)
Do đó, nếu tri giác sai lầm thì dẫn đến kinh nghiệm sai
lầm. Kinh nghiệm cũ sẽ bổ sung cho tri giác và làm cho tri
giác hoàn thiện hơn. Và sự kết hợp của các quan năng (5
giác quan) là cơ sở kinh nghiệm của tri giác.
Từ
đây tri giác, cũng như cảm giác, có một số qui luật cơ
bản như : tính chất phân biệt, chọn lựa đối tượng, tính
chất ổn định, tính chất biến động, tính chất ảo ảnh,
tính chất chủ định, và không chủ định v.v...
3/
Tư Duy: Là hoạt động trí tuệ cao nhất của nhận thức,
đứng trên cảm giác và tri giác, là sự tương tác, phản
ảnh giữa bản thân và thực tại một cách chủ động bằng
những khái niệm, phạm trù. Tư duy chỉ có ở con người.
Các
thao tác của tư duy là : phân tích, tổng hợp, đối chiếu,
so sánh, biện minh, loại suy, đồ thị hóa, hệ thống hóa
v.v... Do đó, tính chất của tư duy là năng động, sáng tạo,
khái quát hóa, phản ánh gián tiếp thông qua các dấu hiệu,
ngôn ngữ, kinh nghiệm v.v... Vì vậy sản phẩm của tư duy
chính là các khái niệm phân biệt, các phán đoán suy lý (hoặc
diễn dịch, hoặc qui nạp) phát sinh từ sự giao tiếp.
4/
Tưởng Tượng: là sự thiết lập những ảnh tượng mới
không có trong thực tại trên cơ sở của những biểu tượng
đã có. Tính chất của tưởng tượng là sáng tạo, loại
suy (analogie) hay cao hơn là phỏng sinh (bionique) thông qua sự
lắp ghép các khái niệm, biểu tượng, ngôn ngữ... Tưởng
tượng diễn theo hai chiều : tiêu cực, là các mộng tưởng
hão huyền ...; và tích cực là các lý tưởng về một mục
đích cao đẹp thúc giục con người vươn lên sự phát triển
toàn diện các năng lực, đức tính v.v...
Trên
cơ sở này, dòng trôi chảy của tâm lý tiếp tục phát sinh
các hiện tượng : tình cảm, xúc cảm, vui, buồn, khổ đau,
hạnh phúc v.v... (19)
B-
Khái niệm của tâm lý học
Trong
tâm lý học hiện đại, các khái niệm thường được dùng
để mô tả và diễn đạt các hiện tượng tâm lý như : ý
chí, hành động ý chí, trí nhớ, sự lãng quên, sự chú ý,
nhân cách, tánh hạnh - bao gồm cả năng lực, tính cách, khí
chất và khuynh hướng. Ở đây, chúng ta khảo sát sơ lược
về ý nghĩa của các khái niệm trên như sau :
1/
Ý chí: là một phẩm chất đặc thù trong tâm lý con người,
giúp vượt qua những chướng ngại bằng sự nỗ lực, kiên
trì của tự thân. Ý chí thường là biểu hiện hai mặt của
nhận thức, tức là lý trí và tình cảm. Nhận thức càng
sâu sắc, tình cảm càng mạnh thì ý chí càng lên cao. Do đó,
đối với con người, ý chí có những tính chất nhất định
như : tính chủ đích, quyết đoán, độc lập, dũng mãnh, kiên
trì, tự chủ và tự kiềm chế.
2/
Hành động ý chí: là sự biểu thị, biểu hiện của ý chí
của nhân cách con người bao gồm các tính chất kỹ xảo và
thói quen.
3/
Trí nhớ: là tiến trình lưu trữ và duy trì các kinh nghiệm,
kiến thức, ấn tượng,... của tâm lý dưới hình thức của
những hạt giống biểu tượng, dấu hiệu... Trí nhớ được
chia thành nhiều loại, tùy thuộc vào các giác quan như : nghe,
nói, đọc, viết. Thông qua các kỹ năng trên mà trí nhớ lưu
trữ các ảnh tượng của ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc v.v...
4/
Sự lãng quên: là những gì chỉ một lần đi qua tâm thức
và bị quên đi, vì các lý do : không chú ý, không hứng thú
(về phía chủ thể) và không được lặp đi lặp lại, không
tạo được các kích thích, ấn tượng mạnh ... (về phía
đối tượng).
5/
Sự chú ý: là định hướng tập trung vào một đối tượng
nào đó của ý thức. Sự chú ý có khi mang theo tình cảm và
ngược lại là sự đãng trí. Có hai loại đãng trí : - Đãng
trí bình thường, tức sự không chú ý, và đãng trí bác học,
tức là sự tập chú cao độ ở một đối tượng nào đó
mà quên hẳn đi các đối tượng xung quanh.
