Lời
Giới Thiệu
Lời
Dẫn
Tiểu
sử Ngài Phật-Âm (Buddhaghosa)
Tiểu
sử Ngài Nanamoli
Tổng
luận
Phần
Thứ Nhất: Giới
Chương
I: Giảng Nghĩa Về Giới
Chương
II: Hạnh Ðầu Ðà (Khổ Hạnh)
Phần
Thứ Hai: Ðịnh
Chương
III: Mô Tả Ðịnh - Nhận Một Ðề Mục Quán
Chương
IV: Ðịnh - Kasina Ðất
Chương
V: Ðịnh - Những Kasina Khác
Chương
VI: Ðịnh - Bất Tịnh Quán
Chương
VII: Ðịnh - Sáu Tùy Niệm
Chương
VIII: Ðịnh - Những Ðề Mục Quán Khác Bằng Tùy Niệm.
Chương
IX: Mô Tả Ðịnh - Các Phạm Trú
Chương
X: Ðịnh - Các Vô Sắc Xứ
Chương
XI: Mô Tả Ðịnh - Kết Luận
Chương
XII: Thắng Trí - Các Năng Lực Thần Thông
Chương
XIII: Thắng Trí - Kết Luận
Phần
Thứ Ba: Tuệ
Chương
XIV: Mô Tả Về Các Uẩn
Chương
XV: Mô Tả Về Xứ Và Giới
Chương
XVI: Mảnh Ðất Cho Tuệ Tăng Trưởng - Căn Ðế
Chương
XVII: Ðất cho Tuệ Sanh - Kết Luận
Chương
XVIII: Kiến Thanh Tịnh
Chương
XIX: Ðoạn Nghi Thanh Tịnh
Chương
XX: Ðạo Phi Ðạo Tri Kiến Thanh Tịnh
Chương
XXI: Ðạo Tri KiếnThanh Tịnh
Chương
XXII: Tri Kiến Thanh Tịnh
Chương
XXIII: Các Lợi Ích Trong Sự Tu Tuệ
Lời
Giới Thiệu
Bản Thanh Tịnh Ðạo được sư
cô Trí Hải dịch từ bản The Path of purification, bản dịch
Anh ngữ của Thượng toạ Nànamoli, nguyên bản Pàli
do
luận sư Buddhaghosa sáng tác vào thế kỷ thứ V Tây lịch.
Là bộ sách kết tập tinh hoa trí
tuệ từ kinh tạng Kikàya, Thanh tịnh đạo có thể xem
là bộ sách rất quý trong kho tàng văn học thế giới, không
thể thiếu trong nguồn tài liệu Phật học bằng tiếng Việt,
và là hành trang chủ yếu của những ai thực hành giải thoát
ở đời.
Dịch giả, sư cô Trí Hải, với
nhiều kinh nghiệm dịch thuật, với nhiều năm nghiên cứu
kinh tạng Nikàya, đã dịch Thanh Tịnh Ðạo rất cẩn
trọng và chân xác.
Chúng tôi tin tưởng bản dịch sẽ
tự giới thiệu với quý độc giả nhiều hơn những giá trị
chúng tôi đề cập.
Với tư cách của người chuyển
dịch kinh tạng Nikàya qua Việt ngữ, chúng tôi tán thán
công đức phiên dịch của sư cô Trí Hải, và trân trọng
giới thiệu bản dịch giá trị này.
Hoà thượng Thích
Minh Châu, 1991
-ooOoo-
Lời
Dẫn
Visuddhimagga (Thanh Tịnh đạo)
do Luận sư Buddhaghosa trước tác vào tiền bán thế kỷ
thứ V sau TL, là một bộ sách tóm tắt giáo lý nguyên thuỷ
thuộc Pàli tạng, theo một hệ thống đặc biệt dưới
những đề mục Bảy thanh tịnh và Ba vô lậu học. Ðây là
một chỉ nam rất tốt cho hành giả trong việc thanh lọc bản
thân. Sách được Đại đức Nanamoli (người Anh, tu ở
Tích Lan) dịch sang Anh ngữ vào năm 1956. Bản dịch này y cứ
bản Anh ngữ ấy.
