|
c
TÂM
KINH
Thích
Trí Quang dịch giải
mồng
tám tháng tư 2537 Phật lịch
Mục
Lục
dịch âm
3
dịch nghĩa
4
trước khi
lược giải tâm kinh 5
1. Lược
nói oai linh của tâm kinh và đức Quan âm, vị thuyết ra Tâm
kinh. 5
2. Lược
nói Bát nhã và Không của Bát nhã trong A Hàm. 9
2.1 Bát nhã
trong A Hàm 9
2.2 Không
trong bộ A Hàm 9
2.3. Chánh
tri kiến và Không tam muội như vậy hủy diệt cái gì ? 10
2.4. Không
như vậy vì sao có thể thực hiện ? 11
2.5. Như
vậy thì vì "không" mới "có" 12
3. Lược
nói Bát nhã và Không của Bát nhã trong đại thừa. 12
3.1. Bát
nhã là phật mẫu. 12
3.2. Bát
nhã là chủ đạo của Bồ tát hạnh. 13
3.3. Bát
nhã là gì ? 15
3.4. Không
của Bát nhã. 15
3.5. Tác
dụng Không của Bát nhã. 16
3.6. Sau hết
cũng nên biết tu học Bát nhã thì sinh ở đâu. 16
4. Lược
nói Bát nhã và Không của Bát nhã trong Tâm kinh. 16
4.1. Sự
độc đáo thứ nhất của Tâm kinh là nói về cái Không siêu
việt. 16
4.2. Sự
độc đáo thứ hai của Tâm kinh là nói Bát nhã là một bài
chú. 17
4.3. Sự
độc đáo thứ ba của Tâm kinh là đem Bát nhã và Không của
Bát nhã làm thành một cảnh ngữ để tu học Bát nhã. 17
5. Lược
nói các pháp số trong Tâm kinh. 17
5.1. Về
5 uẩn. 18
5.2. Về
12 xứ 18
5.3. Về
18 giới 18
5.4. Về
12 duyên sinh 18
5.5. Về
4 đế 19
5.6. Về
2 chuyển y 19
Ðại niết
bàn 19
Ðại bồ
đề 19
chữ tắt
dùng trong bản lược giải 21
lược giải
22
I. Mở đầu
22
II. Bát nhã
23
Ðoạn 1
: nói về Bát nhã 23
Ðoạn 2
: nói về diệu dụng của Bát nhã 25
III. Thần
chú Bát nhã 27
tâm
kinh
dịch
âm
Ma ha bát
nhã ba la mật đa tâm kinh :
Quan tự tại
bồ tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến
ngũ uẩn giai không, độ nhất thế khổ ách. Xá lị tử, sắc
bất dị không, không bất dị sắc ; sắc tức thị không,
không tức thị sắc. Thọ tưởng hành thức diệc phục như
thị. Xá lị tử, thị chư pháp Không tướng bất sinh bất
diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố
Không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ
tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn
giới nãi chí vô thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận,
nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt
đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề
tát đỏa y bát nhã ba la mật đa cố tâm vô quái ngại, vô
quái ngại cố vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng
tưởng, cứu cánh niết bàn ; tam thế chư Phật y bát nhã ba
la mật đa cố đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Cố
tri bát nhã ba la mật đa thị đại thần chú : thị đại minh
chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trù
nhất thế khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết bát nhã ba
la mật đa chú. Tức thuyết chú viết : Yết đế, yết đế,
ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà
ha.
Ma ha bát
nhã ba la mật đa (3 lần)
T
â m k i n h
dịch
nghĩa
Thần chú
Bát nhã
Bài kinh
tinh túy của đại bát nhã :
Quan tự tại
đại bồ tát đã đi vào Bát nhã ba la mật đa sâu xa, soi thấy
năm uẩn đều không, vượt mọi khổ ách. Ngài nói, tôn giả
Thu tử, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc ; sắc
tức là không, không tức là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng
đều như vậy. Tôn giả Thu tử, Không ấy của các pháp không
sinh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt
(không quá khứ, không vị lai, không hiện tại). Thế nên trong
Không không sắc thọ tưởng hành thức, không nhãn nhĩ tỹ
thiệt thân ý, không sắc thanh hương vị xúc pháp, không nhãn
giới cho đến không ý thức giới, không vô minh và sự tận
diệt tận của vô minh, cho đến không lão tử và sự diệt
tận của lão tử, không khổ tập diệt đạo, không quán trí,
không thủ đắc, vì không thủ đắc gì cả. Bồ tát
vì y theo Bát nhã ba la mật đa nên tâm không bị chướng ngại,
vì không bị chướng ngại nên không khiếp sợ, siêu thoát
mộng tưởng thác loạn, cứu cánh niết bàn. Phật đà cả
ba thì gian vì y theo Bát nhã ba la mật đa nên được vô thượng
bồ đề. Do đó mà biết Bát nhã ba la mật đa là bài chú
rất thần diệu : bài chú rất sáng chói, bài chú tối thượng,
bài chú tuyệt bậc mà đồng bậc, trừ được hết thảy
khổ não, chắc thật, không hư ngụy. Nên tôi nói chú Bát
nhã ba la mật đa. Ngài liền nói chú ấy : Yết đế, yết
đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà
ha.
Ma ha bát
nhã ba la mật đa. (3 lần).
T
â m k i n h
trước
khi lược giải tâm kinh
1. Lược
nói oai linh của tâm kinh và đức Quan âm, vị thuyết ra Tâm
kinh.
Sử truyện
của ngài Huyền tráng, dịch giả tâm kinh (ra Hoa văn), chép
:
... Chừng
canh ba, pháp sư lén vượt được cửa ải Ngọc môn, mừng
lắm, để đồ xuống, nằm ngủ cách người Hồ hơn 50 bước.
Mới nằm một lát, ngươì Hồ rút dao đứng dậy, đi nhẹ
về phía pháp sư, đi chưa được mươi bước thì lùi lại,
không biết ý gì. Pháp sư ngờ người Hồ có lòng khác, nên
ngồi dậy niệm đức Quan âm. Thấy vậy, người Hồ về chỗ
nằm ngủ. Trời gần sáng, pháp sư gọi dậy, lấy nước,
lót lòng, rồi sắp đi thì người Hồ nói, đường đi nguy
hiểm, xa xôi, nước không, cỏ chẳng có, chỉ nơi 5 đồn
canh mới có nước. Ðồn nào cũng phải ban đêm lén đến
mới lấy được nước, và có nước mới qua được sa mạc
này. Nhưng bị phát giác thì chết. Ðệ tử nghĩ chẳng bằng
quay về thì hơn. Pháp sư không chịu nên người Hồ miễn
cưỡng mà đi. Ðược vài dặm, đứng lại, nói, đệ tử
không thể đi được. Ðệ tử còn gánh nặng gia đình, phép
vua lại không thể vi phạm. Pháp sư biết ý, bảo cứ về.
Người Hồ nói, chắc chắn pháp sư không qua khỏi, bị bắt
rồi khai đến con thì sao ? Pháp sư nói, thân này bị xả nhỏ
ra tôi cũng không khai đến anh. Pháp sư thề thốt nặng lời,
người Hồ mới yên bụng lui về, sau khi giao lại cho pháp
sư một con ngựa.
