Sau
khi tìm hiểu khái lược về tôn giáo của đạo Phật,bây
giờ chúng ta đi vào một lĩnh vực vô cùng quan trọng, đó
là đời sống và kinh nghiệm tôn giáo của đạo Phật. Trước
khi bàn về vấn đề này, cần lưu ý rằng có hai khía cạnh
luôn luôn đi đôi với nhau trong mọi thể cách vận hành của
đời sống cũng như của kinh nghiệm mà con người không thể
bước ra ,cho dù là người có tôn giáo hay là không tôn giáo
; đấy là dòng vận hành của tâm thức tùy thuộc vào hoặc
là tính đặc thù của nhân tính ( personality), hoặc là cơ
sở của ý thức hướng đến sự toàn thiện . Ở đây, tính
chất đặc thù của nhân tính được xem như là cái trục
nhân tính mà qua đó đời sống tình cảm của con người trổi
dậy trong cái cơ cấu tương quan thường nghiệm,như sự hiểu
biết, tình thương yêu, lòng kính trọng, sự tôn thờ vv...
Trái lại,cơ sở của ý thức hướng đến sự tòan thiện
(giác ngộ) luôn có khuynh hướng đi ngược lại ngay từ niệm
khởi đầu tiên khi mà một người đàn ông hay một người
đàn bà thực thụ đắm mình vào dòng sông thể nghiệm của
đời sống tôn giáo ,một đời sống không còn vận hành lê
thê trong tương quan logic ,mà Ðức Phật gọi nó là trật tự
của vòng nhân quả, luân hồi. Ðấy là lý do tại sao phải
phân định rõ hai thể cách của đời sống và kinh nghiệm
tôn giáo .
Ðời
Sống Luân Lý Tự Nhiên
Như
tôi đã nói ở phần tâm lý xã hội học -tôn giáo, sẽ rất
sai lầm nếu chúng ta đẫy tôn giáo ra khỏi đời sống tri
thức luân lý của con người hoặc ngược lại.Vì lẽ, nhân
tính vốn được xem như là một cái trục của sự sống mang
tính cách bẩm sinh.Và từ cái trục nhân tính này, nó vẽ
nên mọi giá trị cho lòng thương yêu, niềm tin, sự kính trọng,sự
tôn thờ,lòng vị tha vv... và điểm nối kết tất cả giá
trị đó chính là cái tình cảm chân thành, chất phát của
con người ngay từ lúc cất tiếng khóc chào đời. Ðấy quả
thực không gì khác hơn là một phần thưởng quí giá độc
nhất vô nhị dành để tặng cho con người. Do đó, nếu tôn
giáo được xem là nơi lưu trữ và tôn vinh các đặc trưng
của nhân tính- cái vốn làm nên trật tự của một nền luân
lý tự nhiên- thì tôn giáo và đời sống luân lý tự nhiên
của con người là một tổng thể bất khả phân ly. Ở đây,
hoàn toàn không có cái phẩm chất đơn độc ( Single quality
) trong mọi giá trị hiện hữu của đời sống con người,
mà chỉ có những nhóm phẩm chất ( group of qualities ) .Tỉ
dụ như không thể có bất kỳ một tình thương yêu độc
lập nào có thể tách rời khỏi sự kính trọng và lòng vị
tha. Giá trị của tình thương yêu thực thụ cũng chính là
giá trị của sự kính trọng và lòng vị tha; hay nói khác
hơn, tình yêu chỉ xuất hiện trong tương quan của các gía
trị tình cảm như lòng vị tha, sự kính trọng , sự độ
lượng, sự nhân từ ,sự hiểu biết vv...Ðiều này được
Ðức Phật gọi là đạo lý Duyên Khởi.
