Từ
Suy Niệm Về Bức Thông Ðiệp Của Thời Ðại Mới...
Tôi
xin vào đề từ câu kinh :" Hãy trở về nương tựa mình và
nương tựa pháp; ngươi là hải đảo, là nơi nương tựa của
chính ngươi !" để làm tiền đề cho thảo luận này.
Chúng
ta biết rằng,trong một bối cảnh lịch sử, khi mà phần lớn
các tôn giaó đều chủ trương con ngươì và mọi hiện hữu
trên thế gian này hoặc là tạo vật của Thượng Ðế ,cuả
Ðấng toàn năng vô hạn , của một Bản Thể Ðại ngã...,
hoặc là phải chịu sự chi phối của một thế lực siêu
nhiên vô hình nào đó , thì Phật giáo ngược lại, chủ trương
con người là chủ nhân của tất cả. Mỗi con người là một
thế giới, một vũ trụ , một hành tinh của các phạm trù
đối lập : khổ đau và hạnh phúc, thiện và bất thiện...;
và quan trọng hơn hết, mỗi người là hải đảo của chính
mình, là nơi nương tựa của chính mình.Lời tuyên bố của
bức thông điệp ấy qủa thật là phi thường. Vì đối diện
trước nó, con người chỉ có thể hoặc là sống buông trôi
theo dòng sinh tử bất tận ,sống như kiểu : " Phận bèo đâu
quản nước xa, lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh " (
Nguyễn Du ) ; hoặc là - chủ động tái thiết cuộc đời dâu
bể này thành một hành tinh cuả hạnh phúc thực thụ- Niết
bàn trần thế hay "Tịnh độ nhân gian ".
Thế
nhưng trước hết, theo quan niệm thông thường , chúng ta biết
rằng , đặc tính của con người là bất toàn. Do bất toàn
mà con người luôn hướng về một Ðấng toàn thiện ,hòng
mong được cứu rỗi, được độ trì chở che . Và lúc bấy
giờ ,với một tâm thức như thế ,hẵn nhiên, chỉ có kẻ
trên cao mới có thể cứu người dưới thấp. Cũng như một
người , khi đứng dưới đất thì không thể tự mình nắm
tóc mình và nhấc mình lên khỏi mặt đất , nếu muốn được
như thế, phải có một người khác ở trên cao làm nhiệm
vụ cứu độ...Phải chăng xuất phát từ ý niệm đó mà con
người luôn luôn đi tìm kiếm một đối tượng siêu nhân
? Và cũng từ đó, thay vì từ cứu độ theo trực nghĩa, được
hiểu như là sự giúp đỡ lại biến thành học thuyết cứu
độ ,như cứu độ cho những linh hồn ( Soul's salvation ) và
cưu mang trong nó một thế giới của huyền học thần bí ?
Từ đó, khi con người càng trầm kha trong dục vọng khổ đau
thì tâm thức của họ càng bị cuốn hút vào thế giới của
các thế lực vô hình, ở đó khát vọng được cưú độ
xuất hiện như là một trú xứ bình yên duy nhất mà con người
khả dĩ nương tựa. Bởi lẽ, như đã nói, đặc tính của
con người là tội lỗi và khổ đau; mà tội lỗi và khổ
đau, bản chất của nó không gì khác hơn là sự bất lực,
sự không vượt qua nỗi con người của chính mình- con người
của khát vọng. Do đó, càng khát vọng thì càng khổ đau.
Tất nhiên, khát vọng được đề cập ở đây là khát vọng
được phát sinh từ tự ngã- cái tôi,cái của tôi, cái tự
ngã của tôi. Và, phần lớn nhân loại đều / hoặc ra đi,
hoặc trở về với cái tự ngã đó. Ðây là lý do tại sao
Ðức Phật kêu gọi sinh linh của Ngài " hãy trở về nương
tựa mình và nương tựa pháp".
Hẵn
bạn đọc cũng hiểu rõ khái niệm trở về - tiếng gọi đầu
tiên trong bức thông điệp của thời đại mới . Ðó là sự
quay đầu trở lại , trước hết là với con người của chính
mình và tâm thức của chính mình ; và sau đó là trở lại
với con đường Chánh pháp ( nương tựa pháp ).
Ở
đây, con người xuất hiện như một thế giới phổ quát với
đầy đủ các hiện tượng sai biệt đa thù ,các đức lý
thiện ác phân minh,và cho đến cả những phẩm tính siêu việt
( như những con người đã chứng ngộ ). Và Pháp xuất hiện
như những chân lý , vừa mang tính hiện thực khách quan - chân
lý công ước , lâm thời; lại vừa mang tính tuyệt đối-
chân lý bất khả thuyết.
