Phần V
: Kết Luận và Tài liệu Tham chiếu
Qua
phần trình bày về Tâm lý học và tâm lý giáo dục Phật
giáo trên cơ sở của hệ thống tám thức được thuyết minh
bởi 30 bài tụng Duy thức của Vasubandhu, các phân tích về
tâm thức của Bách pháp minh môn luận, (bởi Vasudbandhu) và
Nhiếp luận của Asanga, cũng như một số tư tưởng trong kinh
tạng và luận thư của Đại thừa, chúng ta có thể đi đến
một số kết luận sau :
1-
Duy thức học là tâm lý học Phật giáo, vì nội dung của
nó tập trung khảo sát, nghiên cứu và phân tích từ các hiện
tượng tâm lý cho đến cái bản chất của các hiện tượng
tâm lý đó. Mặt khác, Duy thức học cũng đề cập đến con
đường cụ thể để phát triển tâm thức và làm cho tâm
thức con người đi ra mọi rối loạn, bất an, đau khổ để
đạt đến một sự toàn tri cao nhất - tức là chứng đắc
giác ngộ - Niết bàn như được trình bày cụ thể trong năm
địa vị của Duy thức.
2-
Lý do phân tích cụ thể các đặc tính, hiện tượng, bản
chất, trạng thái và các mối liên hệ v.v..., của tâm thức
trong triết học Duy thức là để giúp con người nhận thức
rõ ràng các yếu tố của tâm thức như phiền não, căn bản
của phiền não, tâm thiện, tâm bất thiện, tâm sở tác v.v...
Qua đó, mỗi người tự nhận thức rõ ràng cái căn để của
khổ đau và hạnh phúc, của thực tại ảo và thực tại như
thực... Và cũng từ đó, mỗi người tự kiến tạo cho mình
một sinh mệnh (chánh báo) và cuộc đời (y báo) an lạc, hạnh
phúc thật sự.
3-
Điểm độc đáo nổi bật nhất của Duy thức học cũng như
điểm khác biệt cơ bản giữa Duy thức học và các hệ thống
tâm lý học Tây phương là Tàng thức.
Tàng
thức, như đã trình bày, là một tổng thể vừa là nền tảng,
vừa là đỉnh cao của toàn bộ triết học Duy thức, cũng
như con đường khởi đầu và kết thúc của một tiến trình
tâm lý từ cuồng si, ngu muội đến thánh trí-tuệ giác vô
thượng ; ở đây được trình bày cụ thể qua hai góc độ
: nhận thức và hành động. Trước hết, mỗi người cần
phải được giáo dục, được đánh thức để nhận diện
rõ rằng tất cả hiện hữu trên cuộc đời này từ các hiện
tượng tâm lý thô kệch, như buồn, giận, yêu, thương đến
các hiện hữu của thế giới siêu thức, như vô tưởng định,
diệt tận định ; và thậm chí ngay cả thế giới thực tại
khách quan với muôn ngàn dị biệt đa thù v.v... tất cả đều
là biểu hiện của Tàng thức. Cho đến cái gọi là nhân tính,
ngã tính, cái tập khí năng huân và sở huân... thực chất
cũng chỉ là những tác năng và biểu hiện của Tàng thức.
Tàng thức là một dòng sông đang trôi chảy, do đó mọi tác
năng và biểu hiện của nó dù được biểu thị dưới bất
kỳ hình thức nào cũng không thể gọi là có "một ngã tính
vĩnh hằng-bất tử".
Trong
khi đó, các hệ thống tâm lý học phương Tây hoặc là chỉ
dừng lại ở ý thức tự ngã, hoặc là đi xa hơn - ở một
vùng vô thức như những khái niệm của Freud và Jung. Nhưng
khi đối diện với các vấn đề thống thiết, bức bách của
con người như : khát vọng của tình dục, khát vọng của
con tim, khát vọng của ý thức v.v... thì các hệ thống tâm
lý ấy đề ra những "tiếng gọi" từ bản năng (Id), từ tự
ngã, từ siêu ngã... Và, hướng giải quyết các vấn đề
thống thiết ấy không còn cách nào khác hơn là đi vào một
giải pháp "bão hòa", hoặc "đáp ứng nhu cầu" - tức chiều
theo "tiếng gọi" của ý thức - tự ngã.
Sau
cùng và ngược lại, con đường đi về phía trước của Phật
giáo là con đường của trí tuệ - nghĩa là sau khi nhận thức
rõ về chân lý, con người hoặc là theo chân lý để đi đến
một thực tại-toàn tri (giác ngộ), hoặc là sẽ mãi mãi đắm
chìm trong cơn khát vọng trần thế đang thiêu đốt. Đây là
sự thách đố vĩ đại nhất của nhân loại trước viễn
cảnh của Chân như và tục lụy. Tuy nhiên, nên nhớ rằng
: "Niết bàn sinh tử thị không hoa".