Vậy là pháp
sư đơn độc đi vào sa mạc. Chỉ nhìn xương người hay phân
ngựa mà đi. Một lát bỗng có mấy trăm quân binh đầy cả
trước mắt, thoáng đi thoáng ngừng, người ngựa cờ xí biến
ảo liền liền, nhìn xa rất rõ, đến gần lại tan. Pháp sư
mới nhìn tưởng trộm cướp, đến gần mới biết quái dị.
Nhưng nghe trong không gian có tiếng nói, bảo cứ đi, đừng
sợ. Ði được 80 dặm thì thấy đồn canh thứ nhất. Sợ
lính canh nhìn thấy nên pháp sư núp vào hố cát, đến đêm
mới đi. Khi đến phía tây đồn canh, thấy nước, pháp sư
xuống uống, rửa tay, và sắp sửa lấy nước thì một mũi
tên bay vút đến, xuýt trúng đầu gối. Thoáng cái có một
mũi nữa. Biết đã bị phát giác, pháp sư kêu lớn, xin đừng
bắn, tôi là tăng sĩ. Rồi dắt ngựa đi vào đồn canh. Binh
sĩ điệu vào gặp hiệu úy Vương Tường. Nhưng chính nhờ
viên hiệu úy này giúp đỡ mà pháp sư đến được đồn
canh thứ tư. Viên hiệu úy ở đây nghe có lời Vương Tường
nên hoan hỷ, mời ngủ lại, lại biếu túi da lớn để đựng
nước và biếu lúa mạch cho ngựa ăn, tiễn pháp sư và dặn
đừng đi về phía đồn canh thứ năm. Viên hiệu úy ở đó
có thể hại ngài. Từ đây đi cỡ trăm dặm thì có suối
Dã mã, ngài hãy lấy thêm nước ở đó.
Vậy là pháp
sư đi vào đại sa mạc mông cổ. Ðại sa mạc này dài hơn
800 dặm. trên không có chim bay, dưới không có thú chạy. Nước
không có, cỏ cũng không. Bấy giờ pháp sư một mình một
ngựa, chỉ niệm đức Quan âm và bài Tâm kinh mà đi. Hồi
trước, khi còn ở đất Thục, pháp sư gặp một bịnh nhân,
ghẻ lở hôi thối dơ bẩn, áo quần rách rưới dơ dáy. Pháp
sư đưa về chùa, tặng quần áo, biếu thực phí. Bịnh nhân
cảm kích, truyền thọ bài kinh ấy cho pháp sư. Nhân đó pháp
sư đã thường trì tụng. Bây giờ đi vào đại sa mạc, gặp
bao nhiêu hiện tượng quái dị vây bọc trước sau, pháp sư
niệm bài kinh này thì tan biến liền liền. Bao nhiêu nguy khốn
mà pháp sư phải gặp, thật do bài kinh này cứu độ.
Pháp sư đi
cỡ trăm dặm thì lạc đường, tìm suối Dã mã không thấy.
Lấy túi nước xuống để uống thì lỡ tay đổ cả. Vật
độ mạng trên đường ngàn dặm, thoáng cái sạch hết ! Vậy
mà còn lạc đường đến nỗi quanh quẩn không biết nên đi
theo ngã nào. Pháp sư nghĩ quay lại hướng đông, chỗ đồn
canh thứ tư đã. Nhưng đi hơn mươi dặm, pháp sư tự nghĩ,
mình đã nguyện không đến xứ Phật thì không lui về hướng
đông một bước, sao nay quay về. Thà đi hướng tây mà chết,
chứ không quay về hướng đông để sống. Trở ngựa lại,
pháp sư chuyên tâm niệm đức Quan âm mà đi tới hướng tây
bắc. Bấy giờ bốn bề cát nóng mênh mông, người ngựa đều
lả. Ðêm thì yêu quái nhấp nháng như sao, ngày thì cuồng
phong cuốn cát lên, tung bay như mưa mùa. Pháp sư không nao núng
gì cả, chỉ khổ vì khát quá, không đi được nữa. Ðã 4
đêm 5 ngày rồi, pháp sư không có một giọt nước thấm môi.
Cổ, miệng và bụng khô nóng gần chết. Quị xuống mặt cát
nóng rát dưới cái nắng sa mạc mà pháp sư vẫn thầm niệm
đức Quan âm, khốn đốn đến thế mà không ngừng, thầm
bạch rằng con đi đây không cầu lợi lộc, không mong danh
vọng, chỉ vì phật pháp vô thượng mà thôi. Bồ tát là đấng
từ bi, thương người mà cứu khổ. Con thế này là đang khổ
đây, lẽ nào ngài không biết. Pháp sư tác bạch như vậy
và không ngừng niệm danh hiệu của ngài. Nửa đêm hôm ấy
là đêm thứ năm, đột nhiên có luồng gió mát thổi đến
thân thể pháp sư. Pháp sư lắng nghe mát như tắm nước lạnh.
Nhờ vậy mà sáng mắt, ngựa cũng dậy được. Cơ thể đã
thư, pháp sư thiếp được mọt lát, mộng thấy vị thần
cao lớn, bảo sao không gắng dậy mà đi, lại nằm như thế
này. Pháp sư hoãng dậy, đi được mươi dặm thì đột nhiên
ngựa rẽ qua ngã khác, kéo lại cũng không chịu. Ði vài dặm
bỗng thấy cả mẫu cỏ xanh. Pháp sư cho ngựa ăn, và đi mươi
bước thì thấy một ao nước, trong và ngọt. Uống rồi người
ngựa đều khoẻ, nghỉ lại một ngày. Hôm sau múc nước lấy
cỏ và đi tới. Hai ngày sau nữa pháp sư mới ra khỏi sa mạc
(Chính 50/223)
... Lại đến
nước Y lan noa bát phạt đa. Trên đường đến đó có già
lam Ca bố đức. Phía nam già lam này, cách vài ba dặm, có hòn
núi đơn độc, cây cao cỏ tốt, lá rậm hoa thơm, ao trong suối
đẹp. Núi là thắng cảnh mà lại có chùa thiêng, cảm ứng
thần kỳ. Tinh xá chính giữa có ngôi tượng Quan âm bằng
gỗ đàn hương, uy thần đặc tôn. Thường có vài mươi người,
trong một hay hai tuần không ăn cơm, không dùng cả nước có
thực phẩm nghiền nát, thành tâm cầu nguyện. Ai chân thành
thì cảm ứng. Và cảm ứng luôn, nên người đến càng đông.
Người trong chùa sợ tượng bị bẩn, nên bốn phía cách tượng
chừng 7 bước, dựng lan can gỗ. Ai đến cũng triều bái ở
ngoài lan can. Hoa hương hiến cúng cũng từ ngoài tung vào. Hoa
của ai nằm trong tay hay mắc vào cánh tay của Bồ tát thì
được cát tường.
Pháp sư
cũng đến cầu nguyện. Mưa hoa xâu thành vòng, pháp sư
đến chỗ tôn tượng, chí thành bái tán dương rồi, quì xuống
cầu nguyện ba điều. Một, tại đất ấn độ này con học
tập xong rồi, về nước mà được an toàn thì xin hoa nằm
trong bàn tay của ngài. Hai, bao nhiêu phước tuệ có được,
con nguyện xin Ðâu suất nội viện, phụng sự Di lạc từ
tôn, nguyện này như ý thì xin hoa mắc vào cánh tay của ngài.