6/
Nhân cách: là những đặc trưng tâm lý ổn định (thói quen)
của cá nhân, và hình thành nên một giá trị của cá nhân
đó trong tương quan giữa cá nhân và xã hội. Nhân cách là
đặc tính người của con người.
Theo
Schiffman, "nhân cách có thể miêu tả như là những đặc trưng
của tâm lý vừa qui định và phản ánh cách thức mà con người
ứng xử với môi trường xung quanh". (20)
Về
cấu trúc của nhân cách thường được xem là phẩm chất
và năng lực cộng với đức hạnh và tài năng.
7/
Khuynh hướng: là những ý muốn hướng đến một mục tiêu
nào đó của tâm thức con người. Khuynh hướng thường bao
gồm các đặc trưng như : nhu cầu, cảm hứng, lý tưởng,
quan điểm v.v...
8/
Năng lực: là khả năng khi thực hiện sẽ đưa đến một
kết quả nhất định nào đó của con người. Năng lực được
xem như là một tổng thể bao gồm các đặc trưng : tri thức,
kỹ xảo, kỹ thuật, thái độ tâm lý dũng mãnh v.v...
9/
Tính cách: là sự biểu hiện của tâm lý qua hình thức cử
chỉ, thái độ, tác phong, phong thái ... mang tính chất cá tính
của mỗi cá nhân.
10/
Khí chất: là sự biểu thị cường độ và tốc độ của
các hoạt động tâm lý trong thể cách ứng xử của con người.
Khí chất thường được chia thành các loại : nóng nảy, hăng
hái, bình thản, ưu tư ...
Trên
đây là một số khái niệm quen thuộc trong tâm lý học hiện
đại; giờ đây, chúng ta đi vào khảo cứu phương pháp của
tâm lý học.
C-
Phương pháp tâm lý học
Thông
thường ngành tâm lý học dùng các phương pháp chuyên môn
để đoán định, phân tích, giải kiến các hiện tượng tâm
lý một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Ở đây, có thể
liệt kê một số phương pháp chuyên môn như sau :
1/
Phương pháp nội quan (Méthode introspective)
Là
phương pháp mà tự chủ thể quan sát các hiện tượng diễn
tiến trong tâm lý của chính mình. Phương pháp này được
dùng một cách phổ biến trong tâm lý học của Ribot, trong
phân tâm học của Freud, và tâm lý học thực nghiệm (introspection
expérimentale) của Wurzbourg...
2/
Phương pháp ngoại quan (Méthode objective)
Phương
pháp này được dùng để quan sát đối tượng khác nó; ở
đây, chủ thể quan sát và đối tượng được quan sát hoàn
toàn khác nhau. Phương pháp ngoại quan được ứng dụng bằng
nhiều cách khác nhau như :
- Quan
sát : ghi nhận, khảo sát các biểu hiện từ bên ngoài.
- Thí
nghiệm : bao gồm thí nghiệm tự nhiên và thí nghiệm qua dụng
cụ.
- Trắc
nghiệm : bao gồm trắc nghiệm tổng hợp (test synthétiques),
trắc nghiệm phân tích (test analytiques), trắc nghiệm phẩm
chất (test qualitatifs), trắc nghiệm số lượng (test quantitatifs),
trắc nghiệm định hướng (test d'aptitudes) v.v...
- Phỏng
vấn.
- Dùng
bảng câu hỏi v.v...
Phương
pháp ngoại quan thường áp dụng cho các ngành tâm lý học
như : tâm sinh lý học (psycho-physiologie), phản xạ học (réflexologic)
của Pavlov và Bechterev, tánh hạnh học (behaviourism, psychologie
du comportement) của Watson, tâm vật lý học (psychophysique) của
Weber và Fechner, tâm lý động vật (psychologie animale) của Auguste
Forel, Piéron, Kohler, Boulan ..., tâm lý trẻ em (psychologie des
enfants) của Watson, Guillaume ..., tâm bệnh lý học (psychologie
pathologique) của Freud, Ribot, Jaspers v.v...
3/
Những giới hạn của phương pháp nội quan và ngoại quan
a)
Nội quan : Như cách ngôn "dòng ý thức" (stream of consciousness)
của W. James, ý thức không phải là một thực thể (entity)
đơn nhất mà là một tiến trình trôi chảy bất tận. Do đó,
những ghi nhận về tâm lý của con người chính nó bao giờ
cũng sai lệch, khó chính xác; vì ý thức trong từng chập tư
tưởng luôn luôn thay đổi. Vả lại, nội quan là một thế
giới khép kín của ý thức chủ quan ; nó chỉ cho phép (chủ
thể quan sát) biết được chính nó, tức thế giới ý thức,
tinh thần, tình cảm... của riêng mình, chứ không thể biết
được dòng tâm thức của người khác, ngoại trừ những
phán đoán và suy luận mang tính cách công ước.
b)
Ngoại quan : Các giới hạn lớn nhất của ngoại quan là không
thể trực tiếp ghi nhận các hiện tượng diễn tiến của
tâm lý mà phải thông qua các phản ứng sinh lý. Do vậy, những
kết quả đem lại từ ngoại quan không hẳn lúc nào cũng chính
xác.