Từ
đây chúng ta thấy rõ rằng ,Ðạo theo Phật giáo là con đường
qui ngưỡng về một nếp sống mà ở đó vai trò của Thượng
Ðế không có mặt. Mọi trách nhiệm về khổ đau và hạnh
phúc của đời người đều do con người phán quyết ; và
đều đáng chú ý nhất ở đây là định luật nhân qủa,
một định luật mà đối với con người thì qủa thực là
vô cùng khắc khe.Nhân quả ở đây chính là định mệnh hiện
tiền của mỗi con người. Vì đó là nơi tích tụ của tất
cả thiện nghiệp cũng như ác nghiệp của con người chính
nó từ vô lượng kiếp qúa khứ.Và tương lai của định mệnh
đó như thế nào cũng tuỳ thuộc vào sự tạo tác của chính
con người - định mệnh hiện tiền này. Như thế, sự trở
về ở đây ,trước hết là trở về với mọi trách nhiệm
luân lý đạo đức, moị trách nhiệm trong cuộc sống tư duy
và hành động , trong thể cách ứng xử giữa tự thân và
tha nhân, giữa cá nhân và xã hội của mỗi con người. Thế
giới này là bao la, đời sống tâm thức này là vô tận, do
đó, sẽ không có bất kỳ một động lực tự nhiên hay siêu
nhiên nào có thể ngự trị trong dòng sinh tử luân lưu, ngoài
trừ định luật nhân qủa. Nhân qủa như một thứ trái khoán,
mà một ngày nào đó nó phải được trả về cho trái chủ.
Trên
một bình diện cao hơn, Ðức Phật dạy tất cả chúng sinh
đều có khả năng thành Phật. Nghĩa là cái hạt giống giác
ngộ hay cái năng lực giác ngộ là năng lực tiềm ẩn , vốn
có trong tâm thức của mọi chúng sinh. Do đó, trở về nương
tựa mình chính là trở về với khả năng giác ngộ mà bao
lâu con người đã lãng quên. Trên con đường tìm kiếm hạnh
phúc và chân lý, con người luôn luôn đóng vai trò trung tâm.Nghĩa
là, khổ đau hay hạnh phúc là tùy thuộc ở cái nhìn của
mỗi con người khác nhau. Nhưng quan trọng hơn hết , cội nguồn
của hạnh phúc phải được khai phóng từ nguồn lực ca ùthể,tức
là từ trong chiều sâu tâm thức của mỗi người, đó là
một bản thể tâm thức bình yên nội tại,nó vận hành như
một nguồn sinh lực uyên nguyên,như thác đổ, như suối nguồn,như
đại dương mênh mông bao la không giới tuyến.Và cội nguồn
hạnh phúc đó , người ta không thể cho nhau,và không thể
vay mượn của nhau.Ở đây cần ghi nhận rằng,dù là hiện
thực hay tiềm năng,thì cội nguồn hạnh phúc vẫn là yếu
tố thường trực vốn có trong mỗi con người.Thực tế cho
thấy rằng, đời sống của con người do không làm chủ được
dòng vận hành của tâm thức , thân thể, môi trường vv...
nên thường xuyên đối diện với hai ảnh tượng bất an đó
là hy vọng và sợ hãi.Cho đến khi nào con người còn tìm
kiếm hay nương tựa vào một nơi trú ẩn nào khác ngoài con
người của chính mình thì khi đó đối tượng của sự bất
an vẫn luôn luôn hiện hữu trong dòng sông tâm thức. Càng
không làm chủ thì càng bị dao động.Càng bị dao động thì
càng thao thức trong / hoặc hy vọng hoặc sợ hãi.
Cuối
cùng nhưng không kém phần quan trọng đó là yếu tố chánh
pháp. Vì như đã đề cập,mặc dầu con người cũng như tất
cả chúng sinh đều có khả năng thức tỉnh- giác ngộ.Song,
do tính chất lầm lỗi( vô minh ) và bất toàn nên cần phải
được soi sáng bởi chánh pháp trong mọi thế cách của tư
duy và hành động. Bấy giờ, Pháp đóng vai trò là con đường
dẫn vào Ðạo.Và Pháp ở đây được cụ thể hóa như là
cuộc sống giới định tuệ ...hay nói khác hơn là chân lý
như thật( Dharma ) đối với con người , một thứ chân lý
mà con người dù muốn hay không nó vẫn là như thế. Ðó chính
là dòng nhân qủa hai chiều cuả thế gian( con người còn vô
minh ) và bậc xuất thế ( con người giác ngộ ) như được
cụ thể hoá trong pháp thoại về Bốn Chân lý.