Ba, giáo lý có chỗ nói chúng sanh có một số không có Phật
tánh, nay con xin nghi hoặc, không rõ có hay không có ; nếu một
số ấy cũng có phật tánh, có thể tu hành thành phật, thì
xin hoa mắc vào cổ của ngài. Tác bạch rồi, pháp sư tung
hoa vào, được đúng cả như lời cầu nguyện. Pháp sư hoan
hỷ hết sức. Những người lễ bái và người trong chùa ai
cung vỗ tay, dậm chân, mà nói thật là chưa từng có... (Chính
50/239)
... Từ biệt
rồi, pháp sư yên lặng, chánh niệm, miệng tụng : sắc không,
thọ tưởng hành thức cũng không, nhãn giới không, cho đến
ý thức giới cũng không, vô minh không, cho đến lão tử cũng
không, thậm chí bồ đề cũng không... Ðệ tử Ðại thừa
quang hỏi pháp sư chắc chắn được sinh Di lạc nội viện
không, pháp sư nói chắc chắn. Nói rồi, hơi thở nhẹ dần,
một lát pháp sư mất mà nhẹ nhàng đến nỗi thị giả cũng
không biết liền... (Chính 50/277)
Sử truyện
của ngài Huyền tráng đến nay đà được dịch ra nhiều thứ
tiếng. Học giả ra sức khảo chứng càng không ít. Trong bao
nhiêu nguy khốn ngài trải qua có sa mạc Gobi. Ở đó ngày nay
không nói cuồng phong cuốn cát lên như mưa mùa mà nói là
bão cát. Cũng ngày nay, phi cơ loại trung bình bay trên vùng
trời sa mạc này vẫn dồi sốc rất khó chịu. Nên học giả
thế giới đã vẫn còn khiếp phục ngài Huyền tráng, nhận
rằng phi sức mạnh tôn giáo thì không dễ gì vượt qua bao
nhiêu nguy khốn mà ngài đã gặp. Oai linh của đức Quan âm,
và của bài Tâm kinh mà đức Quan âm tuyên thuyết, chính cuộc
đời và công nghiệp của ngày Huyền tráng là một minh chứng.
2. Lược
nói Bát nhã và Không của Bát nhã trong A Hàm.
2.1 Bát
nhã trong A Hàm
Trong bộ
A Hàm, chánh tri kiến chính là bát nhã. Chánh tri kiến gọi
tắt là chánh kiến, có nghĩa là thấy biết chính xác. Nên
chánh tri kiến cũng gọi là như thật tri kiến hay như thật
tri, có nghĩa thấy biết đúng như sự thật. Và tri kiến mà
chánh, mà như thật, thì có nghĩa vô đắc : không thủ đắc.
Trưởng giả Cấp cô độc hằng ngày đến yết kiến đức
Thế tôn. Một hôm ra đi hơi sớm, trưởng giả ghé vào tinh
xá của ngoại đạo. Hai bên chào hỏi nhau rồi, các vị ngoại
đạo hỏi trưởng giả, ông yết kiến đức Cù đàm mà thấy
biết những gì ? Trưởng giả thưa, xin quí vị nói sự thấy
biết của quí vị rồi tôi sẽ thưa sự thấy biết của tôi.
Các vị ấy nói những sự thấy biết của mình : đối với
thế giới thì thấy cố định hay thấy chuyển biến, thấy
hữu hạn hay thấy vô hạn, đối với sinh mạng và bản thân
thì thấy đồng nhất hay thấy biệt lập, đối với sự diệt
khổ rồi thì thấy vĩnh cữu hay thấy hư vô. Vị nào cũng
nói cái mình thấy biết là chân lý, ngoài ra đều là tà ngụy
cả, và bảo trưởng giả hãy nói sự thấy biết của ông.
Trưởng giả thưa, cái tôi thấy biết là duyên khởi (tương
quan) : thấy biết duyên khởi thì đối với mọi sự thấy
biết đều không thủ đắc ( Tạp chính 2/248, lược dịch)
Thấy biết
như vậy là thanh tịnh kiến : thấy biết trong sáng. Thấy
biết trong sáng là thấy Không ; Không ấy là Thánh pháp ấn
: ấn tín của Phật đối với vạn hữu (Tăng, Chính 2/20).
2.2 Không
trong bộ A Hàm
Trước đây
hay nói Không của tiểu thừa là phân tích không, nói Không
của đại thừa là đương sinh vô sinh, lại nói không của
tiểu thừa là không trong 4 hành tướng vô thường khổ không
vô ngã. Nhưng cách nói như vậy xét ra thật là võ đoán. Bởi
vì tập Tạp a hàm đã nói minh bạch, rằng không là tánh
tự nhĩ : thực chất tự như thế (Chính 2/56). Kinh ấy còn
nói không phải tự sinh, tha sinh, cọng sinh, vô nhân sinh (Chính
2/81 và 93). Vậy thì Không không phải chỉ là không trong 4
hành tướng, mà Không là căn bản của tất cả các lý, hạnh,
quả, là Không tam muội.
Về Không
là căn bản của tất cả lý hạnh quả thì hãy tham cứu hai
bài kinh chuyên nói về Không trong Trung a hàm (Chính 1/736-740)
; 2 bài kinh này nếu không biết đến thì đừng nói gì về
Không cả. Còn Không là Không tam muội thì như Phật nói với
tôn giả Xá lợi phất, Không tam muội là rất bậc nhất...
Không tam muội thì không chấp ngã nhân, thọ mạng, không chấp
chúng sinh, không chấp các hành nên không tạo nghiệp mới,
không tạo nghiệp mới nên không còn hậu hữu, không còn hậu
hữu thì không có quả báo khổ vui của thế gian. Xá lợi
phất, khi ta chưa được tuệ giác Phật đà, ngồi dưới bồ
đề đại thọ nghĩ rằng chúng sinh vì không được phương
pháp gì mà phải lưu chuyển sinh tử, không được giải thoát
? Ta lại tự nghĩ, chúng sinh vì không có Không tam muội nên
lưu chuyển sinh tử mà không cứu cánh giải thoát... Ðược
Không tam muội thì được vô nguyện tam muội, được Vô tướng
tam muội ; được Không tam muội thì thành tựu vô thượng
giác. Lúc bấy giờ ta được Không tam muội nên 7 ngày đêm
ta nhìn bồ đề đại thọ không nháy mắt. Xá lợi phất,
do vậy mà biết Không tam muội là Tam muội bậc nhất ; tam
muội chúa tể chính là Không tam muội (Tăng, Chính 2/773)
Không tam
muội còn được gọi là Thượng tọa thiền (Tạp, Chính 2/57).
Ðại sĩ thiền của kinh này nói (Chính 2/236) cũng thực sự
là Không tam muội. Vô tránh đạo của ngài Tu bồ đề chính
là thực hành chân thực không (Trung, Chính 1/703). Không, như
vậy, là tâm trí không đi theo 2 cực đoan, nên chánh hướng
trung đạo (Tạp, chính 2/84)
2.3. Chánh
tri kiến và Không tam muội như vậy hủy diệt cái gì ?
