Mạn
thù, nếu có thiện nam thiện nữ đức tin thuần tịnh, cho
đến hết đời, không thờ vị trời nào khác, chỉ nhất
tâm qui y Phật Pháp Tăng, thọ trì giới pháp, như năm giới,
mười giới, bốn trăm giới của bồ tát, hai trăm năm mươi
giới của tỷ kheo, năm trăm giới của tỷ kheo ni. Nhưng đối
với giới pháp của họ thọ trì, hoặc có kẻ phá phạm nên
sợ đọa lạc ác đạo. Nếu biết chuyên tâm trì niệm danh
hiệu đức phật Dược sư lưu ly quang như lai, cung kính cúng
dường, thì quyết chắc không phải lãnh chịu đời sống
trong ba ác đạo.
Ðây
là khỏi tai nạn đọa lạc ác đạo nếu phạm giới. Nhưng
phạm giới mà biết sợ đọa lạc ác đạo nên trì niệm
danh hiệu đức Dược sư, mới khỏi tai nạn ấy. Còn không
biết sợ hay vẫn tái phạm mãi thì lại khác.
Nếu
có nữ nhân nào, lúc gần sinh sản, chịu đựng đau dớn cùng
cực, mà biết chí tâm trì niệm danh hiệu, lễ bái, ca tụng,
cung kính, cúng dường đức Như lai ấy, thì mọi nỗi đau
đớn tan biến tất cả. Ðứa con sinh ra, mọi bộ phận của
thân hình đều hoàn bị, sắc tướng của thân hình ấy đẹp
và nghiêm, ai thấy cũng hoan hỷ, giác quan tinh nhuệ, trí tuệ
thông minh, yên ổn, ít bịnh, không có một kẻ không phải
người đoạt mất tinh chất của đứa con ấy.
Ðây
là khỏi sản nạn. Mẹ đã khỏi nạn mà con sinh ra cũng hoàn
hảo. Kẻ không phải người (phi nhân) là những loài không
phải loài người.
C5.
nói là chỗ hiểu biết sâu xa của Phật
Lúc
ấy đức Thế tôn bảo tôn giả A nan, công đức mà đức
thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai có, mà Như lai đã ca
tụng, là chỗ hiểu biết cực kỳ sâu xa của chư Phật, khó
mà lý giải, ông tin được không? Tôn giả A nan bạch Phật,
bạch đức Thế tôn uy đức cao cả, đối với khế kinh Ngài
dạy, con không sinh tâm nghi ngờ. Tại sao, vì thân thể, lời
nói và ý nghĩ của các đức Như lai, không động tác nào
mà không thanh tịnh. Bạch đức Thế tôn, vầng nhật nguyệt
kia có thể làm cho rơi rụng, và Tu di, hòn núi chúa tể trong
các hòn núi, cũng có thể làm cho nghiêng đổ, nhưng lời nói
của chư Phật thì không thể làm cho khác đi được. Tuy nhiên,
bạch đức Thế tôn, có những kẻ đức tin không đủ, nghe
nói chỗ hiểu biết cực kỳ sâu xa của chư Phật thì nghĩ,
tại sao chỉ trì niệm một danh hiệu Phật của đức Dược
sư lưu ly quang như lai mà thu hoạch bao nhiêu công đức và
ích lợi vượt bậc như vậy. Vì sự không tin này mà quay
lại phỉ báng. Những kẻ ấy suốt đêm trường mất lợi
lạc lớn, đọa lạc ác đạo, trôi lăn không cùng. Phật dạy
tôn giả A nan, những kẻ ấy nếu nghe dược danh hiệu của
đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, chí tâm thọ trì,
không sinh nghi hoặc, mà vẫn đọa lạc ác đạo là điều
không có. A nan, đó là chỗ hiểu biết cực kỳ sâu xa của
chư Phật, khó thể tin và hiểu. Nay ông tiếp nhận được,
phải biết toàn là do uy lực Như lai. A nan, hết thảy Thanh
văn, Ðộc giác, và các vị Bồ tát chưa bước lên thập địa,
đều không thể tin và hiểu một cách đúng như sự thực,
chỉ trừ các vị Bồ tát còn hệ thuộc một đời mà thôi.