Về các danh từ chuyên môn, phần
lớn y cứ các bản dịch của Hoà Thượng Thích Minh Châu trong
5 bộ Nikàya, và nhất là hai tập THẮNG PHÁP TẬP YẾU
(Abhidhammattha
Sangaha). Nếu không nhờ các công trình đã đi trước ấy,
dịch phẩm này cũng khó mà hoàn tất. Xin ghi lại đây niềm
tri ân.
Bản này khi in lại lần hai đã
được rút gọn và sửa sai nhiều, bỏ bớt những chỗ trùng
lặp lối hành văn xưa, và thỉnh thoảng dùng một vài danh
từ thời thượng cho đỡ khô khan, nhưng bảo đảm là không
đi quá xa với nguyên bản. Không tin, quý vị thử so với bản
Anh ngữ thì sẽ thấy.
Dịch giả kính
đề.
Thích Nữ Trí Hải
Sài gòn, 1991
Lời
Tri Ân
Kính lễ thâm ân chư Phật,
Bồ tát, Long thiên hộ pháp mật thuỳ gia hộ:
- Thâm ân sinh thành dưỡng dục
- Thâm ân chư vị tôn túc Tăng
Ni, các bậc Thầy và thiện tri thức Kim Cổ Âu Á
- Công ơn các anh, chị, quyến thuộc,
Phật tử trong và ngoài nước (đã giúp tài chánh)
- Công ơn các Phật tử đã trực
tiếp giúp đỡ kỹ thuật thực hiện dịch phẩm.
Xin hồi hướng công đức đến
pháp giới hữu tình.
Thích Nữ Trí Hải
-ooOoo-
TIỂU
SỬ NGÀI PHẬT ÂM (BUDDHAGHOSA)
Còn gọi là Phật Minh, Giác Âm,
Phật Ðà Cù Sa, Người ở Phật đà già da, nước Ma Kiệt
Ðà (Magadha), thuộc Trung Ấn Ðộ, vào thế kỷ thứ V. Sư
xuất thân trong gia đình Bà la môn, ban đầu học Phệ đà,
tinh thông Du già, Số luận v.v..., về sau, Sư quy y Phật giáo,
tinh thông các kinh điển. Vì mục đích hoằng truyền Phật
pháp, rống tiếng rống của sư tử mà Sư soạn các chú thích
bộ luận Phát trí (Nanodaya), luận Thù Thắng Nghĩa (Atthasàlini)
và Luận Pháp Tập.
Vào năm 432 Tây lịch kỷ nguyên,
Sư vượt biển sang Tích Lan, trú tại Ðại tự (Mahàvihàra),
theo Trưởng lão Tăng-già-ba-la (Sanghapàla Thera) nghiên cứu
thánh điển tàng trữ tại chùa ấy, rồi đem dịch sang tiếng
Pàli, và soạn Thanh Tịnh Ðạo luận (Visuddhimagga), Thiện Kiến
Luật chú tự (Samantapàsàdikà) chú giải luật tạng (Sách
nầy còn có tên là Thiện Kiến Luật Tì bà sa; Thiện Kiến
luận.) v.v.... Ðồng thời, Sư đem giáo nghia của Thượng Toạ
bộ ra soạn thuật thành một hệ thống hoàn chỉnh. Trong đó,
có thể nói Thanh Tịnh Ðạo luận là một tác phẩm toát yếu
toàn bộ Tam tạng kinh điển và Luận sớ. Về sau, Sư đem
4 bộ kinh Nikàya dịch sang tiếng Ba lợi (Pàli), và soạn chú
sớ tại chùa Kiền Ðà la (Granthakara parivena), xứ A nỗ lạp
đạt phổ lạp (Anuràdhapura). Giải thích Trường Bộ kinh thì
có Cát Tường Duyệt ý luận (Sumangalavilàsinì); giải thích
Trung Bộ kinh thì có Phá trừ nghi chướng luận (Papancasùdanì);
giải thích Tương Ưng Bộ kinh thì có Hiển Dương Tâm Nghĩa
Luận (Sàratthappakàsinì); giải thích Tăng Chi Bộ kinh thì có
Mãn túc hi cầu luận (Manorathapùraịì). Ðến khi ấy Tam Tạng
Ba Lợi mới cực kỳ hoàn bị.