Cái ấy,
hay nói đến nhất là ngã và ngã sở, nhưng hay nói đến hơn
là 2 chấp có và không. Có và không, không phải chỉ là hai
cực đoan, hai phạm trù khẳng định và phủ định, mà Tăng
a hàm giải thích thật đặc biệt : Ðức thế tôn nói với
các vị tỷ kheo, có hai sự thấy là thấy có với thấy không.
Thấy có là thế nào ? Là thấy có dục có sắc có vô sắc
- Thấy có dục là 5 dục : mắt thấy sắc thì rất ưa, quí
và nhớ, chưa bao giờ rời bỏ mà cứ tôn thờ mãi ; tai nghe
tiếng, mũi ngửi hơi, lưỡi biết mùi, thân biết xúc, ý biết
pháp (cũng như vậy), và đó gọi là thấy có. Thấy không
là thế nào ? Là thấy có thường, thấy không thường, thấy
có đoạn thấy không đoạn, thấy có biên thấy không biên,
thấy có mạng thấy không mạng, thấy thân mạng khác nhau
thấy thân mạng là một, (và) 62 sự thấy (xuất từ các sự
thấy) như trên gọi là thấy không, và toàn là không phải
sự thấy chính xác (Chính 2/577). Do đó luận Du đà đã nói
: Không tam muội là tâm trí chuyên nhất quán sát về Không
và Không ấy đại khái có 4. Một là quán sát không : quán
sát các pháp không thường, không lạc, cho đến không tự
ngã, không ngã sở... Hai là kết quả không : tâm trí giải
thoát, không mọi phiền não tham sân si... Ba là bên trong không
: không bản thân, nghĩa là không có mọi cố chấp lệch lạc
về tự ngã, ngã sở, ngã mạn... Bốn là bên ngoài không :
không ngũ dục, nghĩa là không ái không dục đối với ngũ
dục ấy (Chính 30/337).
2.4. Không
như vậy vì sao có thể thực hiện ?
Vì như Trung
a hàm đã nói : Nếu có ai nói một cách đúng đắn để nói
cái điều sáng suốt này : tất cả chúng sinh sinh ra ở đời
thực chất đều siêu việt, không bị đau khổ hay khoái lạc
khuất lấp, thì người ấy chính là ta đây - bởi vì chính
ta nói đến cái điều sáng suốt này : tất cả chúng sinh
sinh ra ở đời thực chất đều siêu việt, không bị đau
khổ hay khoái lạc khuất lấp (Chính 1/680). Tạp a hàm còn
nói rõ : Không phải giác quan buộc đối cảnh hay đối cảnh
buộc giác quan, mà sự buộc chỉ là tham dục ; ví như hai
con bò, chẳng con nào buộc con nào, mà buộc cả hai con chính
là cái ách (Chính 2/60).
Pháp thoại
sau đây càng nên chú ý. Ma la ca thưa, bạch đức thế tôn,
con già cả, giác quan suy tàn, nhưng vẫn muốn được nghe đức
Thế tôn cho con một lời dạy tóm tắt. Con nghe rồi sẽ tính
chuyên tư duy, cho đến tự biết không còn hậu hữu. Ðức
thế tôn bảo thôi. Ma la ca vẫn cầu thỉnh lần thứ hai, rồi
lần thứ ba. Bấy giờ đức Thế tôn mới nói, ... thấy là
thấy, nghe là nghe, hay là hay, biết là biết, và nói chỉnh
cú sau đây : cái này không phải cái kia, cái kia không phải
cái này, cũng không phải giữa hai cái, đó là biên cương
đau khổ (đau khổ chấm dứt). Ma la ca thưa, con biết rồi
bạch đức Thế tôn, con hiểu rồi bạch đức Thiện thệ
! Ðức Thế tôn hỏi, ông hiểu biết thế nào ? Ma la ca thưa
lại bằng lời chỉnh cú (lược dịch) : sáu giác quan thấy
nghe hay biết sáu đối cảnh mà không chánh niệm thì nổi
tham sân si, nếu chánh niệm thì không tham sân si : đó là niết
bàn. Rồi đó Ma la ca bất phóng dật mà tinh chuyên tư duy và
thành bậc la hán (Tạp, Chính 2/90).
2.5. Như
vậy thì vì "không" mới "có"
Không, như
vậy, thực chất là đem cái tâm vốn không mà quán sát các
pháp vốn không (tạp, Chính 2/72). Không, như vậy, không phải
đoạn kiến : không phải phủ định, hoài nghi, nên Tạp a
hàm (Chính 2/92) đã nói : các tỷ kheo, có nghiệp báo mà không
có tác giả ; có hành vi mà không có cái gọi là chủ thể
(bản ngã). Trường a hàm nói càng rõ ràng và đủ hơn : Như
lai sử dụng phương tiện, nói các pháp mà không thủ đắc,
nói sạch không mà có thành tựu (Chính 1/35). Như vậy đúng
là dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thế pháp đắc thành" (Trung
luận, Chính 30/33). Nên phải chiêm nghiệm lời dạy đầy tích
cực sau đây của Phật: cái thân vô thường mà ông cho là
tự ngã đó, ta nói nó là ô nhiễm, là thanh tịnh, là giải
thoát. Ông đừng nói ô nhiễm không thể diệt trừ, thanh tịnh
không thể phát sinh, con người phải ở mãi trong sự đau khổ
; đừng nói như vậy, vì ô nhiễm có thể diệt trừ, thanh
tịnh có thể phát sinh, con người có thể ở trong an lạc
(Trường, Chính 1/112)
3. Lược
nói Bát nhã và Không của Bát nhã trong đại thừa.
3.1. Bát
nhã là phật mẫu.
Trong đại
thừa, bát nhã là Phật mẫu : mẹ sinh của Phật. Mà là Phật
mẫu thì cũng là Pháp mẫu : mẹ sinh của Pháp. Nên ngay như
kinh Pháp hoa, căn bản cũng là Bát nhã : là phật tri kiến.
Như lai toà trong 3 pháp của pháp sư Pháp hoa, phần hai của
hành xứ cận xứ trong an lạc hành, đều là Bát nhã và Không
của Bát nhã. Hơn nữa, thọ lượng bất tận của Phật mới
chính là Bát nhã : Như lai đúng như sự thật của 3 cõi mà
thấy ba cõi không sinh không chết, không lui mất không hiện
ra, không tồn tại không nhập diệt, không thật không giả,
không như nhau không khác nhau.
3.2. Bát
nhã là chủ đạo của Bồ tát hạnh.
Bồ tát
hạnh có 6 đại mục gọi là 6 ba la mật. Ba la mật có nghĩa
là rời, không phải chỉ nghĩa là đến : rời bờ bến bên
này mà vượt đến bờ bến bên kia, nên dịch nghĩa là đáo
bỉ ngạn, dịch tắt là độ. Như vậy ba la mật có nghĩa
là toàn hảo. Sáu sự toàn hảo là thí giới nhẫn tiến định
tuệ (cống hiến, đạo hạnh, chịu đựng, nỗ lực, chuyên
chú, tuệ giác). Sáu sự này là nhân tố của tuệ giác vô
thượng, là nhân tố đem lại mọi sự toàn hảo cho chúng
sinh, nên gọi là Biển cả pháp trắng (Du đà, Chính 30/529).