A nan, thân thể loài người khó mà có được, sự tin tưởng
tôn kính Tam bảo càng khó mà có dược, nhưng nghe danh hiệu
của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai lại khó được
hơn những sự khó được ấy. A nan, vô lượng bồ tát hạnh,
vô lượng thiện phương tiện, và vô lượng quảng đại nguyện,
của đức Dược sư lưu ly quang như lai, trong một đại kiếp
hay hơn một đại kiếp, Như lai nói một cách đầy đủ, thì
đại kiếp ấy có thể kết thúc mau chóng, còn hạnh nguyện
và phương tiện của đức Phật này vẫn không cùng tận.
Kết
thúc kinh Di đà, đức Phật nói như sau, "Xá lợi phất, như
ta bây giờ xưng tụng công đức bất khả tư nghị của chư
Phật, thì chư Phật ấy cũng xưng tụng công đức bất khả
tư nghị của ta, bằng cách nói rằng, đức phật Thích ca
mâu ni làm được cái việc rất khó, hiếm có, là có thể
ở trong thời kỳ dữ dội của quốc độ Sa bà, thời kỳ
đầy cả 5 thứ vẩn đục là thời kỳ vẩn đục, kiến thức
vẩn đục, tâm lý vẩn đục, con người vẩn đục và đời
sống vẩn đục, mà thực hiện tuệ giác vô thượng bồ đề,
lại còn vì mọi người nói cái pháp mà toàn thể thế gian
khó tin này. Xá lợi phất, ông nên biết ta đã ở trong thời
kỳ dữ dội đầy cả 5 thứ vẩn đục mà làm việc khó làm,
ấy là thực hiện tuệ giác vô thượng, lại vì toàn thể
thế gian nói cái pháp khó tin này, thì đó là việc rất khó".
Hãy đối chiếu đoạn văn này với đoạn văn trên, cũng thấy
phần nào tình ý của Phật.
Chỗ
hiểu biết cực kỳ sâu xa của chư Phật (chư Phật thậm
thâm hành xứ), bản dịch 3 (Chính 14/403g) và bản dịch 5 (Chính
14/415g) đều dịch "thậm thâm cảnh giới". Vậy hành xứ =
cảnh giới. Ngài Thái hư nói, hành xứ có 2 nghĩa : một, hành
xứ là chỗ biết của phật ; hai, hành xứ là chỗ làm của
Phật (TH 28/2376). Ở đây, công đức của đức Dược sư,
trong đó có ích lợi mà danh hiệu của ngài đem lại cho chúng
sanh, là chỗ chỉ Phật làm và Phật biết, nên gọi là "thậm
thâm hành xứ". Hành xứ tuy có đủ 2 nghĩa như vậy, nhưng
nghĩa sau dễ hiểu nên tôi đã dịch "chỗ hiểu biết".
Ðêm
trường (trường dạ) : thì gian dài. Ở đây chỉ cho cảnh
giới sanh tử : vừa dài dặc vừa tối tăm (vì vô minh mà
thiếu cả chánh tín). Bồ tát còn hệ thuộc một đời mà
thôi (nhất sanh sở hệ bồ tát) coi âm thích "thứ lớp kế
vị thành Phật", trang 102. Nhưng 1 đời có 2 : (a) các vị đẳng
giác bồ tát chỉ còn 1 đời ứng thân nữa là thành Phật,
mới thật là 1 đời ; (b) các vị thập địa bồ tát tuệ
mạng báo thân liên tục, không còn phân đoạn sanh tử, nên
cũng có thể gọi là 1 đời. Thiện phương tiện = thiện xảo
phương tiện.