Ngoài
những giới hạn vừa nêu, phương pháp nội quan và ngoại
quan đã đóng góp một một cách hữu ích thiết thực cho tiến
trình nghiên cứu tâm lý học từ xưa đến nay. (21)
I.2.3
Những lý thuyết tiêu biểu về tâm lý học hiện đại
Như
đã trình bày, có rất nhiều lý thuyết về tâm lý học hiện
đại. Tuy nhiên, ở đây tác giả chỉ đề cập đến một
số lý thuyết tiêu biểu liên hệ đến tâm lý con người
và tâm lý xã hội, nghĩa là các thuyết được tập trung vào
các vấn đề then chốt như : tâm thức và bản ngã (hay nhân
tính) trong tương quan giữa con người và xã hội; và đó cũng
là điểm trọng tâm của ngành tâm lý giáo dục hiện đại.
1-
Lý thuyết của George Herbert Mead (1863-1931)
George
H. Mead là một giáo sư triết học về tâm lý xã hội thuộc
Đại học Chicago, ông là một học giả chuyên chính có ảnh
hưởng rộng lớn; tuy nhiên, chưa bao giờ viết sách hay báo
để biện minh học thuyết của mình. Những lớp tâm lý học
đầu tiên của ông được dạy từ năm 1900 tại Đại học
Chicago. Về sau, vào những năm 1927-1930, người ta đã viết
lại tư tưởng của Mead và phổ biến rộng rãi. Phần trình
bày dưới đây được trích dẫn từ tác phẩm "Mind Self and
Society" (21) và được tóm tắt trong nội dung quyển "Sociology"
(22) của Leonard Broom, và Philip Selznick. (23)
Nội
dung lý thuyết tâm lý của Mead được trình bày qua các điểm
trung tâm của : tâm thức, bản ngã, và xã hội.
Chủ
thuyết của Mead, cũng như John Dewey (một triết gia thực nghiệm),
cho rằng cơ cấu tâm lý của con người là một hệ thống
bao gồm : tâm thức, bản ngã và xã hội. Tuy nhiên, theo Mead,
tâm thức (mind) và bản ngã (self) vốn là sản phẩm của xã
hội. Tâm thức và bản ngã là một hệ thống xã hội, phát
sinh từ kinh nghiệm xã hội; và do đó, có thể xem bản ngã
của tâm thức là một đơn vị độc lập, nhưng không thể
phát sinh ngoài kinh nghiệm xã hội. (24)
Mead,
qua ghi nhận của L. Broom và P. Selznick, lý luận rằng : "Tư
tưởng hay tâm linh và bản ngã, chỉ xuất hiện trong diễn
tiến giao tế và giao dịch xã hội, chứ không thể có trước
xã hội. Nhưng làm thế nào giao tế và giao dịch xã hội có
thể hoạt động trước tâm linh và bản ngã ?". Mead giải
thích : "Khả năng giao dịch và giao tế là khả năng sinh lý
của những sinh vật thượng đẳng. Thực vậy, giao tế bằng
những phương tiện không dùng ngôn ngữ trong những hoạt động
chung là điều kiện có trước ngôn ngữ. Ngôn ngữ đã góp
thêm vào sự giao dịch và giao tế thô sơ, của loài người
bằng cách làm cho xã hội hóa có thể thực hiện được.
Nhờ ngôn ngữ nên người ta có thể lĩnh hội rõ ràng thái
độ của những kẻ khác và các đoàn thể họ tham dự vào
... Cuối cùng, tâm thức và bản ngã phát sinh khi giao tế xã
hội đi song song với ngôn ngữ và do ngôn ngữ mà được hoàn
thành" (25).
Từ
đó, lý thuyết tâm lý của Mead đưa ra tiến trình phát sinh
và phát triển của bản ngã từ thái độ bắt chước đến
khả năng tổng quát-liên hệ. Có thể tóm tắt lý luận căn
bản của Mead như sau :
a)
Giao tế tiền ngôn ngữ
Trong
nhiều trường hợp, các giống vật giao cấu với nhau và săn
sóc trẻ con làm cho phát sinh sự tương quan giữa con này và
con kia, đó là sự phát sinh của đời sống gia đình- thô
sơ trong các giống vật thấp hơn người.