Sáu ba la
mật được gọi bằng cái tên ấy là vì những sự hơn hết
: vì bồ đề tạm làm chỗ nương tựa, vì thực thi đủ hết
mọi sự, vì lấy sự yên vui chúng sinh làm chủ đề, vì được
sự chủ đạo của vô phân biệt trí (bản thân của Bát nhã),
vì hướng đến tuệ giác vô thượng, vì hủy diệt phiền
não chứng và sở tri chướng (nhiếp luận, Chính 31/144). Nhưng
6 ba la mật trong vô số kiếp thứ nhất, nghĩa là từ thắng
giải hành địa đến sơ địa, mới được gọi là ba la mật
; rồi qua vô số kiếp thứ hai, nghĩa là từ sơ địa đến
bát địa, thì được gọi là cận ba la mật; và đến vô
số kiếp thứ ba, nghĩa là từ bát địa đến Phật địa,
thì được gọi là đại ba la mật (Giải thâm mật, chính
16/707). Trước 3 vô số kiếp thì chỉ được gọi là thí
giới nhẫn tiến định tuệ mà thôi. Tu học 6 ba la mật thì
phải bằng năm sự : một là trước hết tin mạnh mẽ và
hiểu thông suốt những giáo lý trong bồ tát tạng nói về
6 ba la mật, hai là đem cái diệu trí được có bởi văn tư
giáo lý ấy mà nỗ lực thực hành, ba là giữ bồ đề tâm,
bốn là gần thiện tri thức, năm là nỗ lực liên tục (giải
thâm mật, Chính 16/707)
Bát nhã
(tuệ) tuy là 1 trong 6 ba la mật, nhưng cái vô phân biệt trí
làm chủ đạo cả 6 ba la mật chính là Bát nhã, nên Bát nhã
được tôn kính nhất.
3.3. Bát
nhã là gì ?
Nếu bồ
tát rời xa hai cực đoan thêm (có) và bớt (không) mà đi trong
trung đạo, thì đó là Bát nhã. Do Bát nhã này mà biết đúng
sự thật về giải thoát là 3 giải thoát môn, về tự tánh
là 3 tự tánh, về vô tánh là 3 vô tánh, về thế tục đế
là 5 minh xứ, và về thắng nghĩa đế là 7 chân như (Giải
thâm mật, chính 16/706). Năm sự biết đúng như sự thật này
diễn dịch 3 loại sau đây mà 3 loại ấy lại đủ hơn nhiều
: bát nhã biết thế tục đế, bát nhã biết thắng nghĩa đế,
bát nhã biết ích lợi chúng sinh (Giải thâm mật, Chính 16/705).
Trong cái biết thế tục đế, Du dà thêm biết 3 pháp tụ :
biết cái gì hữu ích cái gì vô ích, cái gì cả hai ; còn
cái biết ích lợi chúng sinh thì Du dà nói là làm được mọi
ích lợi chúng sinh (Chính 30/528). Nhưng 5 sự biết đúng như
sự thật và ba loại biết trên đây được qui nạp như sau
: Bát nhã có 3 phần, một là da hành vô phân biệt trí, là
phần nỗ lực ; hai là căn bản vô phân biệt trí, là phần
bản thân ; ba là hậu đắc vô phân biệt trí, là phần hoạt
dụng (Nhiếp luận, Chính 31/145).
3.4. Không
của Bát nhã.
Không của
Bát nhã thường được gọi là tánh không. Không ấy, nay căn
cứ Trung luận, có thể trình bày bằng 3 cách sau đây.
Một, đương
sinh vô sinh nên Không, là chính nơi các pháp đương sinh đương
có trước mắt mà xét sự sinh ấy là vô sinh, vì không phải
tự sinh, không phải tha sinh, không phải cọng sinh, không phải
vô nhân sinh (Chính 30/2).
Hai, duyên
sinh nên Không, là trong nguyên lý tương quan, cái này có
thì cái kia có, cái này không thì cái kia không, nên nói duyên
sinh là không là giả là trung đạo (Chính 30/33).
Ba, và đây
mới chính xác, Không là ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ
diệt, -Không là không sinh diệt, không thường đoạn, không
nhất dị, không lai xuất : nói duyên sinh một cách siêu việt
hý luận như vậy (Chính 30/1)
3.5. Tác
dụng Không của Bát nhã.
Không như
vậy là hủy diệt tà kiến và thành tựu các pháp. Tà kiến
là 62 tà kiến (Chính 30/36). Tà kiến ấy có thứ phá hoại
yên vui thế gian, có thứ phá hoại đường đi niết bàn, và
tất cả đều bị Không huỷ diệt (Chính 30/30). Không mà như
vậy thì chính vì Không mà các pháp thành tựu (Chính 30/33).
3.6. Sau hết
cũng nên biết tu học Bát nhã thì sinh ở đâu.
Phật đã
dạy như sau, trong kinh Ðại Bát nhã : sống theo Bát nhã thì
từ cõi Phật đến cõi Phật, không tách rời Phật (Chính
8/225). Từ cõi Phật đến cõi Phật, câu ấy có 2 nghĩa. Một,
ngay trong đời này mà tu tập Bát nhã là sống trong Bát nhã
ấy, nghĩa là sống trong cõi Phật ngay trong cõi đời
ấy, rồi các đời sau cũng tự tiếp tục như vậy. Hai, do
sự sống trong cõi Phật ngay trong cõi đời này mà đời sau
sinh ra ở đâu cũng nhằm cõi Phật cả, trong có các cõi Phật
của đức Di đà và đức Di lạc. Thành thật luận nói, chúng
sinh có 4 : có người từ chỗ tối đến chỗ tối, có người
từ chỗ tối đến chỗ sáng, có người từ chỗ sáng đến
chỗ tối, có người từ chỗ sáng đến chỗ sáng. Từ cõi
Phật đến cõi Phật là tữ chỗ sáng đến chỗ sáng, mà
là chỗ sáng nhất.
4. Lược
nói Bát nhã và Không của Bát nhã trong Tâm kinh.
Mặc dầu
Tâm kinh chỉ là một bài kinh thuộc bộ Bát nhã, nhưng quả
thật có những độc đáo rõ rệt, không thể không nói riêng
ra. Thêm nữa, tiểu mục này tuy tiêu đề nói về Bát nhã
và Không của Bát nhã, nhưng không thể không nói những độc
đáo của Tâm kinh mà làm nổi bật được 2 điều này.
4.1. Sự
độc đáo thứ nhất của Tâm kinh là nói về cái Không siêu
việt.
Nếu có
thể nói có cái Không biện chứng và cái Không siêu việt,
thì Tâm kinh biểu thị cái Không siêu việt nhiều hơn.
Cái Không
siêu việt là gì ? Là cái Không trong cách trình bày thứ 3
của tiểu mục 3. Cái Không ấy là ngôn ngữ đoạn đạo,
tâm hành xứ diệt : là siêu việt tư duy và thảo luận, là
bất khả tư nghị. Cái Không ấy được Tâm kinh nói là bất
sinh bất diệt, bất tăng bất giảm. Không ấy Pháp hoa và
Trung luận gọi là thật tướng, Thiền tông gọi là bản địa
phong quang.