C6.
nói cách tiêu tai diên thọ, có 5 D
D1.
chỉ cách tiêu tai diên thọ
Lúc
ấy trong chúng hội có một vị đại sĩ danh hiệu Cứu thoát,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trần vai áo bên phải, gối
bên phải quì xuống sát đất, cong mình, chắp tay mà bạch
Phật, bạch đức Thế tôn uy đức cao cả, khi thời kỳ Phật
pháp tương tự xuất hiện, có những kẻ bị mọi thứ bịnh
hoạn làm cho nguy khốn. Bịnh mãi, gầy ốm, ăn uống không
được, cổ và môi đều khô nóng. Nhìn mọi phía đều đen
tối. Tướng chết xuất hiện. Cha mẹ, anh em, bà con, bạn
bè, quen biết, khóc lóc vây quanh. Nhưng bản thân bịnh nhân
thì tuy vẫn nằm chỗ của mình, mà lại thấy sứ giả Diêm
vương dẫn thần thức của mình đến trước vị vua chấp
pháp này. Nguyên mọi ngưòí đều có vị thần cùng sanh, tùy
việc họ làm, tội cũng như phước, ghi chép đầy đủ, và
bấy giờ trao cả cho Diêm vương. Diêm vương tra hỏi kẻ ấy,
tính việc họ làm, tùy tội và phước mà xử phán. Chính
trong lúc này, thân thuộc hay quen biết của bịnh nhân, nếu
biết vì họ mà qui y đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như
lai, cung thỉnh chư Tăng đọc tụng kinh này, đốt cây đèn
bảy tầng, treo phan thần "tiếp nối mạng sống" bằng năm
màu. Thì hoặc có kẻ nơi đây thần thức về được, và
như trong chiêm bao, tự thấy rõ ràng. Hoặc trải qua bảy ngày,
hoặc hai mươi mốt ngày, hoặc ba mươi lăm ngày, hoặc bốn
mươi chín ngày, khi thần thức về được thì như từ chiêm
bao thức dậy, tự nhớ biết tất cả quả báo của thiện
nghiệp ác nghiệp. Nhờ tự chứng kiến nghiệp báo, nên đến
nỗi gặp phải tai nạn cho sinh mạng, cũng không tạo tác ác
nghiệp. Vì vậy, những thiện nam thiện nữ đức tin thuần
tịnh, hãy thọ trì danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang
như lai, tùy sức có thể mà cung kính cúng dường.
Thời
kỳ Phật pháp tương tự (Tượng pháp) chỉ bản dịch 5 cũng
dùng chữ này (Chính 14/415g), còn bản dịch 1 không dùng chữ
gì (Chính 21/535g), bản dịch 3 dùng chữ "vị lai thế" (Chính
14/403d). Nhìn mọi phía đều đen tối (kiến chư phương ám)
là tả hiện tượng sắp chết, mà là cái chết đọa lạc
ác đạo. Diêm vương (Diệm ma pháp vương = Yama-raja) dịch
nghĩa là Phược : trói buộc tội nhân, Bình đẳng vương :
bình đẳng trị tội. Diêm vương là tổng quản địa ngục.
Sứ giả Diêm vương (Diệm ma sứ) là lính quỉ mà Diêm vương
sai bắt dẫn những kẻ làm ác. Khác với thiên sứ của Diêm
vương, thiên sứ ấy là các sự già bịnh và chết. Vị vua
chấp pháp (Diệm ma pháp vương) là Diêm vương : Diêm vương
chấp chưởng pháp quyền ở địa ngục, nên gọi như vậy.
Thần
thức : nghiệp thức và trung hữu. Vị thần cùng sanh (câu
sanh thần) : thần năm tháng ngày giờ sinh hay bản thức. Bản
thức là tổng thể dị thục, lại tiếp nhận huân tập và
chấp trì chủng tử của nghiệp, nên gọi là thần câu sanh.