Đối
với con người, do đó, nếu không thể giao dịch bằng cử
chỉ - (hành động không lời) - thì không thể giao tiếp bằng
ngôn ngữ. Vì lẽ các trẻ em nhỏ tuổi, nó sẽ không hiểu
được "giận" hay "đói" là gì trừ phi nó hiểu được cử
chỉ giận hờn và cho ăn của người mẹ v.v... Đây là giai
đoạn đầu của ý thức về bản ngã hay giai đoạn giao tế
tiền ngôn ngữ. (26)
b)
Giai đoạn ngôn ngữ hình thành tâm thức và bản ngã
Trong
trường hợp này, Mead cho rằng, nhờ có ngôn ngữ nên có tư
tưởng và nhờ có tư tưởng nên mới có sự giao tế; và
nhờ có ngôn ngữ nên có thể thay thế tư tưởng bằng hành
vi, thái độ, cử chỉ... Ở đây, sau khi đứa bé hiểu được
cử chỉ "giận hờn" và học được chữ "giận hờn", người
mẹ không cần dùng đến cử chỉ nữa mà chỉ dùng lời nói
để biểu thị tư tưởng. Và, vì mẹ và con cùng hiểu những
khái niệm về cử chỉ và ngôn ngữ, nên đứa bé có ý niệm
về sự "giận hờn" ... Do đó, tự nó sẽ làm theo những gì
phù hợp với ý muốn của mẹ nó (hay ý muốn của những
người xung quanh nó) ; nghĩa là nó lấy thái độ của người
khác hay những thái độ được qui ước chung của xã hội
làm khuôn mẫu nương theo. Đây là sự hình thành nhân tính
hay ý thức về tự ngã đầu tiên của mỗi con người.
c)
Bản ngã - xã hội
Như
vừa đề cập, sự phát sinh thế giới ý niệm của trẻ con
là do sự học tập và hấp thụ thái độ, ngôn ngữ, quan
điểm,... của kẻ khác ; và bằng cách đó, xã hội "đi vào
cá nhân". Nhưng theo Mead thì chỉ có con người mới có khả
năng kiểm thảo và tự kiểm thảo; và sự tự kiểm thảo
đó là kết quả của xã hội. Vì từ đầu, nguyên tắc hướng
dẫn con người vốn là kết quả của sự lĩnh hội các thái
độ và quan điểm... từ những người khác, tức từ xã hội
mà không phải là từ con người chính nó. Vì thế, ý thức
về tự ngã luôn luôn mang tính xã hội, và hiện hữu giữa
tương quan của con người và xã hội.
d)
Bản ngã và sở hữu tự ngã
Ở
điểm này, Mead nới rộng quan niệm về tự ngã, cho rằng
nó không những là sản phẩm của xã hội mà còn có tính
chất sáng tạo. Từ đó, ông chia bản ngã thành hai loại :
bản ngã và sở hữu tự ngã (hay cái thuộc tính cố định
của bản ngã). Nếu nói theo từ ngữ của Freud thì bản ngã
không bị kiểm soát bởi sở hữu tự ngã, mà trái lại, sở
hữu tự ngã là một phần của bản ngã. Do đó, sở hữu
tự ngã có thể gọi là những tri kiến, kinh nghiệm, khát
vọng ... của bản ngã. Và như thế, nó không hẳn lúc nào
cũng bị chi phối bởi những gì mà nó lĩnh hội, nhưng trái
lại, nó có thể hành động rất sáng tạo, ảnh hưởng đến
hay thay đổi mọi cơ cấu của tiến trình xã hội.
2-
Lý thuyết của Sigmund Freud (1856-1939)
Sigmund
Freud là một bác sĩ về thần kinh và tâm thần người Áo,
sáng lập ngành Phân tâm học (Psychoanalysis). Vì Freud là gốc
người Do Thái, từ năm 1938 ông sống lưu vong để tỵ nạn
chế độ phát xít Đức, và mất tại Anh vào năm 1939. Xuất
phát từ một phương pháp trị bệnh rối loạn thần kinh đặc
biệt (hystérie), Freud đã đề xuất phép trị liệu phân tâm
học bằng sự sử dụng liên tưởng, mộng để phân tích
những động lực mạnh (choc) gây bệnh. Về sau phân tâm học
trở thành chủ nghĩa Freud (Freudianism) và đề xuất hai bản
năng gốc là "bản năng tình dục" và "bản năng chết", xem
đó là nguyên động lực chi phối tiến trình lịch sử nhân
loại. Sau đó, lại tiếp tục hình thành nên chủ nghĩa Freud
mới (Neo-Freudianism) với các đại biểu chính là E. Fromn, K.
Horney v.v...