4-
Điểm cơ bản của sự giống nhau và khác nhau trong tâm lý
học Phật giáo và tâm lý học hiện đại là ở chỗ : về
mặt giống nhau, cả hai hệ thống tâm lý học đều tập trung
nghiên cứu, khảo sát các vấn đề tâm lý, các hiện tượng
và diễn tiến của tâm lý - nghĩa là cùng hướng về sự
nhận thức của con người, tức là ý thức. Tuy nhiên, trong
khi Phật giáo qua triết lý của mình đã soi sáng cái tự tính
vô tính (Nihsvabhava) của con người và thế giới - có nghĩa
là "Tất cả đều vô ngã - Anatta". Ngược lại, tâm lý học
hiện đại nỗ lực xây dựng học thuyết của mình theo tiếng
gọi của bản năng dục vọng, của ý thức tự ngã ... và
do đó phải liên tục đối diện các vấn đề nóng bỏng
của các mâu thuẫn nội tại giữa khát vọng của tự ngã
và ý thức xã hội, ý thức đạo lý - nghĩa là "con tim" và
"khối óc" liên tục đánh nhau. Và cũng từ đó, con người
với ý thức tự ngã cho rằng đây là Tôi (I), đây là cái
của Tôi (mine), đây là cái tự ngã của Tôi (myself) và chấp
thủ, bám víu vào cái tôi, cái của tôi, và cái tự ngã của
tôi, nghĩ rằng đó là thường tại vĩnh hằng. Vì thế, do
chấp thủ vào tự ngã, đắm say vào tự ngã mà con người
thường xuyên rơi vào từ khủng hoảng này đến khủng hoảng
khác, đó là các khủng hoảng của con tim và lý trí...
5-
Quan niệm về con người : Dưới lăng kính của Duy thức học,
con người không phải là một sinh thể độc lập, một con
người cá thể, hay một sinh vật xã hội như quan điểm của
triết học Tây phương ; cũng không phải là một phần của
bản thể Đại ngã (Brahman), như triết học Ấn Độ cổ đại
; cũng không phải là hiện hữu từ vô vi, hay nguyên lý vận
hành của âm dương như triết học Trung Hoa. Con người theo
Phật giáo, trước hết là một biểu hiện từ Tàng thức,
bao gồm đầy đủ các nhân duyên (địa, thủy, hỏa, phong,
không, thời, phương, thức) và xuất hiện như một tổng thể
bất khả phân ly của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)
; và bản chất của con người không gì khác hơn là một tích
hợp của nhân duyên cộng với dòng nghiệp thức. Nếu có
mặt đầy đủ các nhân duyên mà thiếu vắng dòng nghiệp
thức (hay Kiết sinh thức) thì con người không thể hình thành
như một sinh vật biết tư duy, có tri giác, biết sáng tạo
và có con tim yêu thương...; mà trái lại, con người thiếu
vắng dòng nghiệp thức đó sẽ là tượng đá vô tri, không
thể giáo dục, uốn nắn, đào luyện được. Nhưng Nghiệp
ở đây là gì ? Như đã trình bày, đó là các hạt giống,
các tập khí, các tạo tác trong chiều sâu của tâm thức.
Nói khác đi, nghiệp chính là tư duy và hành động của chính
mỗi con người, đó là các nghiệp thiện, ác (và vô ký).
Con người, trên đời trần thế, đã tạo nghiệp (nhân) gì
thì phải gánh chịu nghiệp (quả) đó. Hành động, tư duy
và tạo tác của ta như một thứ trái khoán được vay mượn,
và một ngày nào đó nó phải được trả lại cho trái chủ
- tức là con người chính nó. Như thế, sự hiểu biết, nhận
thức đúng đắn về Nghiệp (Karma) sẽ giúp bạn thoát khỏi
lưới mê hoặc của các "đấng" tạo hóa, quyền năng, ngự
trị, chi phối sinh mệnh của chính bạn. Và từ đó, bạn
hãy tự chọn cho mình một hướng đi.