Những chú thích của Sư, không chỉ
hạn cuộc chữ nào nghĩa nấy của bản văn, mà bao quát cả
các loại giải thích về lịch sử, địa lý, thiên văn, âm
nhạc, động vật, thực vật v.v..., đặc biệt, đối với
phong tục tập quán của Ấn độ cổ đại, Sư còn làm thêm
ký thuật liên quan đến những văn hiến trọng yếu dùng để
nghiên cứu về Ấn độ. Người Tích Lan ca ngợi học vấn
uyên bác của Sư và sùng kính Sư như là Bồ tát Di Lặc tái
thế. Lúc cuối đời, Sư trở về cố quốc an dưỡng tuổi
già. Nhưng trong lịch sử Phật giáo Miến Ðiện bảo Sư là
người Miến Ðiện, khoảng năm 400 từ nước Kim Ðịa (Kim
địa: ngày nay nằm về hạ lưu Miến Ðiện cho đến bán đảo
Mã Lai Á.) vào Tích Lan du học, rồi 3 năm sau, đem kinh điển
trở về phục hung Phật giáo Miến Ðiện. (Căn bản Phật
Ðiển nghiên cứu; The Life and Work of Buddhaghosa, PQÐTÐ,
tr 2643 a-c).
Thích Phước Sơn
TIỂU
SỬ NGÀI NANAMOLI THERA
(Na-na-ma-lợi Trưởng lão) (1905-1960)
Tôn giả Nanamoli sinh ngày 25-6-1905
tại Anh quốc, thế danh là Osbert Moore (Áo-tư-bá- đặc-ma-nhĩ).
Thiếu thời, Tôn giả tùng học và tốt nghiệp tại Ngưu Tân
Ái Tắc Ðặc Học Viện. Trong lúc thế chiến thứ 2 xảy ra,
Tôn giả phục vụ trong hàng ngũ lục quân Anh, và đóng quân
tại Ý Ðại Lợi. Do nhân duyên dun rủi, Tôn giả cùng người
bạn là Harold Musson (Cáp-la-đức Mặc-Tốn), đọc được một
cuốn sách viết về Phật giáo của người Ý là J. Evola (Nghệ-a-na);
vì thế, 2 người phát tâm quy hướng Phật giáo.
Sau khi đệ nhị thế chiến kết
thúc, Sư trở về nước, đến năm 1949 Sư cùng Mặc Tốn quyết
tâm sang Tích Lan nghiên cứu Phật học, và may mắn được
một Trưởng lão người Ðức là Nại-na-đề- lộ-biện hướng
dẫn gia nhập Tăng đoàn, dưới quyền điều khiển của Ðại
đức Ðại-na-nhã-biện-tì-trí-la-na-na. Sang năm sau (1950), hai
người thọ giới cụ túc với Ðại na nhã biện nên tôn vị
này làm thầy, và được pháp hiệu là Nànamoli.
Ðến năm 49 tuổi (1954), ngài Na-na-ma-lợi
chuyên tâm nghiên cứu ngôn ngữ Pàli, Tân cáp lợi và Miến
Ðiện. Không bao lâu sau đó, Sư rất tinh thông các ngôn ngữ
nầy, nhờ vậy có điều kiện nghiên cứu sâu về Phật pháp,
và trở thành một học giả uyên thâm. Từ đó, Sư cộng tác
với Hiệp hội Thánh điển Pàli (Pàli Text Society, PTS) để
phiên dịch các kinh luận Pàli sau đây sang Anh văn: 1. Thanh
Tịnh Ðạo Luận (Visuddhi-magga); 2. Vô Ngại Giải Ðạo (Patisambhidà-magga)
3. Chỉ Ðạo Luận (Nettipakarana); 4. Tạng Luận Thích (Petakopadesa).
Ngoài ra, Sư còn viết về Lịch sử đức Phật và dịch kinh
Trung bộ. Chừng ấy công trình phiên dịch cũng đủ chứng
minh trình độ Phật học uyên thâm của Sư.