Lý
thuyết của Freud có thể được tóm tắt như sau : Freud cho
rằng cấu trúc nhân tính hay ngã tính của con người bao gồm
ba phần : a- Bản năng (Id), ngã tính (ego) và siêu ngã (superego),
cũng gọi là "ý thức" ba ngôi. (27)
a)
Bản năng (Id) : Bản năng là cội nguồn nhân tính của con
người, ở đó tích lũy các nguồn năng lượng và cung cấp
năng lực cho các hoạt động tâm lý như ý thức (ego) và siêu
thức (superego). Khi nguồn năng lượng gia tăng khiến cho bản
năng bùng phát mạnh tạo thành những cú sốc (choc) tâm lý
khó chịu, căng thẳng, bực tức ... Ngược lại, sự giải
trừ các căng thẳng và qui giảm năng lượng trở về trạng
thái ổn định, thư giãn ... là con đường phấn khích đưa
đến khoái lạc. Do đó, bản năng được chia thành hai loại
tác năng chính, đó là : "bản năng tình dục" (libido) và "bản
năng chết".
- Về
bản năng tình dục (libido) : nó là cội nguồn, năng lượng
tình dục, năng lực kích thích tình dục, phấn khích tình
yêu ... và chi phối đời sống nội tâm. Ở điểm này libido
được xem như là "nguyên tắc khoái lạc". Nó vừa là sự
phát triển tình dục của người lành mạnh và được mở
rộng cho đến các hoạt động khoa học, mỹ thuật của cá
nhân, lại vừa là căn nguyên của bệnh lý. Về sau, Freud liên
hệ rộng hơn nữa về khái niệm libido cho tất cả xung năng
của tình yêu, như tình yêu giữa bố mẹ và con cái...
- Về
bản năng chết (pulsion de mort) hay lực chết : nó diễn ra theo
chiều hướng ngược lại khi tùy vào mức độ tăng tốc của
năng lượng trong bản năng (Id) đi đến đỉnh cao như tức
tối, giận dữ... làm tăng huyết áp, ngất xỉu, tử vong...
Theo
nhận xét của C. Jung, libido không những là xung năng (pulsion)
của tình dục, mà còn là năng lượng của tâm lý nói chung.
(28)
b)
Ý thức tự ngã (ego)
Freud
cho rằng, ý thức tự ngã luôn luôn bị chi phối bởi bản
năng (Id) mà nội dung chính của nó là "libido" hiểu theo nghĩa
rộng - tức là mọi nhu cầu, khát vọng, dục vọng, thèm muốn
giao tiếp với thế giới thực tại khách quan. Ý thức là
là bản năng khát vọng sống của tự ngã ( cái tôi). Nhưng
khi ý thức tự ngã bị kiềm chế bởi những khuôn định,
qui ước xã hội (social conventions) nó lại đi vào vô thức
(inconscient). Rồi từ đó, những xung năng khát vọng bộc phát
lên ý thức, biến thành những ưu phiền, lo âu... "Cái tôi"
của mỗi cá thể luôn luôn bị phá vỡ bởi sự mâu thuẫn
của bản năng dục vọng và sự kiềm chế của ý thức xã
hội.
c)
Siêu ngã (superego)
Siêu
ngã cũng được gọi là siêu thức, nó vượt lên trên bản
năng tình dục (sexuality) và ý thức tự ngã để duy trì mọi
giá trị truyền thống và các lý tưởng đạo đức xã hội.
Nó, một mặt vừa kiềm chế sự thôi thúc của "khát vọng
dục tính" (sexual desize), mặt khác thúc giục ý thức bảo
trì các giá trị đạo đức cá nhân và xã hội. Do đó, siêu
thức là ý thức vươn đến sự hoàn thiện của đời sống.
Theo
đánh giá của L. Broom và P. Seiznick, thì cả hai triết gia thực
nghiệm George H. Mead và Sigmund Freud, những người sáng lập
ngành giải phẫu tâm lý này đã đóng góp một phần lớn
vào tiến trình nghiên cứu bản ngã trong quá trình xã hội
hóa. (29) Tuy nhiên, như chúng ta thấy, quan điểm của Mead và
Freud hoàn toàn khác nhau. Mead thì lấy xã hội làm nền tảng
cho sự phát triển của ý thức, trong khi Freud thì cho rằng,
những qui ước xã hội đã kiềm hãm và làm sai lệch ý thức
tự ngã. Mead chia ý thức thành hai phạm trù : bản ngã (ego)
và sở hữu tự ngã (ego - attribute), và cho rằng cả hai đều
nương tựa vào xã hội mà hình thành và phát triển. Ngược
lại, Freud chia ý thức làm ba phạm trù : bản năng (Id), ý
thức (ego) và siêu thức (superego); và ở đó, bản năng (Id)
là phần trọng tâm của sinh lý cá thể mà xã hội không thể
nào điều hành được, ego là người trung gian hòa giải các
nhu cầu sinh lý và những đòi hỏi của xã hội. Đối với
Mead, ngã và sở hữu tự ngã có thể dung hóa lẫn nhau, trong
khi theo Freud, các phạm trù của ngã luôn tiềm tàng những
khả năng xung đột, mâu thuẫn (30)... hay còn gọi là xung năng
(pulsion). (31)
3-
Lý thuyết của Carl Gustav Jung (1875-1961)
Carl
Gustav Jung là người cùng thời với Freud, một nhà phân tâm
học tại Zurich. Lúc đầu, Jung là môn đệ trung thành của
chủ thuyết Freud (Freudianism) sau khi tiếp xúc với Freud tại
Áo, vào năm 1907. Nhưng sau đó, ông từ chối hoàn toàn chủ
thuyết của Freud, cho rằng đó là lý thuyết dục tính đã
bị đồng hóa bởi dục tính cá nhân của Freud; và do đó,
ông nỗ lực xây dựng một lý thuyết mới, gọi là "tâm lý
trị liệu".