Nói
tóm lại, trên căn bản của đời sống, con người cần phải
làm chủ được hay ít ra là điều hành được cuộc sống
tâm lý và vật lý của chính mình.Và xa hơn , trên con đường
đi đến giác ngộ, mỗi người phải tự thắp đuốc lên
mà đi , như lời Ðức Phật dạy :"Ngươi phải làm công việc
của ngươi,vì Như Lai chỉ chỉ dạy con đường ".(Dhp.XX ).Hoặc
là :" Ngươi là nơi nương tựa của chính ngươi, không ai khác
có thể là nơi nương tựa ".(Dhp.XII. 4) Ðây chính là bức
thông điệp của thời đại mới, một bức thông điệp không
tiền khoáng hậu trong lịch sử tôn giáo và triết học Ðông
phương mà cách đây trên 26 thế kỷ ,Ðức Phật đã truyền
trao cho loài người.
...Ðến
Ðời Sống Thể Nghiệm Tôn Giáo Trong Kinh Lăng Già
Tôi
xin vào đề từ câu chuyện của chúa loài Ràkshasa ( La sát)
như được giới thiệu trong kinh Lăng già. Chuyện kể rằng,
sau khi thuyết giảng trong cung điện Long vương, Thế Tôn ra
khỏi thất nhật định trong lúc chư thiên đang tán hoa tôn
tụng Ngài. Lúc ấy, Thế Tôn mĩm cười, nhìn thành Lăng già,
rồi Ngài dạy rằng:
" Các
Như lai trong qúa khứ đã dùng chân lý này làm đề tài thuyết
giảng tại thành Lăng già trên đỉnh Malaya, đấy là chân
lý được chứng đắc từ trong chiều sâu của tâm thức,
vượt ra ngòai tri thức lý luận của các triết gia , cũng
như các trạng thái tâm thức của hàng Thanh văn , Duyên giác.
Nay ta cũng thế, sẽ vì lợi ích của chúa loài La sát mà thuyết
giảng chân lý này".
Lúc
bấy giờ, do thần lực của Như Lai mà Ràvana ,chúa loài La
sát nghe được những lời ấy.Trong khi đó, Thế Tôn vừa
ra khỏi cung điện Long vương, Ngài nhìn sóng biển và nhìn
cả những giao động trong tâm thức của chúng hội vây quanh
Ngài , rồi Ngài bèn nghĩ đến tâm thức alaya trong đó các
thức đang sinh khởi và bị khấy động bơỉ ngọn gió đối
đãi -phân biệt. Trong khi đang lặng yên trong định như thế,
thì Ràvana trông thấy Ngài, liền vui sướng thốt lên rằng
:
" Ta
sẽ đến xin Thế Tôn vào thành Lăng già,vì suốt đêm nay
Ngài có thể làm lợi ích , hoan hỷ cho chư thiên và loài người."
Ngay
sau đó, Ràvana cùng với đoàn tùy tùng cỡi xe trời đến
chỗ Thế Tôn, nhiễu quanh Thế Tôn ba vòng , rồi gãy đàn
ngọc tôn tụng tán dương Thế Tôn bằng nhiều giai điệu
khác nhau... Sau đó xin Thế Tôn tuyên thuyết thánh nghĩa của
kinh Lăng già...
Thế
Tôn nhận lời mời thỉnh của Ràvana, Ngài im lặng bước
lên xe kết hoa , rồi các chàng nam tử ca múa nghinh tụng Ngài
vào thành Lăng già. Tại đây, vì lòng từ vô lượng, Thế
Tôn đã tuyên giảng thánh nghĩa về chân lý đưa đến chứng
ngộ thâm sâu nhất bằng một loại âm thanh tuyệt hảo,làm
rung động cả đất trời. Thế rồi bỗng dưng, Thế Tôn và
các nam tử của Ngài biến mất trong hư không, chỉ còn lại
chính Ràvana đang đứng nơi lâu đài của mình.
Ràvana
tự hỏi : " Cái gì thế này? Sao lại thế này? Thế này nghiã
làgì? Ai đã nghe nhỉ? Ai đã thấy nhỉ? Thành quách đâu rồi
? Những gì đã chợt thấy nhỉ ? Và Thế Tôn đâu rồi? Ta
bị bụi trong mắt ư ? Hay do khói hỏa luân mà ta thấy ra thế
này ?..."