Sư sống rất giản dị, tuân thủ
giới luật một cách tinh nghiêm (trong suốt 11 năm trường,
Sư chỉ mặc ròng y vàng, tượng trưng cho sự thanh khiết,
và cũng hiếm khi xỏ chân vào dép). Tính tình hòa nhã, trầm
lặng, ít nói, và mỗi lời nói của Sư đều là lời vàng
ngọc, đầy tính chất trí tuệ và truyền cảm. Sư xem việc
sinh tử nhẹ như lông hồng. Thế nên, trong lúc chiến tranh,
đã bao lần đối diện với cái chết, nhưng Sư đều thoát
khỏi.
Sư viên tịch năm 1960. Từ lúc xuất
gia cho đến lúc xả báo thân, ròng rã 11 năm trời, Sư cống
hiến trọn vẹn cho sự nghiệp phiên dịch kinh điển, và truyền
bá chánh pháp. Sư mất sớm, thật là một tổn thất lớn
đối với Phật giáo. (Tây Dương Phật giáo học giả truyện,
William Peiris soạn bằng Anh văn, Mai Nãi Văn dịch ra Hán văn,
xb. 1986, tr. 73)
Thích Phước Sơn
TỔNG
LUẬN
Bộ Thanh Tịnh Ðạo Luận (Visuddhi-magga)
gồm 3 quyển, do vị cao tăng Phật Âm (Buddhaghosa) người Ấn
Ðộ trước tác khoảng giữa thế kỷ thứ 5, và được đưa
vào Ðại tạng kinh thuộc Nam truyền, quyển 62-64. Ðây là
một bộ luận trọng yếu thuộc Nam phương Thượng Toạ bộ.
Gần đây, nó được ngài Thủy Dã Hoằng Nguyên người Nhật
bản dịch ra Nhật văn (1937- 1940), và ngài Diệp Quân (Liễu
Tham) dịch ra Hán văn và xuất bản năm 1987. Ðồng thời, Trưởng
lão Nànamoli cũng đã dịch ra Anh văn và xuất bản tại Colombo
Ceylon, năm 1956.
Trọn bộ luận gồm 23 chương, nhằm
giải thích giáo nghĩa của Thượng Toạ bộ phái, thứ tự
tổ chức và nội dung tương tự như Giải Thoát Ðạo luận
(Vimutti-magga, do ngài Upatissa soạn khoảng thế kỷ thứ III),
nhưng bên trong có xen những lời luận biện về kiến giải
của sách ấy. Bản luận trình bày theo thứ tự Giới, Ðịnh
và Tuệ. Chương 1 và 2 luận về Giới. Từ chương 3 đến
13 luận về Ðịnh, trình bày khúc chiết các phương pháp tu
tập một cách có hệ thống. Chương 14 đến 23 luận về Tuệ.
Trong đây, từ chương 14 đến 17 chủ yếu mô tả về 5 uẩn,
Tứ đế, Bát chánh đạo, và 12 nhân duyên. Ngoài ra, còn bàn
tổng quát về 3 tướng vô thường, khổ, và vô ngã. Các chương
còn lại luận về các tuệ quán thanh tịnh một cách rất
tinh mật. Trước và sau sách, có bài tự thuật về nhân duyên
tạo luận và dùng 3 vô lậu học Giới Ðịnh Tuệ như con
đường đạt đến Niết bàn làm lời kết luận.