Theo
đánh giá của Calvin S. Hall và Gardner Lindzey, trong "Theories of
Personality" (32), thì Jung luôn luôn sáng tạo trong cách phân
tích tâm lý của mình. Với ông, cái tự ngã (personality) như
là một tổng thể bao gồm các mặt của đời như : ý thức,
vô thức, cảm thức, cá nhân, xã hội, nữ tính, nam tính,
nhân tính, thú tính, tri giác, trực giác v.v..., tất cả tính
chất đó được xem như là tác năng của một "trục nhân
tính" (axis of the personality). Do đó, theo Jung, trong nam giới
có chứa những nữ tính, trong nữ giới có chứa những nam
tính. Tương tự như thế đối với những thú tính (animal
nature) và nhân tính (personality) trong cùng một con người.
Và
cũng từ đó, Jung phân tích bệnh lý qua các hội chứng như
: dồn nén (repression), mặc cảm (oedipc), giận dữ, tức tối
(truculent), trầm mặc (inhibited), qui kỷ (egocentric), đa cảm
(hyperémotivité) v.v... đều xuất sinh từ ý thức tự ngã,
những ấn tượng, tri giác, ký ức, cảm xúc... đã qua và
bị dồn nén vào vô thức tạo thành những xung năng (pulsion)
gây nên trạng thái bất bình, bất an, bực tức, căng thẳng
cho dòng chảy của tâm lý. (33)
Mặc
dù Jung phê bình Freud, như vừa đề cập ở trên, nhưng chúng
ta thấy lý thuyết của Jung nhằm vào các hiện tượng tâm
lý nhiều hơn là bản chất của tâm lý như ở tâm lý học
Freud. Tuy nhiên, lý thuyết của cả Freud và Jung đều là những
dấu ấn vàng son, đặc sắc trong lịch sử tâm lý học hiện
đại.
4-
Lý thuyết của Erich Fromm (1900-1980)
Erich
Fromm, một nhà phân tâm học và xã hội học người Mỹ gốc
Đức, sinh tại Frankfurt. Năm 1922, ông tốt nghiệp tiến sĩ
tại Đại học Heidenberg, đến năm 1933, ông sang Mỹ và dạy
tại Đại học Chicago, ngành phân tâm học.
Quan
điểm của Fromm có phần tương tự với Carl .G. Jung, cho rằng
con người là một tổng thể bao gồm các đặc trưng của
nhân tính (personality) và thú tính (animal nature), và chính điều
đó là mâu thuẫn nội tại trong sự vận hành tâm lý của
con người. Do đó, trong tính cách của hoặc là thú tính hoặc
là nhân tính, con người nhất thiết cần phải có những nhu
cầu nhất định. Tuy nhiên, cũng như George H. Mead, Fromm cho
rằng sự phát triển của nhân tính là tùy thuộc vào những
cống hiến của xã hội. Nhưng, với xã hội thì ý thức về
sự tự do luôn luôn làm cho con người cảm nhận sự bất
an trong tâm lý. Đây là nội dung mà Fromm trình bày trong tác
phẩm "Thoát khỏi tự do" (Escape from Freedom) (34), và phương
pháp trị liệu của Fromm là tâm hóa chủ nghĩa nhân đạo.
Thực
ra, như vừa trình bày, sự nỗ lực của Fromm dù thế nào
đi nữa vẫn không giải quyết được cái mâu thuẫn nội
tại mà Fromm đã đề ra. Vì lẽ, cả tính chất của nhân
tính và thú tính là khát vọng, và con đường để đi đến
sự thỏa mãn mọi khát vọng đó là sự rối loạn và mâu
thuẫn giữa cá nhân và xã hội. Như thế, Fromm hoàn toàn bất
lực trong việc đề ra một con đường khả dĩ đem lại hạnh
phúc thật sự cho con người. Do đó, chủ thuyết của Fromm
cũng sớm bị rơi vào tha hóa.
5-
Lý thuyết của Abraham Harold Maslow (1908?)