Vạn 35/177a nói, do nghiệp lực mà ý thức bịnh nhân hiện
4 tướng : sứ giả Diêm vương, thần thức của mình, Diêm
vương và thần cùng sanh. Có kẻ nơi đây (hoặc hữu thị
xứ), thị xứ (nơi đây) là ngay nơi cái lúc làm phước đây,
do người thân làm cho bịnh nhân sắp chết. Thần thức về
được (bỉ thức đắc hoàn) : sinh mạng là bản thức liên
tục chấp trì, chết là ý thức hết khởi phân biệt, sống
là ý thức lại khởi phân biệt. Về hay không về, chỉ có
nghĩa ý thức tái tục phân biệt hay gián đoạn phân biệt.
Nhưng bản thức biến nhất thế xứ. Chết chỗ này sanh chỗ
kia là "tiền dị thục ký tận, phục sanh dư dị thục". Không
làm gì có sự đi, về, qua, lại (TH 28/2388). Như trong chiêm
bao, tự thấy rõ ràng, là tự thấy rõ ràng như thấy trong
chiêm bao. Tự thấy rõ ràng là tự thấy rõ những hình phạt
mình bị phán chịu ở địa ngục, lại càng tự thấy rõ
người thân làm phước cho mình. Sự tự thấy này, cũng như
sự tự nhớ của những người mới chết 7 đến 49 ngày,
và tự thấy tự nhớ rồi dẫu nguy đến tánh mạng cũng không
dám làm ác, toàn là do thần lực của đức Dược sư.
D2.
chỉ thêm cách tiêu tai diên thọ, đặc biệt tiêu bịnh khổ
Lúc
ấy tôn giả A nan hỏi bồ tát Cứu thoát, thiện nam tử, nên
bằng cách nào cung kính cúng dường đức thế tôn Dược sư
lưu ly quang như lai ? Phan và đèn "tiếp nối mạng sống" nên
làm cách nào ? Bồ tát Cứu thoát nói, đại đức, nếu bịnh
nhân muốn thoát bịnh khổ, nên vì họ mà bảy ngày đêm thọ
trì Bát quan trai giới. Nên đem đồ ăn, đồ uống và đồ
dùng, tùy sức liệu biện mà cúng dường Tỷ kheo tăng. Ngày
đêm sáu buổi lễ bái cúng dường đức thế tôn Dược sư
lưu ly quang như lai. Ðọc tụng kinh này bốn mươi chín biến.
Ðốt bốn mươi chín ngọn đèn. Tạo hình tượng đức Như
lai ấy bảy vị. Trước mỗi hình tượng để bảy ngọn đèn,
cái lượng mỗi ngọn đèn lớn như bánh xe. Và đến bốn
mươi chín ngày đêm, ánh sáng không dứt. Còn làm phan năm
màu thì dài bốn mươi chín gang tay. Nên phóng sanh đến bốn
mươi chín giống khác nhau. Như vậy thì có thể qua được
tai nạn nguy khốn, không bị mọi thứ ngang trái và quỉ dữ
tác hại.
Gom
các đoạn trước và đoạn này nữa, cách thức tiêu tai diên
thọ có cái mà ngày nay gọi là đàn Dược sư. Ðàn này gồm
có 2 phần chính là phan và đèn. Phan bằng vải 5 màu, dài
49 gang. Ðèn có 7 tầng, mỗi tầng thiết 1 hình tượng đức
Dược sư và đốt 7 ngọn đèn càng lớn càng tốt(43). Thì
gian là 49 ngày đêm, treo phan, đốt đèn, lạy tượng Dược
sư mỗi ngày đêm 6 lần cách đều, trì kinh Dược sư 49 ngày
đêm mỗi ngày đêm 1 biến. Thân thì tắm rửa sạch sẽ, mặc
đồ sạch (và mới càng tốt). Miệng thì súc rửa sạch sẽ,
ăn uống đồ thanh tịnh (nhất là nói càng phải thanh tịnh).
Ý thì phát khởi từ bi, muốn ích lợi cho tất cả một cách
bình đẳng. Trong thì gian 49 ngày làm đàn Dược sư như vậy
còn làm 3 việc nữa : thọ trì Bát quan trai giới, tùy sức
cúng dường Tỷ kheo tăng, và phóng sanh đến 49 loại (mỗi
loại 49 con, hay 49 ngày đêm phóng sanh 1 lần).