Trên
cơ sở này, đời sống tôn giáo được tập trung vào niềm
tin về một trật tự luân lý thiện ác- nhân quả, cũng như
sự phúc đáp tốt đẹp cho mọi thiện hạnh mà con người
là kẻ duy nhất gieo và gặt mọi hậu quả; và sự hiện hữu
Thánh linh nào đó xuất hiện ở đây chỉ được xem như là
những chứng lý-hình thức cần có cho sự phán quyết nội
tại mà thôi. Và như thế, không có gì là mâu thuẫn nếu
cần phải tôn vinh một hiện hữu Thánh linh hay qui ngưỡng
về một hiện hữu Thánh linh ,lấy đó làm tâm cho mọi sự
phân bày, cho dù đó là tự nhiên hay siêu nhiên. Từ đó,đời
sống tôn giáo ,một mặt nào đó gắn liền với các hình
thức lễ nghi ( cần được lâp đi lập lại nhiều lần) như
là sự nhắc nhở trong mỗi niệm của con người hướng đến
các tư duy, ứng xử, hành vi ...mang giá trị tốt đẹp và
lánh xa các việc xấu ác.
Tuy
nhiên, những điều được nói trên đây chỉ là một đời
sống tôn giáo được xây dựng trên căn bản của trục nhân
tính mà thôi. Ðấy không phải là cốt tủy trong đời sống
tôn giáo của Ðạo Phật.
Ðời
Sống Ý Chí Hướng Thiện
Chúng
ta biết rằng, cái nguyên động lực thúc đẫy con người
tìm kiếm một đời sống tôn giáo thực thụ thì không gì
khác hơn là mối quan tâm về đời sống cá thể trong cái
số phận hạn cuộc của một đời người. Ðây là mấu chốt
trong sự ra đời của các tôn giáo nói chung ,cũng như là sự
tồn tại hiện hành của tôn giáo. Như thế, một cách ngắn
gọn có thể nói, tôn giáo là một chương tưởng niệm ( Monumental
chapter )-theo cách nói của W.James - về lịch sử qui kỷ của
nhân loại ( Human egotism ). Tư tưởng tôn giáo là tư tưởng
của con người, của nhân tính. Vì lẽ, Phật hay Chúa hay vân
vân...đều xuất hiện từ tiếng gọi nội tại của con người,
con người của Phật, con người của Chúa...Và rằng, những
người được xem là đã đạt đến một sự kiến chiếu
như thật đều không ngớt nói rằng họ gặp Phật hay Phật
gặp họ ngay trong cái bản thể tự nội của chính họ chứ
không phải là ở một nơi nào xa khác.
Từ
đó cho thấy rằng, tôn giáo ra đời từ một ý chí hướng
thượng cá nhân, và ngược lại ,con đường dẫn của tôn
giáo đối với các cá nhân là hoàn thiện trách nhiệm và
đời sống của chính nó . Như thế, đời sống hướng thượng
trong tôn giáo của đạo Phật trước hết được đặt ra
là lý tưởng hòan thiện cá nhân mà Ðức Phật trình bày
qua học thuyết Nghiệp ( Karma) , một học thuyết xây dựng
trên cơ sở của trách nhiệm cá thể, nhằm giúp con người
ý thức rõ về khả năng tự độ, hay nói khác hơn là khả
năng thành Phật. Thông qua học thuyết này, mỗi người tự
mình nỗ lực vượt qua mọi cảm nhiễm xấu ác, vượt qua
con người tham dục , vượt qua mọi cơ đồ của cái trần
tục trong thế giới tương quan và giơí hạn để đạt đến
một sự tòan tri ( giác ngộ) bằng con đường thể nghiệm
chân lý . Trong suốt một tiến trình, từ bước đầu tuân
thủ các trật tự luân lý cho đến sự vượt qua mọi trật
tự trong tương quan của logic suy lý, cái tâm của chúng ta
được xem như là điểm trung tâm của mọi sự vận hành.
Và dòng ý thức của cái tâm đó luôn luôn xoay ngược chiều
với đời sống luân lý tự nhiên. Một đằng thì nỗ lực
tìm kiếm những phúc đáp tốt lành từ các việc thiện ,điều
này được xem như là nguyên nhân thúc đẫy con người làm
các viêc lành và chấp hành mọi qui ước của luân lý đạo
đức; trong khi một đằng khác thì nỗ lực vượt qua mọi
tương quan trong thế giới thiện -ác ,chấm dứt vòng luân
hồi tái sinh mà Phật giáo goi là giải thoát sinh tử.