Maslow
sinh tại Brooklyn, NewYork, con của một gia đình thường dân
người Do Thái. Lớn lên, ông vào Đại học Wisconsin, ngành
tâm lý học và đậu cử nhân năm 1930, đến năm 1934 ông đậu
tiến sĩ. Sau khi tốt nghiệp, ông trở về NewYork tiếp tục
làm việc và nghiên cứu tại Đại học Columbia. Maslow đã
từng làm việc, tiếp xúc với các nhà tâm lý học nổi tiếng
như E. L. Thorndike, E. Fromm, A. Adler, M. Wertheimer..., và đề tài
mà ông chuyên chú nhất là về lý thuyết nhân tính.
Theo
nhận xét của L. Broom, và P. Selznick, thì Maslow là một trong
những lý thuyết gia nhân bản về nhân tính nổi tiếng nhất,
ông cũng là người đầu tiên đề ra hệ thống các nhu cầu
con người theo mô hình tháp có 5 bậc :
a)
Nhu cầu sinh lý cơ bản : ăn, ở, vệ sinh, tình dục...
b)
Nhu cầu bảo toàn tính mạng.
c)
Nhu cầu văn hóa xã hội.
d)
Nhu cầu được kính trọng.
e)
Nhu cầu tự thể hiện, tự khẳng định, nói theo ngôn ngữ
của Mỹ ngày nay là nhu cầu "bùng nổ cá nhân". (The personality
broke out)
Ngày
nay, lý thuyết này được phương Tây khẳng định và bổ
sung thêm về nội dung. Vì lẽ, khi đời sống càng cao, thì
nhu cầu càng nhiều. Nhu cầu sinh ra động cơ, và động cơ
là ý lực làm thỏa mãn nhu cầu. (36)
Maslow
đã lý giải các nhu cầu, thậm chí là nhu cầu tình dục,
như là những ý lực nhằm tự khẳng định của nhân tính,
ông quan niệm rằng, sự thúc giục của sinh lý có thể thay
đổi hoặc chuyển hướng, cả trong loài thú cũng như loài
người (36).
Ông
quan sát và cho rằng, hành động nhục dục của loài khỉ
có tính cách xã hội hơn là sinh lý. Khỉ dùng hành động
hành dục để chứng tỏ trạng thái ngự trị và phục tùng
(37). Và do đó, nhu cầu tự khẳng định là ý hướng phát
triển của sinh thú cũng như của con người.
Về
động cơ và nhu cầu, theo Schiffman và cộng sự, được định
nghĩa như sau : "Động cơ là động lực nội tâm thúc đẩy
cá thể hành động. Động lực đó sinh ra do một trạng thái
căng thẳng không dễ chịu, là kết quả của một nhu cầu
chưa được thỏa mãn". (Motivation is the driving force within individuals
that impels them to action. This driving force is produced by a state of
uncomfortable tension, which exists as the result of an unfilled need).
(38)
Từ
những chi tiết trên, Maslow kết luận : "Con người là trung
tâm của mọi vấn đề". Nghĩa là con người phải tự chọn
cho mình một lối sống và phải chịu trách nhiệm hoàn toàn
về lối sống của mình. Đây là quan điểm của các nhà triết
học hiện sinh. Điều này tương tự như Jean Paul Sartre đã
khẳng định : "Con người là kết quả của mọi hành động
mà nó tạo ra" (39)
Như
thế, đứng ở góc độ nào đó, lý thuyết của Maslow cũng
có phần tương tự như của Freud, về bản năng "khát vọng
sống" của nhân tính. Nó cũng là cái trục nhân tính trong
quan điểm của Carl. G. Jung, và cái tính phối ngẫu (nhân và
thú tính) của Fromm... Tuy nhiên, giải pháp của Maslow cũng
chỉ là giải pháp "tạm thời" nhằm ôn hòa mọi khát vọng
thống thiết của con người mà thôi. Maslow không thể tìm
ra được cái căn nguyên của nhân tính là gì mà chỉ đề
ra các hoạt động và đòi hỏi của nhân tính trong tư thế
của kẻ vừa chủ động lại vừa bị động. Một giải pháp
như thế sẽ không thể giúp con người đạt đến sự hạnh
phúc lâu dài và thực thụ.
I.2.4
Nhận xét chung về tâm lý học phương Tây
Như
vừa trình bày tóm tắt một số lý thuyết gia và lý thuyết
tâm lý tiêu biểu ở trên, chúng ta có thể rút ra một số
nhận xét chung về tâm lý học phương Tây như sau :
1-
Các lý thuyết tâm lý của phương Tây từ thế kỷ XVIII, khởi
đầu bằng tác phẩm "Tâm lý học kinh nghiệm" (Psychological
Empiria) và "Tâm lý học lý trí" (Psychological Rationalis) của
C. Wolff, một nhà triết học ánh sáng cho đến nay đều tập
trung vào nghiên cứu và phân tích các hiện tượng tâm lý
hơn là bản chất của tâm lý.