Sau
đây là mấy chỗ cần âm thích. Ngày đêm sáu buổi lễ bái
cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, hãy
chú ý chữ lễ bái cúng dường : nhiều lúc nghĩa là lễ bái
và cúng dường, nhiều lúc nghĩa là đem sự lễ bái mà cúng
dường. Ở đây có cả hai nghĩa. Phóng sanh : phóng thả sinh
vật, tiếng tắt của từ ngữ phóng tạp loại chúng sanh (hay
phóng chư sinh mạng). Phóng sanh đến 49 loại khác nhau (phóng
tạp loại chúng sanh chi tứ thập cửu), sát thì phải dịch
: phóng thả sinh vật nhiều loại lẫn lộn đến 49 thứ. Ngang
trái (hoạnh) hoạnh là họa hoạnh : tai họa phi lý, bất trắc,
dữ dội.
D3.
lại còn tiêu quốc nạn
Ðại
đức A nan, nếu giai cấp Sát đế lợi các vị vua đã làm
lễ quán đảnh, khi tai nạn nổi dậy, như dân chúng bịnh
dịch, nước khác lấn ép, nước mình phản nghịch, tinh tú
quái dị, nhật thực nguyệt thực, gió mưa trái thì, quá thì
không mưa, thì giai cấp Sát đế lợi, các vị vua đã làm
lễ quán đảnh, lúc ấy, hãy phát khởi tâm từ bi đối với
tất cả chúng sanh, ân xá những người bị giam bị nhốt,
và theo cách cúng dường tôi đã nói trên mà cúng dường
đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai. Nhờ thiện căn
như vậy, và nhờ năng lực bản nguyện của đức Như lai
ấy, mà làm cho quốc độ của họ tức khắc yên ổn, gió
mưa điều hòa, lúa má thành thục, mọi người vô bịnh, vui
vẻ. Trong quốc độ của họ không có những loại thần Dạ
xoa bạo ác, tác hại chúng sanh. Mọi hiện tượng dữ ẩn
mất tất cả và tức thì. Còn giai cấp Sát đế lợi, và
những vị vua đã làm lễ quán đảnh, thì sự sống, tướng
tốt, sức mạnh, vô bịnh và tự do, đều dược tăng thêm.
Nếu hoàng hậu, hoàng phi, đông cung, vương tử, đại thần,
phụ chánh, thể nữ, bách quan và dân chúng, bị bịnh làm
khổ, và bị những tai nạn khác, cũng nên làm phan thần năm
màu và đốt đèn sáng liên tục, phóng các loại có sinh mạng,
rải những bông hoa đủ màu, đốt những hương thơm nổi
tiếng, thì bịnh hết, nạn khỏi.
Sát
đế lợi = Kshatriya, là điền chủ, vương chủng ; giai cấp
võ sĩ, 1 trong 4 giai cấp của xã hội Ấn thời cổ, làm vua
và đại thần. Vua đã làm lễ quán đảnh, quán đảnh, nghĩa
đen là rưới nước lên đỉnh đầu. Nước này lấy ở sông
biển 4 hướng, ý chúc thống trị 4 phương thiên hạ. Làm
lễ quán đảnh là như ngày nay làm lễ da miện. Giai cấp Sát
đế lợi, các vị vua đã làm lễ quán đảnh (Sát đế lợi
quán đảnh vương đẳng), rất nên hiệu và dịch là vị vua
đã làm lễ quán đảnh thuộc giai cấp Sát đế lợi. Cách
cúng dường đã nói trên là cách vừa nói ở đoạn trên đoạn
này. Nhờ thiện căn như vậy và nhờ năng lực bản nguyện
của đức Như lai ấy, câu này đáng lý đoạn nào cũng phải
có. Mọi sự tiêu tai diên thọ và mọi sở cầu sở nguyện
mà được thực hiện, là nhờ tự lực được tha lực gia
hộ (như câu này nói).