Cái Không
của Tâm kinh như vậy thì Bát nhã của Tâm kinh phải là vô
phân biệt trí, và Thiền tông thì trực hạ thừa dương.
4.2. Sự
độc đáo thứ hai của Tâm kinh là nói Bát nhã là một bài
chú.
Hai bản
dịch sớm nhất của Tâm kinh là của ngài Chi khiêm, đề Ma
ha bát nhã ba la mật chú kinh, và của ngài La thập, đề Ma
ha bát nhã ba la mật đại minh chú kinh. Rồi chính bản đối
phiên chữ đâu nghĩa đó của ngài Huyền tráng cũng không
dịch 4 tên chú mà dịch : Thế nên phải biết bài chú vĩ
đại Bát nhã ba la mật (là) bài chú đại minh, bài chú vô
thượng, bài chứ vô đẳng đẳng (Chính 8/852) ; nghĩa là Bát
nhã được gọi là đại chú : bài chú vĩ đại. Sau hết,
quan sát sơ hay kỹ gì cũng thấy rõ ràng Tâm kinh cốt nói
Bát nhã là một bài chú : không những câu chú cuối cùng là
một bài chú, tất cả hiển ngữ và mật ngữ của Tâm kinh
toàn là bài chú của Bát nhã.
4.3. Sự
độc đáo thứ ba của Tâm kinh là đem Bát nhã và Không của
Bát nhã làm thành một cảnh ngữ để tu học Bát nhã.
Câu mật
ngữ của bài chú Bát nhã trong Tâm kinh chính yếu là chữ
Yết đế. Theo sự giải thích của ngài Pháp tạng (Chính 33/555),
chữ Yết đế ấy dịch là khứ, là độ. Khứ là đi tới
đi, độ là vượt qua đi. Ði tới đi, vượt qua đi, chính
là không ái, Không thủ : là Không, là Bát nhã. Nên đi tới
đi, hay vượt qua đi là biến Bát nhã và Không của Bát nhã
thành một cảnh ngữ trong cuộc sống : phóng hạ tất cả,
thoát lạc hết thảy, không vướng mắc, không khiếp sợ,
không thác loạn, người tu học Bát nhã sống với bản địa
phong quang, chánh kiến và thiện dụng toàn bộ cuộc sống.
5. Lược
nói các pháp số trong Tâm kinh.
Tâm kinh
có các pháp số sau đây : 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 12 duyên
sinh, 4 đế, 2 chuyển y. Nên lược nói trước ở đây về
các pháp số này.
5.1. Về
5 uẩn.
Uẩn, cũng
gọi là ấm. Nhưng đó là thường đọc. Ðọc đúng theo 2
vị đại sư Tịnh ảnh và Khuy cơ thì đọc âm, nghĩa như
chữ âm trong âm dương : âm tích, âm tụ. Như vậy âm cũng
là uẩn, và có thể đổi chữ mà nói là hợp thể. Năm uẩn
chính là thân tâm (và cũ trụ của thân tâm) chúng ta đây.
Sắc uẩn bao gồm tất cả vật lý của cơ thể và ngoại
cảnh. Thọ uẩn bao gồm tất cả cảm giác của cơ thể và
tâm trí. Tưởng uẩn bao gồm tất cả ấn tượng, liên tưởng.
Hành uẩn bao gồm tất cả tâm sở khác ngoài 2 tâm sở thọ
và tướng. Thức uẩn bao gồm tất cả tâm vương. Như vậy
pháp số 5 uẩn thu gọn sắc mà mở rộng tâm.
5.2. Về
12 xứ
Cũng gọi
là lục nhập : 6 căn giao tiếp 6 cảnh nên gọi 6 nhập, và
6 nhập, như vậy, tức là 12 xứ. Xứ là sinh xứ : chỗ giúp
cho 6 thức phát sinh. Trong 12 xứ, trừ phần tâm của pháp xứ
và trừ ý xứ, tất cả 10 xứ còn lại và phần sắc của
pháp xứ đều là sắc uẩn. Như vậy pháp số 12 xứ thu gọn
tâm mà mở rộng sắc.
5.3. Về
18 giới
Giới ở
đây nghĩa là chủng loại : 6 căn, 6 cảnh và 6 thức phân thành
từng chủng loại. Từng chủng loại còn được kê nhãn giới,
sắc giới, và nhãn thức giới, cho đến ý giới, pháp giới
và ý thức giới. Như vậy pháp số 18 giới quân bình tương
đối về sắc và tâm.
Các pháp
số 5 uẩn, 12 xứ và 18 giới hay gọi là 3 khoa. Lại hay nói
5 uẩn phá ngã chấp. Nhưng luận Ðại thừa ngũ uẩn nói :
hỏi, vì gì Phật nói uẩn xứ giới ? Ðáp, vì, theo thứ tự,
đối trị 3 thứ ngã chấp : nhất tánh ngã chấp, thọ giả
ngã chấp, tác giả ngã chấp (ch 31/850).
5.4. Về
12 duyên sinh
Có người
nói vốn chỉ có 10. Nói như vậy thì hơi lạ, vì đã có ái
với thủ thì làm sao không có vô minh và hành ? Duyệt lại
A hàm thì thấy pháp số 12 duyên sinh quan trọng không nhỏ,
nhất là đối với vấn đề luân hồi và giải thoát. Biết
đúng sự thật về 12 duyên sinh là tuệ giải thoát, hữu ngã
cũng biết, vô ngã cũng biết, hữu ngã vô ngã cũng biết,
phi hữu ngã phi vô ngã cũng biết ; như lai hữu chung cũng biết,
như lai vô chung cũng biết, như lai hữu chung vô chung cũng biết,
như lai phi hữu chung phi vô chung cũng biết (Trường, Chính
1/61). Nhưng biết chứ không phải ký (ghi nhận), và vì sao
không ký thì Phật đã nói rõ trong Trung a hàm và Trường a
hàm (Chính 1/804 và 111).
5.5. Về
4 đế
Ðế chính
là chân lý. Xét ra 4 đế mới thật đặc hữu của Phật giáo
từ danh đến nghĩa. Nên 4 đế cực kỳ đơn giản mà cũng
cực kỳ bao la. Cứ nhìn mục lục của những đại tác như
Thành thật luận hay Câu xá luận, thấy chỉ nói về 4 đế,
cũng đủ biết đặc tính này.
5.6. Về
2 chuyển y
Là
đại niết bàn và đại bồ đề. Gồm cả 2 chuyển y thì
gọi là Phật quả. Cả hai chuyển y đều là kết quả của
Bát nhã.
Ðại niết
bàn
Ðại niết
bàn là :
§ tánh tịnh
niết bàn (chân như bản lai thanh tịnh),
§ hữu dư
niết bàn (chân như xuất phiền não tướng),
§ vô dư
niết bàn (chân như xuất sinh tử khổ),
§ vô trú
niết bàn (chân như xuất sở tri chướng). Vô trú niết bàn
được đại bi đại trí vĩnh viễn phụ lực nên không ở
sinh tử không ở niết bàn, lợi lạc chúng sinh, tận cùng
vị lai dụng mà thường tịch (thành duy thức, Chính 31/55)
Ðại bồ
đề
Ðại bồ
đề là:
§ đại
viên cảnh trí (chuyển hệ bát thức),
§ bình đẳng
tánh trí (chuyển đệ thất thức),
§ diệu
quán sát trí (chuyển đệ lục thức),
§ thành
sở tác trí (chuyển tiền ngũ thức) (Thành duy thức, Chính
31/56 và 57).