Do
đó, đối với Phật giáo, cái cốt lõi của đời sống tôn
giáo chính là sự vượt qua mọi đối đãi của thế gian (
như thiện ác, tốt xấu, có không, sinh tử...) để làm cho
tâm trở nên thanh tịnh ( tự tịnh kỳ ý ) nhưng vẫn không
từ bỏ các thiện hạnh dù là nhỏ nhoi trong cuộc sống đời
thường, mà ở đây có thể dùng khái niệm Viễn Ly
để nói lên ý nghĩa của đời sống này.
Kinh
Nghiệm Tôn Giáo
Trước
khi bàn đến kinh nghiệm trong tôn giáo,chúng ta có vài ghi nhận
về vấn đề nhận thức . Ðây là một trong những vấn đề
phức tạp thuộc ngành tâm lý học , mà ở đây là tâm lý
học Phật giáo.
Thông
thường chúng ta biết rằng, để có một nhận thức bao giờ
cũng đòi hỏi có một chủ thể nhận thức và đối tượng
được nhận thức xuất hiện trong tương quan. Nếu thiếu
một trong hai thì sự nhận thức không thể hình thành. Và
chính sự nối kết của những mẫu nhận thức nhỏ nhoi này
mà chúng ta có một chuỗi dài của kinh nghiệm.Ðiều này được
gọi là tri thức thường nghiệm , nó góp phần soi sáng trong
mọi quan hệ của tư duy và thế giới thực tại - đối tượng
của tư duy. Tuy nhiên ,sẽ rất sai lầm khi dùng những mẫu
tri thức như thế làm cơ sở cho kinh nghiệm của đời sống
tôn giáo.
Vì
lẽ, tri thức của chúng ta về một sự vật thì không phải
là sự vật chính nó mà chỉ là ảnh tượng về sự vật
đó mà thôi. Tất nhiên ,trong tiến trình của biện chứng,con
người thường nỗ lực gán ép một căn tính nào đó lên
mỗi đối tượng hiện hành của nhận thức theo cái khuôn
mẫu tri thức của con người, như -như thế này thì gọi là
cái nhà, như thế kia thì gọi là chiếc xe... Và từ trong thâm
tâm, người ta muốn đồng nhất hóa sự vật được nhận
thức theo cái nhìn của chủ thể nhận thức. Từ đó mà mọi
khái niệm phân biệt trỗi dậy và làm cho cái một (đối
tượng) trở thành đa thù ( biểu hiện) . Tỉ dụ như những
chàng mù sờ voi, do không có khả năng lĩnh hội tòan diện
về con voi nên khi tiếp xúc với nó, người sờ đụng cái
tai voi thì cho rằng con voi giống cái quạt, người sờ đụng
cái chân thì cho rằng con voi giống cái trụ, người sờ đụng
cái bụng thì cho rằng con voi giống cái trống....... Cứ như
thế mà con voi được xuất hiện khác nhau trong tâm thức của
những chàng mù. Ðấy là những giới hạn của tri thức con
người trước thế giới thực tại. Học thuyết của Lotze
bảo rằng : " Thông qua cái khuôn mẫu tri thức của chúng ta
áp đặt lên sự vật ( for itself ) mà có thể lĩnh hội được
sự vật như là chính nó ( in itself ) đây là ý nghĩa duy nhất
của nhận thức ".
Một
điều khác nữa là tri thức của chúng ta thường không trung
thực, nó bị chi phối bởi nhiều yếu tố chủ quan như vui,
buồn ,thương ,ghét...Do đó ,tùy theo trạng thái của sự tiếp
xúc trong giao diện giữa chủ thể nhận thức và đối tượng
được nhận thức mà đối tượng được đánh giá khác nhau.