6-
Con đường tu tập của Duy thức : Mục đích của Duy thức
được lập ra là để giúp con người tiến đến một sự
chuyển y - một thay đổi trọn vẹn toàn bộ cơ cấu tâm thức
của con người. Đó là cái cơ cấu được thiết lập bởi
dục vọng, chấp thủ, tham ái, bởi các xung năng tình dục,
hiện hữu và không hiện hữu v.v... Và con đường chuyển
y đó được Nhiếp Luận của Asanga định rõ qua sáu bước
: (1) Thứ nhất là do công năng hiện quán thiền định, do
các lực Thắng giải (sự hiểu biết - trí tuệ) trong giao
tiếp (đa văn) huân tập, và do có sự hổ thẹn nên các phiền
não được suy giảm và một phần băng tiêu. Đây là sự chuyển
y bằng cách qui giảm sức mạnh và tăng thêm khả năng. (2)
Thứ hai là sự chuyển y bằng thông đạt. Riêng đối với
các vị Bồ Tát đã vào Đại địa (từ sơ địa đến lục
địa), sức mạnh của sự chuyển y chính là "đôi mắt" nhìn
cuộc đời hiện hữu. Ở đó, cái chân thật được hiển
thị, còn cái phi chân thật thì không hiển thị. (3) Thứ ba
là chuyển y bằng sự tu tập (từ thất địa đến thập địa).
Ở địa vị này chỉ có chân lý hiển thị còn các ảnh tượng
của chân lý thì không. Nghĩa là Bồ Tát có khả năng thấu
thị (hay nhìn xuyên suốt) toàn chân pháp giới. (4) Thứ tư
là chuyển y bằng thể tính thanh tịnh viên mãn. Ở đây, Bồ
Tát đã tung tăng giữa dòng đời sinh tử phiêu bạt này mà
không còn bất kỳ một chướng ngại nào ; đây là sự đạt
đến chân lý tối hậu - cứu cánh, tức giác ngộ giải thoát
toàn diện. (5) Thứ năm là sự chuyển y của hàng Thanh Văn
- Đó là sự chỉ đạt đến nhân không - Vô ngã. Và (6) thứ
sáu là sự chuyển y của Bồ Tát - Sự thông đạt cả Nhân
không - Vô ngã và Pháp không - Vô ngã. Hai sự chuyển y thứ
năm và thứ sáu chỉ là cách phân loại theo quan niệm về
Mahayana (Đại thừa) và Hinayana (Tiểu thừa). Như thế cách
trình bày về sáu bước chuyển y của Asanga đã được Vasubhandhu
hệ thống hóa lại thành năm địa vị Duy thức, đó là :
tư lương, gia hạnh, thông đạt, tu tập và cứu cánh.
7-
Thế giới quan của Duy thức được nhìn bằng đôi mắt "nhân
duyên". Từ con người đến thế giới sự vật hiện tượng
tất cả đều là hiện hữu của nhân duyên ; và khái niệm
Duy thức tức là khái niệm "Nhân duyên". Theo Asanga, tất cả
hiện hữu luôn luôn có đủ bốn nhân duyên : (1) Nhân duyên,
(2) Sở duyên, (3) Tăng thượng duyên và (4) Đẳng vô gián duyên.
Ở đây Duy thức chính là Nhân duyên. Như thế, trong tất cả
các lĩnh vực từ tâm lý đến vật chất, một sự thể nếu
muốn định hình phải đầy đủ bốn nhân duyên. Đặc biệt
trong lĩnh vực giáo dục, bốn nhân duyên này chính là nguyên
tắc cơ bản của sự thiết lập một đường hướng giáo
dục tốt nhất đối với con người. Từ bốn nhân duyên này,
thế giới và con người được xem như là một tổng thể
của các mối quan hệ và hàng loạt các giá trị tương quan
lẫn nhau, tất cả đều điều kiện hóa lẫn nhau, như muôn
loài vạn vật không thể sống và sinh trưởng mà thiếu năng
lượng trong từng tia nắng của mặt trời.
Phần
chú thích
(1)
Khái niệm công nghệ hiện nay bao gồm 4 yếu tố cơ bản:
a)
Technoware (kỹ nghệ máy móc) -> Technology
b)
Humanware (kỹ nghệ con người) -> Human being
c)
Inforware (kỹ nghệ thông tin) -> Information
d)
Organware (kỹ nghệ tổ chức) -> Organization.
Và,
sự vận hành của công nghệ bắt buộc phải diễn ra theo
hai qui luật :
1-
Trade-off (đánh đổi) và 2- Opportunity cost (chi phí cơ hội).
(2)
Theo kinh tế gia Jeremy Rifkin, Chủ tịch Hội đồng Kinh tế
Washington thì thời đại hiện tại là thời đại của robot
và computer. Từ năm 1960, lực lượng lao động cổ xanh (blue
collar) là 33%, nhưng hiện nay chỉ còn 17%, và tính đến năm
2025 sẽ còn lại 2%. Đến lúc đó, các quản trị gia bậc
trung (white collar), thư ký (secretary), tiếp tân (receptionist),
tiếp thị (marketing)... đều bị loại, (tư liệu của Newsweek
1995).