Bốn trí
này phối nhiếp 3 thân, nên đại bồ đề có chỗ nói về
3 thân (Nhiếp luận, Chính 31/149).
Ðiều nên
nói thừa ở đây, là trong A hàm, niết bàn là gì thì có vẻ
diễn tả bằng sự không diễn tả. Ðến đại thừa thì,
như trên, nói rất minh bạch, và minh bạch nhất là vô trú
niết bàn.
tâm kinh
chữ tắt
dùng trong bản lược giải
Xuất
xứ một đoạn văn của kinh Ðại bát nhã (Chính 8/223 và 5/22)
Khiêm
dịch bản dịch của ngài Chi khiêm (đã mất chỉ còn đầu
đề)
Thập
dịch bản dịch của ngài La Thập
Ðối
phiên bản dịch chữ đâu nghĩa đó của ngài Huyền Tráng
(Chính 8/851).
Hộ
dịch bản dịch của ngài Thi hộ (Chính 8/852)
Chính
Ðại tạng kinh bản Ðại chính tân tu
Vạn
Tục tạng kinh bản chữ Vạn
T
â m k i n h lược giải
I.
Mở đầu
Thần chú
Bát nhã
Bài kinh
tinh túy của đại bát nhã (1):
Quan tự
tại (2) đại bồ tát đã đi vào Bát nhã ba la mật đa sâu
xa (3), soi thấy năm uẩn (4) đều không (5), vượt mọi
khổ ách (6).
1. Hoa văn
đầu đề Tâm kinh là Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh, dịch
đủ là bài kinh (kinh) nói về tinh túy (tâm) của đại trí
độ (ma ha bát nhã ba la mật đa). Nhưng tôi ngờ tâm là chú
tâm (tinh túy của thần chú). Nếu ngờ như vậy là đúng,
thì đầu đề Tâm kinh có thể thêm như sau : Ma ha bát nhã
ba la mật đa chú tâm kinh, bài kinh nói về tinh túy của thần
chú đại trí độ, Rất rõ ràng Tâm kinh cốt nói về thần
chú Bát nhã, cốt nói Bát nhã là thần chú, nên đầu đề
có thể theo 2 bản Khiêm dịch và Thập dịch mà thêm như vậy.
2. Quan tự
tại là đức Quan âm.
3. Bát nhã
ba la mật đa sâu xa là Bát nhã đại ba la mật , thuộc vô
số kiếp thứ ba.
4. thấy
năm uẩn là thấy tất cả các pháp qua pháp số 5 uẩn, hơn
nữa, 5 uẩn nói sát thân tâm và thế giới của thân tâm chúng
ta đây.
5. đều
không Không ở đây là thật tướng không, cái không siêu việt
mà mục 2 sẽ nói.
6. vượt
mọi khổ ách là câu mà một số bản dịch không có. Không
có thì già dặn và đầy đủ hơn, bởi vì cắt nghĩa chữ
khổ ách sâu rộng đến mấy, Bát nhã cũng không phải chỉ
vượt qua khổ ách mà thôi.
II.
Bát nhã
Ðoạn
1 : nói về Bát nhã
Ngài nói,
tôn giả Thu tử, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc
; sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ tưởng hành
thức cũng đều như vậy (7).
7. Sắc chẳng
khác không, không chẳng khác sắc ; sắc tức là không, không
tức là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng đều như vậy. Câu
này có thể viết tắt lại mà đủ hơn, như sau : các pháp
chẳng khác không, không chẳng khác các pháp ; các pháp tức
là không, không tức là các pháp. Và không đây là thật tướng
không, được nói ngay sau câu này. Nên câu này lấy câu đương
xứ tiện thị của Thiền tông mà giải thích thì tuyệt hảo.
Tôn giả
Thu tử, Không ấy của các pháp không sinh không diệt (8), không
dơ không sạch (9), không thêm không bớt (10 (không quá khứ,
không vị lai, không hiện tại) (11).
8. không
sinh không diệt, không khái niệm phát sinh với không khái niệm
tiêu diệt
9. không
dơ không sạch, không khái niệm thanh khiết với không
khái niệm dơ bẩn.
10.
không thêm không bớt, không khái niệm thêm lên, không khái
niệm bớt đi (không khẳng định, không phủ định).
11.
Không quá khứ, không vị lai, không hiện tại (có trong một
số bản dịch): không khái niệm đã mất với đang còn, không
khái niệm sẽ có với đang có. Về ba thì gian, thông
thường nói quá khứ, hiện tại, vị lai, nhưng nói theo học
lý thì vị lai, hiện tại, quá khứ : chưa có nhưng sẽ có
là vị lại, có rồi mà đang còn là hiện tại, đang còn rồi
mất đi là quá khứ, và đó là nói một giai đoạn của bất
cứ pháp gì. Rồi sự mất đi của giai đoạn này chính là
sự sẽ có của giai đoạn kế tiếp, và các pháp cứ như
thế mà diễn tiến.
Giảng thêm
: Một số phạm trù đủ cả không gian thì gian này tiêu biểu
cho những khái niệm đối kháng nhau, và những khái niệm như
vậy được gọi là thủ đắc : là ngã chấp, pháp chấp.
Nói không sanh không diệt, không dơ không sạch, không thêm
không bớt (và không quá khứ, không vị lai, không hiện tại),
là nói thật tướng không : thật tướng của các pháp siêu
việt những khái niệm như vậy. Thực chất cái biết của
chúng ta chỉ là sự hình thành của những khái niệm như vậy
nên gọi là ngã chấp pháp chấp ; còn Bát nhã là tuệ giác
siêu việt cái biết ấy, nên gọi là không. Bất nhị
pháp môn của kinh Duy ma lá nói về tuệ giác này đây. Vá
câu chính văn trên đã mở đầu và làm căn bản cho danh tác
Trung luận.
Thế nên
trong Không không sắc thọ tưởng hành thức, không nhãn nhĩ
tỹ thiệt thân ý, không sắc thanh hương vị xúc pháp, không
nhãn giới cho đến không ý thức giới, không vô minh và sự
tận diệt tận của vô minh, cho đến không lão tử và sự
diệt tận của lão tử, không khổ tập diệt đạo, không
quán trí, không thủ đắc, vì không thủ đắc gì cả(12).
12. Toàn
bộ câu này có nghĩa là trong sự soi sáng của thật tướng
không thì không có các pháp qua sự thủ đắc theo những
khái niệm đối kháng nhau : không có các pháp qua ngã chấp
pháp chấp. Tại sao ? câu vì không thủ đắc gì cả là nói
lý do : vì thật tướng không không không thủ đắc theo nhưng
khái niệm ấy, là không ngã chấp pháp chấp.
Không quán
trí là không có sự hiện quán, quán các pháp trên. Không thủ
đắc là không có sự thu hoạch của sự hiện quán. Sự thu
hoạch của hiện quán là các thánh quả, nên Xuất xứ nói
rõ : ... không quán trí không thủ đắc : không Tu đà hoàn
và tuệ giác Tu đà hoàn, không Tư đà hàm và tuệ giác Tư
đà hàm, không A na hàm và tuệ giác A na hàm, không A la hán
và tuệ giác A la hán, không Duyên giác và tuệ giác Duyên giác,
không Phật đà và tuệ giác Phật đà.