Như trước mắt chúng ta chỉ có một bông hoa, nhưng với người
này nó là đẹp, với người kia nó là xấu...Có bao nhiêu
người thì có bấy nhiêu nhận thức khác nhau.
Bên
cạnh đó, có một yếu tố quan trọng mà không thể không
nói đến đó là con đường dẫn đến sự tiếp xúc hay lĩnh
hội cái kỳ bí nhiệm mầu ,tự nhiên hay siêu nhiên, chung
quanh chúng ta; con đường thể nghiệm tâm linh trong tôn giáo
; và con đường vượt qua mọi khát vọng ,nhu cầu của cá
nhân, như ăn uống, dục tính chẳng hạn...Trên mặt phân tích
thì nói như thế, nhưng thật ra cái cốt tủy để đạt đến
một sự thể nghiệm tôn giáo chính là sự vượt qua mọi
đam mê , dục vọng và cuồng si của tự thân mà tri thức
của chúng ta luôn luôn là nguyên nhân của mọi cuộc "nội
chiến".Bởi lẽ, dầu biết rằng muốn đạt đến một đời
sống thánh thiện, con người cần phải giữ dìn mọi phẩm
chất của đức hạnh, nhưng từ trong chiều sâu của tâm thức,
cái mà gọi là bản năng dục vọng luôn thiêu đốt và thúc
giục con người đi tìm kiếm một sự thỏa mãn, dầu trong
tư duy hay hành động.Ở lĩnh vực này, sự nỗ lực và nhiệt
thành của ý chí đóng vai trò trung tâm.
Từ
một vài trưng dẫn trên, có thể kết luận rằng, khả năng
của nhận thức dù thế nào đi nữa vẫn không thể làm nhân
cho những kinh nghiệm tôn giáo mà trái lại , nó đòi hỏi
những yếu tố thể nghiệm, niềm tin và trực giác. Ðiều
này giống như sự tri thức về nước và người uống nước
thì hoàn toàn khác nhau.
Cái
Cái Huyễn Ảo
Một
yếu tố quan trọng trong việc xây dựng đời sống tôn giáo
tiến bộ cũng như để củng cố niềm tin, trau dồi đức
hạnh...đó là kinh nghiệm về cái huyễn ảo. Chính từ kinh
nghiệm này mà con người bắt đầu nhận thức sâu sắc về
sự thật của cuộc đời.
Trong
viễn kiến của tự nhiên, con người thường thấy rằng sự
hiện hữu của ta cũng như thế giới chung quanh ta là những
cái gì đó như thực ,như bền vững, như vĩnh hằng... và
xu hướng sở hữu hóa căn tính của sự vật sai biệt đa
thù chung quanh ta là tính chất thông thường của tư duy , của
nhận thức, của cảm tính. Ðiều đó là một chướng ngại
lớn nhất của con người khi bước vào thực hành đời sống
tôn giáo. Vì lẽ, mục tiêu lý tưởng của tôn giáo mà chúng
ta đang bàn đến là sự thể nghiệm chân lý, vượt lên trên
mọi giới hạn của đời sống trần tục này, đi từ cái
hữu biên đến vô biên, từ cái sai biệt đa thù đến cái
đồng nhất thể trong tương quan thống thiết giữa con người
và vũ trụ bao la. Và như thế, khi còn bị buộc chặt hay bám
víu vào thế giới phân biệt của tri thức luận lý thì sẽ
không bao giờ thể nhập vào cái siêu luận lý- thực tại.
Ðây là lý do tại sao Ðức Phật trình bày học thuyết về
Ba dấu ấn ( Khổ, vô thường ,vô ngã ) như là tính cách pháp
định ,bất biến của thế giới tương quan duyên khởi này.