(3)
Xem Kinh tế chính trị học (tập I)
Nguyễn
Văn Luân, Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, TP.
Hồ Chí Minh, 1992.
(4)
Quan niệm của các nhà tâm lý học như Freud, Malinowski, Maslow,
Erich Fromn... xem *"Escape From Freedom", Erich Fromn, Reinhart and company,
Inc., 1941. *"Mother - Right and The Sexual Ignorance of Savages", Ernest
Jones, 1925. *"Methods in Social Science", Stuart, edited by A. Rice, University
of Chicago Press, Chicago, 1931 (phần A - Hypothesis Rooted in the Preconceptions
of a Single Civilization - Tested by Bronislaw Malinowski của Harold
D. Lasswell.
(5)
Kinh Dhammapada, các hành (formations), các pháp (existences) đều
là cấu trúc của tư duy hữu ngã, và được dựng lên bởi
tri giác sai lầm (vọng tưởng). Những hiện hữu (pháp) trong
tâm lý và cấu trúc của tâm lý là vô thường, vô ngã; hay
nói cụ thể hơn là sắc (rùpa) và tâm (citta) là vô thường,
vô ngã (xem nội dung phần sau).
(6)
Xem "The Concept of Personality Revealed through The Pancanikaya, tr 006,
(bản photo), 1996.
(7)
Jean Paul Sartre (1905-?) một nhà tư tưởng hiện sinh được
xem là có tư tưởng gần gũi nhất với Phật giáo. Những
kiểm thảo tâm lý học của ông như "être-pour-soi" (hiện hữu
cho nó) và "être-en-soi" (hiện hữu chính nó), hay "hiện hữu
có trước ngã thể" (existence preceedes essence) v.v... là căn
bản của triết học hiện sinh. Và điều đó cũng cho thấy
sự khác biệt căn bản của hiện sinh thuyết và Phật giáo
(chủ trương Vô ngã- Anatta, và Trung đạo- Majjhimà-patipadà).
Tuy nhiên, điểm tương đồng của Sartre với Phật giáo là
"Con người phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tư duy và
hành động của chính mình". (xem 100 Great Thinkers, J.E. Greene,
Washington Square Press, New York, 1967).
(8)
Đối tượng của tâm lý học (Psychology) là nghiên cứu các
sự kiện tâm lý, còn đạo đức học (Ethics) nhằm đến xác
định các bổn phận, trách nhiệm, và các vấn đề thiện,
ác.
Về
quan điểm nghiên cứu, tâm lý học là khoa học mô tả, kiểm
thảo đời sống tâm lý, còn đạo đức học thì hướng đến
việc tác thành các qui phạm, qui tắc để qua đó, nếu con
người tuân thủ thì sẽ đạt đến những điều thiện.
(9)
"Owner of their Karma are the beings, heirs of their karma, the karma is
their womb from which they are born, their karma is their friend, their
refuge. Whatever karma they perform, good or bad, there of they will be
the heirs" (Majjhima Nikaya - 135).
(10)
Theo tổ chức NCEA, năm 1996 đã xếp loại và đánh giá các
nước có môi trường bị suy giảm như sau :
1-
Pháp : 41,2% 2 - Canada : 38,1%
3-
Mỹ : 22,1% 4 - Nhật Bản : 19,1%
5-
Tây Đức : 16,5% 6 - Thụy Điển : 15,5%
7-
Anh : 14,3% 8 - Hà Lan : 11,4%
9-
Đan Mạch : 10,6%. Và Mỹ là nước xả rác nhiều nhất trên
thế giới : 180 triệu tấn /năm. Ông Alparvovtz, Chủ tịch NCEA
tuyên bố rằng : "Do mức phát triển thấp của nền kinh tế
nên hậu quả là như vậy, nếu phát triển hơn nữa thì mức
độ nguy hiểm càng tăng". (NCEA's report, 1996 tại Hội nghị
môi trường - America).
(11)
Thông qua hiệu ứng nhà kính (do Dioxide de carbone), bà Algela
Merket, Bộ trưởng Môi trường Đức cho rằng, nếu không giảm
60% khí đốt, dầu lửa, than đá..., thì đến năm 2100, mực
nước biển sẽ tăng lên 1m, làm mất diện tích sinh sống
của 94 triệu người. Về vấn đề này, bà tuyên bố : "Chúng
ta đang cùng đi trên một chuyến tàu".
(12)
Trung Bộ kinh I. 87, trong "Some Teachings of Lord Buddha on Peace and
Human Dignity", Thích Minh Châu, VNCPHVN, TP. Hồ Chí Minh, 1995, tr.