Phụ
chánh (phụ tướng) theo TH 28/2394 thì là tả phụ hữu bật,
đứng đầu quần thần. Tài liệu 9 (Anh văn, trang 18, dòng
24) dịch là tham nghị viên hay cố vấn của triều đình. Thể
nữ (trung cung thể nữ), trung cung là hoàng hậu, trung cung thể
nữ là thể nữ của hoàng hậu. Tài liệu 9 (Anh văn, trang
18 dòng 26) dịch là các vị phu nhân thân cận hoàng hậu. Bách
quan, quan chức tỉnh vùng. Phóng các loại có sinh mạng (phóng
chư sinh mạng) là phóng sanh. Các loại có sinh mạng là chúng
sanh (ở đây là các loại sinh vật).
D4.
tiêu bất định nghiệp
Lúc
ấy tôn giả A nan lại hỏi bồ tát Cứu thoát, thiện nam tử,
tại sao mạng sống đã hết mà có thể làm cho tăng thêm ?
Bồ tát Cứu thoát nói, đại đức, ngài không nghe đức Thế
tôn nói có chín sự chết ngang trái hay sao? Vì chín sự
chết này mà tôi khuyên làm phan và đèn " tiếp nối mạng
sống", tu các phước đức. Nhờ tu các phước đức mà trọn
đời không trải qua một cơn đau đớn hoạn nạn nào cả.
Tôn giả A nan hỏi, chín sự chết ngang trái là gì? Bồ tát
Cứu thoát nói, có kẻ bị bịnh tuy nhẹ, nhưng không thầy,
không thuốc, không ai coi sóc. Gặp thầy thì lại bị cho thuốc
không đúng, nên thật không đáng chết mà chết một cách
ngang trái. Lại tin thầy bà yêu nghiệt của tà ma ngoại đạo
thuộc phạm vi thế gian nói vớ vẩn về họa phước,
nên đâm ra sợ hãi dao động. Tâm thì không tự chánh nó lại,
lại đi bói hỏi để tìm lấy tai họa. Giết hại sinh vật
mà giải tấu thần minh, vái yêu quái để xin làm phước giúp
đỡ, mong muốn thêm tuổi nhưng chung cục không thể đạt
dược. Ngu si mê lầm, tin theo cái thấy cong và ngược, nên
làm chết mình một cách ngang trái, nhập vào ñịa ngục, không
có kỳ hạn thoát ra. Ðó là sự chết ngang trái thứ nhất.
Thứ hai, một cách ngang trái bị phép vua giết. Thứ ba, săn
bắn, chơi bời, đam mê tửu sắc, phóng túng vô độ, một
cách ngang trái bị những kẻ không phải người đoạt mất
tinh chất. Thứ tư, một cách ngang trái bị lửa đốt. Thứ
năm, một cách ngang trái bị nước chìm. Thứ sáu, một cách
ngang trái bị các giống thú dữ ăn. Thứ bảy, một cách ngang
trái rơi xuống sườn núi. Thứ tám, một cách ngang trái trúng
chết bởi thuốc độc, ếm vái, chú thư, quỉ khởi thi. Thứ
chín, chết một cách ngang trái vì đói khát nguy khốn, không
được đồ ăn thức uống. Ðó là sự chết ngang trái mà
đức Thế tôn nói vắn tắt có chín thứ như vậy. Ngoài ra
còn có vô số những sự ngang trái khác, khó nói cho đủ.
Tu
các phước đức là thọ trì Bát quan trai giới, tùy sức cúng
dường Tỷ kheo tăng, và phóng sanh đến 49 loại. Tâm thì không
tự chánh nó lại, lại đi bói hỏi để tìm lấy tai họa
(tâm bất tự chánh, bốc vấn mích họa), bản dịch 1 (Chính
21/535d) dịch "tâm bất tự chánh, bất năng tự định, bốc
vấn mích họa" (tâm không tự chánh, không thể tự định,
đi bói hỏi mà tìm lấy tai họa). Giải tấu : giải bày, tâu
thưa. Cái thấy cong và ngược (tà đảo kiến) là tà kiến.