Ở
đây, cái huyễn ảo chính là cái đa tính của đối tượng
, cái được sinh khởi từ trong tương quan giữa chủ thể
nhận thức và đối tượng được nhận thức, như tri thức
về cái bàn , cái ghế, cái nhà, xe cộ, tài sản vv ... trong
khái niệm huyễn ảo, nó bao gồm các đặc tính như tên gọi
( danh) ,hình thể ( tướng) ; trong hình thể bao gồm hai yếu
tố biểu hiện ( sắc) và không biểu hiện ( vô biểu sắc
) ; trong cái không biểu hiện bao gồm cả các dạng năng lượng,
trong năng lượng bao gồm hai tính chất vật lý và tâm lý.
Ðấy chính là cái tổng thể của một sự hữu. Và, khi cái
tổng thể này được phân tích cặn kẻ đến độ không còn
phân tích được nữa thì cái huyễn ảo bắt đầu xuất hiện
ra trước mắt chúng ta. Sự kiện này có thể thảo luận cụ
thể hơn như sau.
Như
tôi đã trình bày,tri thức của chúng ta về một sự thể
nào đó thì không phải là sự thể chính nó. Cái mà chúng
ta biết được về thế giới thực tại chung quanh ta đó chỉ
là những phóng ảnh từ tâm thức ,hay nói khác hơn chỉ là
thế giới biểu tượng của thực tại, chứ không phải là
thực tại bản nguyên. Và nên nhớ rằng , cho đến cái khả
tính tối thượng của nhận thức vẫn không thể lĩnh hội
được thực tại . Vì lẽ, tính chất của nhận thức là
phân biệt thế giới thực tại qua khái niệm;mà giữa khái
niệm và thực tại thì hòan toàn khác nhau. Do đó, bất luận
một sự thể naò, hễ còn được xây dựng trên khái niệm
thì đều là huyễn ảo- nghĩa là chúng luôn luôn vô thường
.
Trái
lại,tâm thức chúng ta ngay từ trong mỗi niệm mọi ảnh tượng
đến rồi đi, sinh rồi diệt, trông có vẽ như nửa mộng
,nửa thực; nhưng mọi diễn biến của nó ,dù đến hay là
đi, vẫn để lại dấu tích trong tàng thức (alaya),và một
ngày nào đó ,cái dấu tích cổ xưa ấy sẽ xuất hiện trở
lại cùng với tập quán của tư duy. Ðấy là một loại ký
ức -như một cuốn nhật ký-mà lúc nào và ở đâu con người
cũng mang theo. Ðiều này được Ðức Phật gọi là chủng
tử ( các hạt giống) của nghiệp thức, Và trong các hạt
giống đó bao gồmba loại : hạt giống sẳn có, hạt giống
mới gieo vào và hạt giống hiện hành.
Từ
một vài trưng dẫn trên ,cho thấy rằng trong đời sống kinh
nghiệm tôn giáo có một sự đảo lộn các giá trị của tự
nhiên, và bản thân của giá trị đó được xem như là tương
đương với giá trị đánh đổi trong các lý thuyết của nền
kinh tế học hiện đại. Nó xuất hiện như một thứ nghịch
lý hiển nhiên. Tất nhiên ,ở đây hoàn toàn không hề có
bất kỳ một sự thương lượng nào cả; có nghĩa là, đối
diện trước đời sống của kinh nghiệm tôn giáo, hoặc là
con người nỗ lực vượt qua mọi chướng ngại của cái huyễn
ảo, hoặc là mãi mãi đắm chìm trong trong hải hồ tục lụy
bởi sự bám chặt vào cái huyễn ảo mà thôi.
Nói
tóm lại, con đường dẫn đến kinh nghiệm tôn giáo có một
giá trị đặc biệt trong đời sống đạo đức của con người
và xã hội. Vì lẽ, một tôn giáo nếu không có những kinh
nghiệm nội chứng thì xem như đó là một tôn giáo hình thức,
chẳng đưa con người đi đến đâu.Ðiều quan trọng hơn hết
ở đây làchính kinh nghiệm tôn giáo thực thụ sẽ tạo nên
một nền tảng bền vững nhất làm cơ sở cho các gía trị
nhân bản của tình yêu, tình người, và cao xa hơn là niềm
hạnh phúc vĩnh hằng.