2-
Đứng trên quan điểm hoặc là cá nhân, hoặc là xã hội,
các nhà tâm lý học xây dựng và củng cố lý thuyết của
mình; do đó, trong các lý thuyết tâm lý có những điểm mâu
thuẫn, bất đồng. Một số thì đi vào chủ nghĩa khoái lạc,
một số khác thì đi vào duy tâm phi lý tính. Những lý thuyết
đi vào thực nghiệm lại bị giới hạn bởi hiện tượng
"phòng thí nghiệm"...
3-
Tất cả các lý thuyết tâm lý phương Tây đều xoay quanh chủ
đề "khát vọng sống", dù nó được diễn đạt dưới nhiều
tên gọi khác nhau như : nhu cầu, điều kiện, thuộc tính vốn
có v.v..., tất cả đều nói lên tiếng nói dục vọng của
nhân tính, cái mà các lý thuyết gia cho rằng đó là cội nguồn
của khổ đau và hạnh phúc, và cũng là cái mà con người
phải tuân thủ, phục tùng.
4-
Do thừa nhận có một nhân tính tồn tại như một ngã thể
(ego) hay một thực thể (essence hay entity) độc lập và vĩnh
cửu, nên các lý thuyết tâm lý đều được tập trung theo
chiều hướng vừa điều tiết lại vừa thích ứng hóa với
mọi yêu cầu, khát vọng của nhân tính. Sự điều tiết hay
thích ứng đó được gọi là thỏa mãn. Và theo các tâm lý
gia phương Tây, sự thỏa mãn các nhu cầu của đời sống
tâm lý và vật lý là hạnh phúc. Do đó, hạnh phúc của con
người luôn luôn mang tính cách tạm thời và không ngừng thay
đổi. Vì lẽ, dục vọng, nhu cầu của con người sẽ không
bao giờ kết thúc ngay khi con người ấy "nằm xuống" muôn
đời. Một quan điểm về hạnh phúc như thế ắt hẳn là
động cơ gây khổ đau, ưu phiền và luôn luôn bức bách trong
sự vận hành của tâm lý. Đó chỉ là một thứ hạnh phúc
giả tạo, xây dựng trên cấu trúc vô thường, bất định
của thế giới tâm lý và vật lý. Chưa nhận chân được
tính cách vô thường của dòng tâm lý cũng như thế giới
thực tại khách quan, thì mọi cơ đồ hạnh phúc hóa ra hư
ảo, và con người vẫn đắm chìm trong khổ đau và tội lỗi.
5-
Cái giá trị cơ bản của các lý thuyết tâm lý phương Tây
là ở chỗ nó nhận ra khát vọng, dục vọng, ham muốn ...
như là sự thật về bản chất của nhân tính hay ý thức
tự ngã. Cũng như sự nhận ra cái mâu thuẫn nội tại của
nhân tính, một mặt vừa mong muốn được lặng yên trong hạnh
phúc vĩnh cửu, mặt khác lại luôn luôn bị sôi sục, rực
cháy và thiêu đốt bởi dục vọng thấp hèn, đây chính là
sự quá đà và của ý thức tự ngã.
6-
Cái giới hạn cơ bản của các lý thuyết tâm lý phương Tây
là các giải pháp của nó luôn luôn mang tính cách đối trị,
nhất thời. Và do đó, để có được sự thỏa mãn và hạnh
phúc theo ý muốn, con người phải liên tục đấu tranh với
chính nó cũng như với xã hội theo hai khuynh hướng vừa giải
quyết mâu thuẫn nội tại (cá nhân), vừa giải quyết mâu
thuẫn ngoại tại (mối liên hệ giữa cá nhân và xã hội).
7-
Về sự thật của con người và thế giới thực tại khách
quan, theo lời Đức Phật dạy, là vô thường, vô ngã (anatta).
Như thế, mọi lý thuyết nếu thật sự mong muốn đem lại
hạnh phúc cho con người tất yếu phải được soi sáng từ
bản chất của thực tại, tức vô thường, vô ngã. Bao lâu
con người còn đứng trên quan điểm hữu ngã (ego) để soi
sáng, chiếu rọi thực tại vô ngã, thì sẽ không bao giờ
đạt đến sự cứu cánh hạnh phúc. Đây là nhược điểm
then chốt của các triết gia tâm lý phương Tây. Nghĩa là,
mọi cơ cấu luận thuyết của họ luôn luôn được xây dựng
trên căn bản của cái "Tôi" (I), "Cái của tôi" (Mine) và cái
"Tự ngã của tôi" (Myself).
Trên
đây, chúng ta vừa khái lược một số lý thuyết tâm lý của
phương Tây, cũng như các ưu điểm và khuyết điểm của nó.
Sự khái lược này sẽ là cơ sở và tiền đề để đi vào
tìm hiểu tâm lý học Phật giáo (Buddhist Psychology).