D5.
tiêu cả định nghiệp
Ðại
đức A nan, Diêm vương lãnh xét sự ghi chép về sách tịch
của thế gian. Ai bất hiếu cha mẹ, làm năm tội nghịch, hủy
nhục Tam bảo, phá phép vua tôi, làm hỏng tánh giới, thì Diêm
vương theo tội nặng nhẹ xét mà phạt. Vì lý do ấy, nay tôi
khuyến cáo mọi người đốt đèn, treo phan, phóng sanh, tu phước,
làm cho họ qua khỏi khốn khổ, không gặp mọi sự hoạn nạn.
Ghi
chép về sách tịch thế gian là ghi tội phước như trước
đã nói. Tánh giới: giới năng. Nhưng tất cả bản chính đều
chép "tín giới”, nghĩa là chánh tín và tịnh giới. Làm hỏng
tín giới là tà kiến và phạm giới, là phá kiến và phá
giới. Treo phan (tạo phan), tạo là chế tạo, bày ra, dựng
lên. Ở đây nên hiểu là treo, dựng. Tu phước : như đã nói
(trang 118) có 3, nay phóng sanh kể rồi thì còn 2, là cúng dường
Tỷ kheo tăng và thọ trì Bát quan trai giới.
C7.
nói sự hộ vệ của Dạ xoa.
Lúc
ấy trong chúng hội có mười hai vị đại tướng Dạ
xoa, cùng có mặt ở đó, là đại tướng Cung tỳ la,
đại tướng Phạt chiết la, đại tướng Mê xí la, đại tướng
An để la, đại tướng Ngạnh nễ la, đại tướng San để
la, đại tướng Nhân đạt la, đại tướng Ba di la, đại tướng
Ma hổ la, đại tướng Chân đạt la, đại tướng Chiêu đỗ
la, đại tướng Tỳ yết la. Mười hai vị đại tướng Dạ
xoa này, mỗi vị có bảy ngàn Dạ xoa làm tùy thuộc, cùng
lúc cất tiếng bạch Phật, bạch đức Thế tôn, chúng con
bây giờ nhờ uy lực của Ngài mà nghe được danh hiệu của
đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, không còn nỗi
sợ hãi về ác đạo nữa. Chúng con đốc suất nhau, cùng nhau
nhất tâm, suốt đời qui y Phật Pháp Tăng, thệ nguyện gánh
vác hết thảy chúng sanh, tạo cho họ cái lợi chân thật,
cái vui lợi ích. Tùy thôn làng, thị thành, thủ đô, và trong
rừng thanh vắng, của bất cứ xứ nào, mà hoặc có kinh này
lưu hành, hoặc có kẻ trì niệm danh hiệu của đức Dược
sư lưu ly quang như lai, cung kính cúng dường Ngài, thì chúng
con, và tùy thuộc của chúng con, hộ vệ người ấy, làm cho
họ thoát mọi khổ nạn, mọi ước nguyện đều thỏa mãn.
Hoặc ai bị bịnh khổ mà cầu thoát qua, thì cũng nên đọc
tụng kinh này, dùng tơ sợi năm màu mà kết tên chúng con.
Ðược toại nguyện rồi mới tháo kết ấy.
Lúc
ấy đức Thế tôn tán dương các đại tướng Dạ xoa, rằng
lành thay các tướng Ðại dạ xoa, lành thay, các người nghĩ
báo ân đức cửa đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như
lai, thì thường nên như vậy mà lợi ích an lạc hết thảy
chúng sanh.
Danh
sách 12 đại tướng Dạ xoa, kể theo Phạn tự thì như sau.
1
Kumbhira,
2.
Vajra,
3.
Mihira,
4.
Andira,
5.
Majira,
6.
Shandira,
7.
Indra,
8.
Pajra,
9.
Makura,
10.
Sindura,
11.
Catura,
12.
Vikarala.
Ðó
là trích tài liệu 9 (Anh văn, trang 20, dòng 23). Nhưng dịch
nghĩa thì tìm không ra. Chỉ tìm thấy 2 danh sách sau đây.