40.
(13)
"He who builds up such imaginations, he is equal, he is superior, he is
inferior to me. Such imaginations will lead to quarrels ! He who is unshaken
by there three fancies, to him, there will be no equality, no superiority".
(Samyutta Nikàya. i. 12)
(14)
"Victory engenders hatred ! Defeat brings up suffering ! He who gives up
victory and defeat, with serenity, he enjoys happiness". (Samyutta Nikàya.
I. 102)
* Trích
dẫn của Thích Minh Châu, trong "Some Teachings of Lord Buddha on
Peace and Human Dignity", VNCPHVN, TP. Hồ Chí Minh, 1995, tr. 40-51.
(15)
Xem biểu đồ của 3 hệ thống trên ở phần sau (phần biểu
đồ).
(16)
Asanga, Luận sư là vị Tổ thứ 20 dòng Thiền Ấn Độ. Vasubandhu,
Luận sư là vị Tổ thứ 21 dòng Thiền Ấn Độ.
(17)
Trước Aristote khoảng 200 năm, Đức Phật (563-483 B.C.) đã
trình bày mối liên hệ của 5 uẩn (Skandhas) và 12 nhân duyên
hay Duyên khởi (paticcasamupàda), tức là mối tương duyên không
thể tách rời giữa con người và thế giới rất cụ thể
trong Nikàya. (xem : 100 Great Thinkers, J.E. Greene, Washington Square
Press, Newyork, 1967).
(18)
Xem "Từ điển Triết học", nhà xb Đại học & Trung học
chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987
- "Culture
and Personality", J.J. Honigman, Harper & Bros, NY, 1952.
- "Handbook
of Social Psychology", Gardner Lindzey (chủ biên), 2 vols, Addision-Wesley,
Cambridge, 1954.
- "Social
Psychology", Robert E.L. Faris, Ronald Press, Newyork, 1952.
(19)
Xem "Tâm lý học kinh doanh và quản trị", Nguyễn Văn Lê, Nxb
Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1994.
- "An
Outline of Psychoanalysis", Sigmund Freud, Norton, Newyork, 1949.
- "Sociology",
Leonard Broom, and Philip Selzick, Peterson and Company, Evanston, Illinois,
USA, 1958.
(20)
"Personality can be described as the psychological characteristics that
both determine and reflect how a person will respond to his or her environment".
Trích dẫn của Nguyễn Văn Lê trong "Psychology of Business and
Administration", Nxb Trẻ, 1994, tr. 58.
(21)
Xem "Lô-gích học và phương pháp nghiên cứu khoa học", Lê
Tử Thành Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1993.
- Tập
san Triết học và tư tưởng, số 1-2, San Jose, 1996.
(21)
"Mind Self and Society", George H. Mead, University of Chicago Press, Chicago,
1943.
(22)
"Sociology", Leonard Broom & Philip Selznick, Peterson and Company,
Evanston, Illinois, USA, 1958.
(23)
Bản dịch : Xã hội học, Trung tâm nghiên cứu VN, Ban tu thư
Diên Hồng, Sài Gòn, 1962.
(24)
Mind Self and Society,..., tr. 140.
(25)
Xã hội học ....., tr. 118
(26)
Ibid..., tr. 119-120.
(27)
Xem "An Outline of Psychoanalysis", Sigmund Freud, Norton, Newyork, 1949.
(28)
Từ điển triết học giản yếu, Nxb Đại học và Trung học
chuyên nghiệp , Hà Nội, 1987, tr.267.
(29)
Sociology ..., tr. 111
(30)
Ibid, tr. 113
(31)
Xung năng (pulsion), là những xung lực mang tính năng động luôn
luôn thôi thúc ý thức tìm kiếm sự thỏa mãn cho các nhu cầu
sinh lý cơ bản như : ăn uống, sinh dục... Sinh dục hay nhục
dục (khoái lạc xác thịt) nếu không được thỏa mãn, thì
có thể dùng năng lượng đó đầu tư cho các hoạt động
văn hóa, sự kiện này được gọi là thăng hoa (Sublimation).
Ngược lại, nhục dục nếu không giải quyết được sẽ
tạo thành các bệnh lý như : dồn nén (repression) mặc cảm
(oedipe), dữ tợn (truculent), qui kỷ (eyocentric), thầm lặng
(inhibited), đa cảm (hyperémotivité) v.v..
(32)
Theories of Personality, Calvin. H. Hall and Gardner Lindzey, Wiley Eastern
Ltd, New Delhi, 1991.
- Handbook
of Social Psychology, 2 vols, Gardner Lindzey, Cambridge, Addision - Wesley,
1954.