Quyển sách này là một luận thư
có quyền uy tối cao đối với phật giáo Nam truyền. Nội
dung của nó ví như một bộ bách khoa toàn thư, có thể so
sánh ngang với bộ Ðại Tỳ Bà Sa Luận của Thượng Toạ
Hữu bộ. Nhà Phật học Ái Ðức Hoa nhận xét: "Thanh Tịnh
Ðạo Luận là một tác phẩm kinh điển vĩ đại nhất về
phương diện tâm linh của nhân loại. Tính chất trọng yếu
của nó có thể xem như một mô hình văn học tiêu biểu để
cho các nhà học giả quốc tế dùng làm cơ sở."
Tóm lại, bộ luận này dùng ba vô
lậu học Giới-Định-Tuệ làm nhân tố để tu tập quán chiếu
về tính chất vô thuờng, khổ, vô ngã của vạn pháp, hầu
đạt đến kiến thanh tịnh và tâm thanh tịnh, tức Niết bàn
tịch diệt.
Thích Phước Sơn
(Trích "Thanh Tịnh Đạo Luận
Toản Yếu", Sài gòn 1996)
BẢNG
TRA CHỮ TẮT (LIST OF ABBREVIATIONS USED)
A. : Anguttara Nikàya
AA. : Anguttara Nikàya Atthakathà
(Commentary) = Manorathapùranì
Cp. : Cariyàpitaka
Dh. : Dhammapada
DhA. : Dhammapada Atthakathà (Commentary)
Dhs. : Dhammasanganì
DhsA. : Dhammsanganì Atthakathà (Commentary)
= Atthasàlinì
DhsAA. : Dhammasanganì Tìkà (Sub-commentary)
= Mùla Tìkà (pt. I)
Dhk. : Dhàtukathà
D. : Dìgha Nikàya
DA. : Dìgha Nikàya Atthakathà (Commentary)
= Sumangalavilàsinì
It. : Itivuttaka
Jà. : Jàtaka (Fausboll's ed.)
Kv. : Kathàvatthu
Mv. : Mahàvamsa
M. : Majjhima Nikàya
MA. : Majjhima Nikàya Atthakathà
(Commentary) = Papancasùdanì
Miln. : Milinda-panhà
Netti. : Netti-pakarana
Nd1. : Mahà Niddesa
Nd2. : Cùla Niddesa (Siamese ed.)
Ps. : Patisambhidàmagga
PsA. : Patisambhidàmagga Atthakathà
(Commentary) = Saddhammappakàsinì (Sinhalese Hewavitarne ed.)
Ptn1. : Patthàna, Tika Patthàna
Ptn2. : Patthàna, Duka Patthàna (Siamese
and Burmese eds.)
Pm. : Visuddhimagga Atthakathà (Commentary)
= Mahà Tìkà (Vis. Chs. I to XVII Sinhalese Vidyodaya ed.; Chs. XVIII
to XXIII Burmese ed.)
Pe. : Petakopadesa
Pv. : Petavatthu
S. : Samyutta Nikàya
SA. : Samyutta Nikàya Atthakathà
(Commentary) = Sàratthappakàsinì
Sn. : Sutta-nipàta
SnA. : Sutta-nipàta Atthakathà (Commentary)
= Paramatthajotikà
Thag. : Thera-gàthà
Ud. : Udàna
Vbh. : Vibhanga
VbhA. : Vibhanga Atthakathà (Commetary)
= Sammohavinodanì
VbhAA. : Vibhanga Tìkà (Sub-commentary)
= Mùla-Tikà (pt. 2)
Vv. : Vimàna-vatthu
Vin. i. : Vinaya Pitaka (3) - Mahàvagga
Vin. ii. : Vinaya Pitaka (4) - Cùlavagga
Vin. iii. : Vinaya Pitaka (1) - Suttavibhanga
1
Vin. iv. : Vinaya Pitaka (2) - Suttavibhanga
2
Vin. v. : Vinaya Pitaka (5) - Parivàra
Vis. : Visuddhimagga (P.T.S. ed. and
Harvard Oriental Series ed.)

Chân thành cám ơn Cư Sĩ Bình
Anson (Australia)
đã gửi tặng Thư Viện Hoa Sen
phiên bản điện tử