(a)
1. Cực úy dược xoa đại tướng,
2.
Kim cang dược xoa đại tướng,
3.
Chấp nghiêm dược xoa đại tướng,
4.
Chấp tinh dược xoa đại tướng,
5.
Chấp phong dược xoa đại tướng,
6.
Cư xứ dược xoa đại tướng,
7.
Chấp lực dược xoa đại tướng,
8.
Chấp ẩm dược xoa đại tướng,
9.
Chấp ngôn dược xoa đại tướng,
10.
Chấp tường dược xoa đại tướng,
11.
Chấp động dược xoa đại tướng,
12.
Viên tác dược xoa đại tướng.
(b)
1. Khả úy đại tướng,
2.
Kim cang đại tướng,
3.
Hộ pháp đại tướng,
4.
Hộ tỷ đại tướng,
5.
Chánh pháp đại tướng,
6.
La sát đại tướng,
7.
Ðế sử đại tướng,
8.
Lang long đại tướng,
9.
Canh phương đại tướng,
10.
Chiết thuỳ đại tướng,
11.
Hộ thế đại tướng,
12.
Cần nộ đại tướng,
Danh
sách (a) trích Chính 19/51g và 60t ; danh sách (b) trích Chính 19/67t.
Lợi
chân thật (nghĩa lợi) cái lợi chân chính, chắc thật, hợp
chân lý. Thủ đô (quốc ấp).
Ðoạn
này cho thấy Dạ xoa mà thệ nguyện gánh vác chúng sanh, hộ
vệ mọi người, là do uy lực của đức Dược sư, là công
đức của ngài. Trong đoạn này, cuối cùng, còn đưa ra một
cách trừ bịnh nữa. Tra đọc các tài liệu sẽ thấy cách
ấy cũng rất quan trọng.
A3
kết thúc
B1.
nói tên kinh
Bấy
giờ tôn giả A nan bạch Phật, bạch đức Thế tôn, nên mệnh
danh như thế nào về pháp môn này, và chúng con nên phụng
trì kinh này như thế nào ? Phật dạy tôn giả A nan, pháp môn
này nên mệnh danh Nói về bản nguyện công đức của đức
Dược sư lưu ly quang như lai, cũng nên mệnh danh Nói về sự
kết nguyện thần chú để lợi ích chúng sanh của mười hai
thần tướng, lại nên mệnh danh Bạt trừù hết thảy nghiệp
chướng. Nên phụng trì như vậy.
Phụng
trì như vậy (như thị trì) chỉ có nghĩa đơn giản là nhớ
như vậy. Muốn xa hơn chút nữa thì "hãy phụng trì theo ý
nghĩa mệnh danh như vậy".
B2.
chúng hội phụng hành
Khi
đức Thế tôn nói lời này rồi, các vị đại bồ tát cùng
các vị đại thanh văn, quốc vương, đại thần, đạo sĩ,
cư sĩ, thiên chúng, long chúng, dạ xoa, càn thát bà, a tu la,
ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la dà, loài người và loài không
phải người, toàn thể đại chúng như vậy, nghe những điều
Phật dạy, ai cũng cực kỳ hoan hỷ, tín thọ phụng hành.
Thiên
chúng... ma hầu la dà là 8 bộ thiên long. Loài người và loài
không phải người (nhân phi nhân), TH 28/2406 nói, thanh văn,
quốc vương, vân vân, là loài người ; thiên chúng, long chúng,
vân vân, là loài không phải người. Pđ 270t giải thích lại
khác : (a) là khẩn na la, vì như người mà không phải người
; (b) chỉ cho tất cả 8 bộ, vì vốn không phải người, nhưng
đến Phật thì hiện hình người cả. Theo lối giải thích
này, "nhân phi nhân" nên dịch "loài như người mà không phải
người". Nhưng xét văn ý kinh này, qua những chỗ nói "phi nhân",
thì thấy TH 28/2406 nói đúng với kinh này hơn.