(33)
Đọc thêm "Tâm lý bệnh nhân", A.V. Kvaxenco, Ju. G. Dubarep, Nxb
Mir, Maxcơva, Hà Nội, 1986.
(34)
Escape from Freedom, Erich Fromn, Reinhart and Company, Inc, 1941.
(35)
Tâm lý học quản trị, kinh doanh, Nguyễn Văn Lê, Nxb Trẻ,
1994, tr. 72-73.
(36)
"The Role of Dominance in the Social and Sexual Behavior of Infrahuman
Primates : III. A. Theory of Sexual Behavior of Infrahuman Primates", A.H.
Maslow, Jouraual of Genetic Psychology, 48 (1936), 310-38.
(37)
Sociology,..., tr 103
(38)
Tâm lý học kinh doanh và quản trị,..., tr. 73.
(39)
Xem chú thích số (7).
(40)
Xem "Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo". Thích Tâm Thiện, THPG
TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, 1995.
- Lược
sử Phật giáo Ấn Độ, Thích Thanh Kiểm, THPG TP. Hồ Chí Minh,
TP. Hồ Chí Minh, 1989.
(41)
Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận, Kimura Taiken, Thích Quảng
Độ dịch, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, Sàigòn, 1959, tr. 37,
(bộ mới in).
(42)
Ibid, tr. 36-45 (bộ mới)
(43)
Ibid, tr. 42-43.
(44)
Ngài Ca Đa Diễn Ni Tử, một người tinh thông Tam tạng ra đời
sau Phật khoảng 300 năm, người được xem là thủy tổ của
Thượng Tọa bộ qua tác phẩm Phát trí luận. (Xem Lược sử
Phật giáo Ấn Độ, Thích Thanh Kiểm, THPG TP. Hồ Chí Minh,
TP.HCM, 1989, tr. 90.
(45)
Đây là hai bộ luận trung tâm của Hữu bộ lúc bấy giờ.
(46)
Về niên đại ra đời của các vị Luận sư này vào khoảng
từ đầu thế kỷ II đến cuối thế kỷ thứ IV.
(Xem
: Lược sử Phật giáo Ấn Độ, Thích Thanh Kiểm..., tr. 135-136)
(47)
Xem thêm : Lược sử Phật giáo Ấn Độ - Sđd, tr. 116.
(48)
Ibid, tr. 165-166.
(49)
Tương truyền Bồ Tát Di Lạc (Maitreya) ở tại cung trời Tusita
ngự xuống giảng đường Ayodhya, Trung Ấn, nước Magadha để
giảng về Duy thức cho ngài Asanga suốt 4 tháng - Sđd, tr. 176.
(50)
Trong các luận thư trên, Câu xá luận thuộc về giáo nghĩa
của Hinayana, Duy thức tam thập tụng và nhị thập tụng thuộc
về Mahayana.
(51)
Không phải là ngài A Nậu Đa La thời Đức Phật.
(52)
Thắng pháp tập yếu luận, Thích Minh Châu dịch, 2 quyển,
Tu thư viện Đại học Vạn Hạnh, Sàigòn, 1971 (tái bản).
(53)
Xem Trường Bộ kinh, bản dịch của Thích Minh Châu, VNCPHVN,
TP. Hồ Chí Minh, 1993.
(54)
Xem Đại cương Câu xá luận, Thích Thiện Siêu, VNCPHVN, TP.
Hồ Chí Minh, 1992.
(55)
Đọc thêm : "Tiểu thừa & Đại thừa Phật giáo tư tưởng
luận", Kimura Taiken, Thích Quảng Độ dịch, Tu thư Đại học
Vạn Hạnh, SàiGòn, 1959.
- "Đại
cương Câu xá luận", Thích Thiện Siêu, VNCPHVN, TP. Hồ Chí
Minh, 1992.
(55)
Xem "Giảng luận Duy Biểu Học" (Tâm lý học Phật giáo), Nhất
Hạnh, Lá Bối, TP. Hồ Chí Minh, 1996, tr.13.
(56)
Xem "Lý thuyết khoa giáo về con người qua tư tưởng Gandavyùaha
(Hoa Nghiêm), Thích Tâm Thiện, TP.Hồ Chí Minh, 1996.
(57)
Treatise in Thirty Verses on Mere-Conciousness; Swati Ganguly, Motilal
Banarsifdass Publishers, Private limited, Delhi, First Edition1992.
(58)
Xem "Vấn đề cơ bản của triết học Phật giáo", Thích Tâm
Thiện, BVHTW.GHPGVN, TP. Hồ Chí Minh, 1997.