Rồi
Ràvana suy nghĩ : Ðây là bản chất như như ( pháp tính) diệu
dụng của tâm mà kẻ ngu si lẫn lộn bởi các hình tướng
huyễn ảo nên không hiểu được . Kẻ nào thấy sự vật
như đã từng thấy trước đây thì không thể thấy Phật;
Ðức Phật tòan giác chỉ có thể được nhìn thấy nơi mà
tự nó không hề biến đổi. Suy nghĩ như thế , chúa thành
bỗng đạt đến một sự chứng ngộ sâu thẳm từ nội tâm
( Paràvriti), ông đã trú vào cảnh giới thông tuệ vô phân
biệt.
Bấy
giờ giữa hư không bỗng có tiếng nói rằng : " Hãy tự mình
biết lấy ! Tốt lắm , hỡi chúa thành Lăng già! Tốt lắm
, hỡi chúa thành Lăng già! Kẻ tu hành phải tu hành như ông
vậy ."
Có
thể nói rằng, câu chuyện trên , như được ghi chép cụ thể
trong chương thứ nhất của kinh Lăng già, là một cấu trúc
điển hình của đời sống tư tưởng tôn giáo của đạo
Phật. Mặc dù Lăng già được xem là một bộ kinh thuộc về
tư tưởng Ðại thừa Phật giáo chính thống.Song, như đã
thấy, những gì được nói ra ở đây đều được tập chú
vào cái cơ cấu vận hành trong tâm thức của con người và
cái tâm thức đó được xem như làđiểm trung tâm hay là cái
trục chính yếu cho mọi sự cô kết của đời sống ,biểu
hiện hay không biểu hiện, đa thù hay nhất thể vv...
Trong
cái bản thể tự nội của tâm thức , như kinh trình bày,
chúng ta thấy rõ khía cạnh của hai sự biểu hiện giữa một
tâm thức đã đạt đến một sự an tịnh tuyệt đối- như
tâm thức của Phật và một tâm thức lao xao bởi những làn
sóng nhấp nhô phân biệt của chúng sinh. Cái bản thể của
tâm thức nhất như thì không thay đổi -như là thể tính của
nước,ngược lại, cái khác với nhất như thì luôn luôn biểu
hiện như sóng gió ba đào, một thứ sóng gió biểu trưng cho
những tập quán của tư duy của con người gắn liền với
mọi sự đối đãi phân biệt như có và không, sinh và diệt,
sai biệt và đa thù vv... Ở đây , có một điều quan trọng
cần nói đến là sự phân biệt . Phân biệt tự thân nó không
phải là một tập quán xấu của tư duy ,mà chính sự bảo
thủ và bám viú vào các khái niệm phân biệt đã hình thành
nên những chướng ngại lớn lao trong sự thăng hoa của đời
sống tâm thức. Con người sẽ đánh mất tất cả sự thành
kính , lòng thương yêu và cho đến cả cái hạnh phúc thực
thụ của chính mình khi mà mọi thứ đều bị buộc chặt
trong phân biệt không thể tự giải phóng ra khỏi các trật
tự của khái niệm . cũng như trong yêu thương có khái niệm
tình yêu, nhưng trái lại không ai có thể yêu thương bằng
khái niệm hay trên khái niệm . Tình yêu thực thụ thì không
có khái niệm .Khái niệm về tình yêu và tình yêu chính nó
thì hoàn tòan khác nhau.Ðấy là lý do tại sao Ràvana tự nói
rằng với chính mình rằng :" Kẻ nào thấy sự vật như đã
từng thấy trước đây thì không thể thấy Phật; Ðức Phật
toàn giác chỉ có thể được nhìn thấy nơi mà tự nó không
hề biến đổi."
Một
điều khác nữa cũng cần được bàn đến đó là tại sao
trong đời sống thể nghiệm tôn giáo của đạo Phật luôn
đòi hỏi một sự siêu việt lên trên mọi khái niệm phân
biệt như lời ấn chứng từ trên không trung của Phật cho
chúa loài La sát : " Hãy tự mình biết lấy ! Tốt lắm , hỡi
chúa thành Lăng già! Tốt lắm , hỡi chúa thành Lăng già! Kẻ
tu hành phải tu hành như ông vậy ."