(59)
Bách Pháp Minh Môn luận của Vasubandhu, bản dịch của Ngài
Huyền Trang.
(60)
Xem Vấn đề Cơ bản của Triết học Phật giáo Thích Tâm
Thiện, BVHTW.GHPGVN, TP. Hồ Chí Minh, 1997
(61)
"Einstein The Life and Time, Ronald W.Clark, Avon Books, World Publishing
Company, Newyork, 1993.
(62
The Buddhist Teaching of Totality - (The Philosophy of Hwa Yen Buddhism)
Garma C.C.Chang, The Pennsylvania State University, USA, 1989.
(63)
Hua Yen Buddhism, The Jewel Net of Indra, Francis H.Cook, Sri Satguru Publications,
New Delhi, 1994.
(64)
Xem The Oxford Companion to Philosophy, edited by Ted Honderich, Oxford
University Press Inc., Newyork 1995.
(65)
Trong Phật giáo thường đề cập đến các địa (bhumi) và
giới (dhatu) như : tam giới (ba cõi), bao gồm :
1-
Dục giới : cũng gọi là Ngũ thú tạp cư (trời, người, địa
ngục, ngạ quỉ và súc sanh) ; hay thế giới của sự ham muốn,
dục vọng - gọi là Karmadhatu (The realm of desire).
2-
Sắc giới : Có 4 cõi - sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, và
tứ thiền - gọi là Rupàdhatu (The realm of existence).
3-
Vô sắc giới : Có 4 cõi : Không vô biên xứ, thức vô biên
xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ - gọi
là Arùpadhatu (The realm of non-existence). Cộng các cõi của tam
giới lại gọi là Cửu hữu - 9 cảnh giới (worlds).
(66)
Xem The Oxford Companion to Philosophy, edited by Ted Honderich, Oxford
University Press Inc., Newyork, 1995, tr. 300-301.
(67)
"Small is Beautiful", E.F. Schumacher, Harper & Row USA, 1989, tr.
84.
(68)
Ibid, tr. 93.
(69)
Ten New Direction for The 1990's Megatrends 2.000, John Naisbitt &
Patricia Aburdene, William Morrow and Company, Inc., Newyork, 1990.
(70)
"Small is Beautiful"...., tr. 100.
(71)
"The Great Philosophers", Karl Jaspers, Harcourt, Brace & World, Newyork,
1962 (4 tập).
(72)
100 Great Thinkers, Dr J.E. Greene, Washington Square Press, Inc., Newyork,
1967, tr. XI.
(73)
Vấn đề này được trình bày cụ thể trong các luận thư
và kinh tạng Đại thừa. Xem kinh Niết Bàn, Trung Quán Luận
và Bát Nhã Tâm Kinh.
(74)
Xem "Vấn đề cơ bản của triết học Phật giáo", Thích Tâm
Thiện, BVHTƯ.GHPGVN, TP. Hồ Chí Minh, 1997.
(75)
Sư phạm lý thuyết, Trần Văn Quế, Trung tâm Học liệu, SàiGòn,
1963, tr. 104.
(76)
Ibid, tr. 104.
(77)
Ibid, tr. 105
(78)
1- Nguyên tắc đồng phát sinh : Là sự khích lệ tác động
- khơi dòng cho tâm thức chảy ra chứ không phải là nhồi
nhét, áp đặt như rót nước vào thùng.
2-
Nguyên tắc sư phạm cơ năng : Là sự xúc tiến, thúc đẩy
cái tiềm lực của tâm lý phát triển theo nhu cầu của cuộc
sống.
3-
Nguyên tắc ý thức xã hội : Là hệ quả của nguyên tắc
sư phạm cơ năng.
ThưMục
Sách Tham Khảo
* Tài
liệu Anh ngữ
1-
Treatise in Thirty Verses on Mere- Consciousness, tr. by Swati Ganguly,
Motilal Banarsidass Publishers, Private Limited, Delhi, 1992.
2-
The Human Body, by The Reader's Digest Association Limited, London and
Cape Town 1964
3-
Buddhist Logic, by F. Th. Stcherbatsky, Dover Publications, Inc. Newyork,
1962.
4-
Buddhist Thought in India, E. Conze, George Allen & Unwin Ltd, London,
1962.
5-
The Central Philosophy of Buddhism, T.R.V. Murti, George Allen and Unwin
Ltd, London 1960.
6-
Buddhism and its relation to religion and science, R.G de S. Wettimung,
M.D. Gunasena & Co., Ltd, Colombo, 1961.
7-
Contemporary Indian Philosophy, edited by Radhakrishnan and J.H. Muirhead,
George Allen and Unwin Ltd, Humanities Press Inc, Newyork, 1966.
8-
The Concept of Personality Revealed Through The Pancanikaya (Thesis of
Doctor of Philosophy) by Bhikshu Nguyen Hoi (Thích Chơn Thiện) Department
of Buddhist Studies, University of Delhi, Delhi, 1995.
9-
Sociology, by Leonard Broom and Philip Seiznick, Peterson and Company Evanston,
Illnois, USA. 1962.
10-
100 Great Thinkers, Dr. J.E.Greene Washington Square Press, Inc, Newyork,
1967.
11-
Process Metaphysic and Hua-yen Buddhism, Steve Odin, Sri Satguru Publications,
Delhi, 1995.
12-
The Jewel Net of Indra, Francis Hi Cook, Sri Satguru Publications, India,
1994.
13-
The Buddhist Teaching of Totality, Garma - C.C. Chang, The Pennsylvania
State, University Press, London, 1989.
14-
The Book of the Gradual Saying (Anguttara-Nikàya) Mrs. Rhys Davids, Pali
Test Society, London, 1960.
15-
The Literature of the Personalists of early Buddhism, Thich Thien Chau,
Vietnam Buddhist Research Institude, HCM.C, 1997.
16-
Indian Philosophy, Radhakrishnan, Unwin Brothers Ltd, London, 1962.
17-
The Perennial, Dictionary of World Religions, Keith Crim, General editor,
Harper & Row, San Francisco, 1989.
18.
Buddhist Dictionary (Manual of Buddhist Terms and Doctrines) Nyanatiloka,
Frewin & Co., Ltd, Colombo, Ceylon, 1972.
19-
The History of Buddhist Thought, E.J. Thomas, Routledge & Kegan Paul
Ltd, London, 1971.
20-
The Samyutta Nikàya, ed.M.L. Feer, Pali Test Society, London, reprinted
1969.
21-
The Majjhima Nikàya, ed.V. Trenekner & R. Chelmers, Pts, London, 1960.
22-
The Digha Nikàya, ed. T.W. Rhys Davids & J.E. Carpenter, Pts, London,
1960.
* Tài
liệu Việt ngữ
- Tài
liệu gốc :
1-
Duy thức tam thập tụng, Thích Thiện Hoa dịch (trong Duy thức
học), THPGTP Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, 1992.
2-
Nhiếp Luận, Trí Quang dịch, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP.
Hồ Chí Minh, 1995.
3-
Đại thừa khởi tín luận, Trí Quang dịch, NXB TP. Hồ Chí
Minh, TP. Hồ Chí Minh, 1994.
4-
Kinh Giải Thâm Mật, Trí Quang dịch, NXB TP. Hồ Chí Minh, TP.
Hồ Chí Minh, 1994.
5-
Thành Duy thức luận, Thích Thiện Siêu dịch, VNCPHVN, TP. Hồ
Chí Minh, 1996.
6-
Câu Xá luận, Thích Thiện Siêu dịch, VNCPHVN, TP. Hồ Chí Minh,
1995.
7-
Bách pháp minh môn luận, Thích Thiện Hoa dịch (trong duy thức
học), THPGTP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, 1992.
8-
Thắng pháp tập yếu luận (Abhidhammatthasangaha), Thích Minh Châu,
Viện Đại học Vạn Hạnh, Sàigòn, 1971.
9-
Đại trí độ luận, các bản dịch (không đầy đủ) của
Trí Hải, Diệu Không ... tài liệu ronéo.
* Tài
liệu thứ yếu
1-
Giảng luận Duy biểu học, Nhất Hạnh, Lá Bối, 1996.
2-
Nghiên cứu kinh Lăng Già, D.T. Suzuki, Thích Chơn Thiện và Trần
Tuấn Mẫn dịch, GHPGVN, Ban GDTN, TP. Hồ Chí Minh, 1992.
3-
Tâm lý học, Trần Bích Lan, Ngôn Ngữ XB, Sàigòn, 1969.
4-
Tâm lý học (Kinh doanh và Quản trị), GS. Nguyễn Văn Lê, NXB
Trẻ, 1994.
5-
Tâm lý học, Thái Trí Dũng & Trần Văn Thiện, Trường ĐH
Kinh tế, TP. Hồ Chí Minh, 1994.
6-
Sư phạm lý thuyết, Trần Văn Quế, Trung tâm Học liệu xb,
Sàigòn, 1968.
7-
Triết tâm lý đại cương, Đào Phú Thọ, Nguyễn Quang Tuyến,
Việt Anh, ĐàLạt.
8-
Từ điển triết học, Đại học và Trung học chuyên nghiệp
xb, Hà Nội, 1987.