Ở
đây có hai con đường nhận thức một là nhận thức thông
thường, hai là nhận thức trong thể nghiệm tâm linh. Nhận
thức thông thường được xây dựng trên cơ sở phân biệt
của các khái niệm,trái lại nhận thức theo xu hướng thể
nghiệm tâm linh được bắt nguồn từ sự gội rửa mọi khái
niệm phân biệt trong cách thế của nhị nguyên. Ðấy là một
hướng đi ngược lại hoàn toàn . Trong viễn kiến của tự
nhiên, con người trần thế luôn luôn khát khao đạt đến
một kiến thức rộng lớn về các vấn đề liên quan đến
cuộc sống của con người cũng như thế giơí thực tại chung
quanh con người bằng một trật tự lắp ghép của các khái
niệm. Và thường những kiến thức đó gắn liền với một
cái khung ngã tính, như đây là kiến thức của tôi, đây là
sự hiểu biết của tôi vv... Cái kiến thức thì đương nhiên
là không có vấn đề gì để nói ,dù lớn hay nhỏ, uyên bác
hay nông cạn. Nhưng cái tôi trong kiến thức , trái lại, luôn
luôn là một chướng ngại lớn lao trong đời sống thể nghiệm
tâm linh. Vì như đã nói, khái niệm tự thân nó thì không
gì khác hơn là những mẫu sơ đồ được phát họa bởi tâm
thức trong tương quan . Bao lâu con người còn bị buộc chặt
trong những mẫu sơ đồ như thế , nghĩa là tâm thức còn
bị lệ thuộc vào trật tự của các khái niệm-ngôn từ ,
thì hẳn nhiên không làm sao mà lĩnh hội được những cái
vượt lên trên mọi khái niệm ,như Phật tính, cái Như thực
hay tình yêu bao la không vị kỷ vv...Ðiều này đã được
Ðức Phật nói rõ trong kinh Lăng Già như sau:
" Này
Mahàmati, các ngôn từ không phải là thực tính tối cao, cũng
không phải điều được diễn tả trong ngôn từ là thực
tính tối cao. Vì sao? Vì thực tính tối cao là một trạng
thái cao vời của hạnh phúc, vì trạng thái ấy không thể
được thông hiểu bằng những biểu từ suông về nó, nên
các ngôn từ không phải là thực tính tối cao. Và , này Mahàmati,
cái thực tính tối cao phải được đạt đến bằng sự chứng
ngộ tự nội của Thánh trí." ( Kinh Lăng Già, ch.XXXIII, tr.208,
bản dịch của Thích Chơn Thiện & Trần Tuấn Mẫn, Nxb.Tp
HCM, 1998)
Vả
lại, như tôi đã nói ngay trong phần suy niệm về bức thông
điệp của thời đại mới, sự thể nghiệm chân lý không
phải là một bài học như kiến thức được trao truyền từ
thầy qua trò, từ người này sang người khác; mà trái lại,
hệ qui chiếu của nó luôn luôn hướng về vai trò của trách
nhiệm cá thể, sự thể nghiệm cá thể, sự chứng ngộ cá
thể . Ở đây hoàn toàn không hề có cái gọi là khuôn mẫu
của sự chứng ngộ hay khuôn mẫu của sự thể nghiệm chân
lý ,mỗi người đạt đến sự thể nghiệm chân lý theo cái
cơ hội và khả năng riêng biệt khác nhau. Ðiều này đã được
chứng minh rõ ràng trong lịch sử chứng ngộ của đạo Phật.
Ðấy là lý do tại sao Ðức Phật bảo Ràvana rằng : " Hãy
tự mình biết lấy " và " kẻ tu hành phải tu hành như ông
vậy."
Nói
tóm lại, con đường thể nghiệm chân lý trong tôn giáo của
đạo Phật từ truyền thống của Phật giáo Nguyên Thủy đến
Phật giáo Phát triển luôn luôn đi theo một chiều hướng
nhất quán , bất di bất dịch . Tuy nhiên , phương tiện thực
hành của đời sống tôn giáo thì có muôn ngàn sự khác nhau
, điều đó cũng như nước trăm sông đều đổ về biển
cả, vậy thôi. Trên thực tế, bây giờ cũng là lúc chúng
ta cần xác lập lại giá trị của sự thể nghiệm này trong
mọi lĩnh vực của đời sống sinh hoạt tôn giáo, nếu không
như thế , thì giá trị của tôn giáo sẽ bị xóa nhòa giữa
bao trận chiến của quyền lực kinh tế , quyền lực xã hội
của những kẻ đội lốt tôn giáo, bên cạnh những niềm
tin đang còn được ấp ủ trong mong manh hương khói.