Trọn đoạn
chính văn trên đây có thể viết tắt như sau : Các pháp là
không, không là các pháp ; Không ấy là không sinh diệt, dơ
sạch, thêm bớt ... Thế nên nơi Không không 5 uẩn, không 18
giới, không 12 duyên sinh, không 4 đế, không quán trí, không
thủ đắc, vì không thủ đắc gì cả.
Trọn đoạn
chính văn này nên lược giải bằng sự ví dụ của Duy
thức học : con rắn là thấy lầm sợi dây, biết đích là
sợi dây thì không còn con rắn. Lại nên lược giải bằng
lời Phật nói sau đây, trong kinh Pháp hoa : Như lai đúng như
sự thật của 3 cõi mà thấy 3 cõi là không : không sinh
không chết, không lui mất không hiện ra, không tồn tại không
nhập diệt, không thật, không giả, không như nhau không khác
nhau. Không như chúng sinh 3 cõi nhìn thấy 3 cõi ; 3 cõi như
vậy Như lai nhìn thấy rõ ràng không lầm lẫn.
Ðoạn
2 : nói về diệu dụng của Bát nhã
Bồ tát vì
y theo Bát nhã ba la mật đa nên tâm không bị chướng ngại
(13), vì không bị chướng ngại nên không khiếp sợ(14), siêu
thoát mộng tưởng thác loạn(15), cứu cánh niết bàn. Phật
đà cả ba thì gian vì y theo Bát nhã ba la mật đa nên được
vô thượng bồ đề.
Có một
việc nên nói trước khi lược giải đoạn này. Ấy là vị
trí của câu dĩ vô sở đắc cố (vì không thủ đắc
gì cả). Khuy cơ đại sư đã đặt câu ấy vào cuối đoạn
trên, nói câu ấy giải thích tất cả chữ vô ở trên nó
(Chính 33/40). Nhìn vào chính văn, thấy cách sử dụng chữ
Cố của ngài Huyền Tráng thì không thể không đồng ý với
Khuy cơ đại sư. Vì nếu đặt câu dĩ vô sở đắc cố (vì
không thủ đắc gì cả) vào đầu đoạn này thì hiểu và
dịch chữ cố sẽ rất bất ổn : Vì không thủ đắc nên
bồ tát y theo Bát nhã nên tâm không bị chướng ngại, vì
không bị chướng ngại nên không khiếp sợ... Về ý nghĩa,
nếu đặt câu dĩ vô sở đắc cố (vì không thủ đắc
gì cả) vào đầu đoạn này thì chỉ lặp lại sự không thủ
đắc mà thôi, không có ý nghĩa như đã giải thích. Nhưng
ý nghĩa như đã giải thích thì rất quan trọng (xem lại chú
thích 12 trên đây). Cũng có thể giải thích sự không thủ
đắc sao cho thích hợp để, như một số bản dịch khác,
đặt câu dĩ vô sở đắc cố vào đầu đoạn này, rồi phải
chuyển văn mà dịch, như sau : vì không thủ đắc nên Bồ
tát y theo Bát nhã thì tâm không bị chướng ngại... (lại
vì không thủ đắc nên) Phật đà cả ba thì gian y theo Bát
nhã thì được vô thượng bồ đề.
Bây giờ
lược giải đoạn chính văn trên. Trong đoạn ấy nói không
bị chướng ngại, không khiếp sợ, siêu thoát mộng tưởng
thác loạn, vậy nên biết chướng ngại, khiếp sợ và
mộng tưởng thác loạn ở đây, của Bồ tát, là gì.
13. Chướng
ngại ở đây là phiền não chướng và sở tri chướng, hai
trọng chướng này là chướng ngại cho hai chuyển y là đại
niết bàn và đại bồ đề. Phiền não chướng và sở tri
chướng là ngã chấp pháp chấp : là sự thủ đắc những
khái niệm đối kháng nhau. Chướng ngại như vậy tạo ra sự
khiếp sợ và sự mộng tưởng thác loạn sau đây.
14. khiếp
sợ ở đây là như Tăng a hàm nói, chúng sinh sợ sự không
đáng sợ là sợ vô ngã và vô ngã sở. Khiếp sợ mà như
vậy thì không những bằng bản năng mà còn bằng chính nhận
thức.
15. mộng
tưởng thác loạn là ảo tưởng thác loạn, tưởng các hành
phi thường lạc ngã tịnh là thường lạc ngã tịnh,
tưởng niết bàn thường lạc ngã tịnh là phi thường lạc
ngã tịnh. Mộng tưởng thác loạn còn là ảo tượng thác
loạn, ấy là sự sinh tử phi thường lạc ngã tịnh, được
có bởi chính ảo tưởng thác loạn. Lược giải mộng tưởng
thác loạn như vậy là diễn tả cách giải thích của đại
sư Khuy cơ (Chính 33/541). Chư Bồ tát tu học Bát nhã thì sự
chướng ngại 2 chuyển y là 2 trọng chướng, và sự khiếp
sợ cùng sự mộng tưởng thác loạn của 2 trọng chướng
ấy, đều bị hủy diệt. Cũng phải nói thêm rằng, tu học
Bát nhã dầu chưa có sức, oai thần của Bát nhã vẫn chế
ngự được những nguy khốn như đã được thấy chinh trong
sử truyện của ngài Huyền tráng
Trọn đoạn
Bồ tát vì y theo ... được vô thượng bồ đề, có nghĩa
các vị Bồ tát, tức các đức Phật vị lai, cũng y như các
đức Phật quá khứ và hiện tại, do tu học Bát nhã, tiêu
dung 2 trọng chướng mà thành đạt 2 chuyển y. Lời này vừa
lược giải vừa lược dịch về đoạn chính văn này. Lời
này còn để thấy đoạn chính văn này nói là nói như vậy,
chứ không phải nói Bồ tát y theo Bát nhã thì chỉ được
đại niết bàn, còn Phật đà y theo Bát nhã thì được đại
bồ đề.
III.
Thần chú Bát nhã
Do đó mà
biết Bát nhã ba la mật đa là bài chú rất thần diệu : bài
chú rất sáng chói, bài chú tối thượng, bài chú tuyệt bậc
mà đồng bậc(16), trừ được hết thảy khổ não, chắc thật,
không hư ngụy. Nên tôi nói chú Bát nhã ba la mật đa. Ngài
liền nói chú ấy : Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba
la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha(17).
Ma ha bát
nhã ba la mật đa. (3 lần).
Ðoạn chính
văn này, căn cứ bản Ðối phiên và một số bản dịch khác,
thấy ngài Huyền tráng đã chuyển văn mà dịch thần chú Bát
nhã có 4 tên. Xin dịch lại như sau để thấy sự chuyển văn
ấy : Thế nên phải biết bài chú vĩ đại Bát nhã ba la mật
đa (là) bài chú rất sáng chói, bài chú tối thượng, bài
chú tuyệt bậc mà đồng bậc.
16. Tuyệt
bậc mà đồng bậc, chính văn là vô đẳng đẳng. Từ ngữ
này tôn xưng Phật và pháp của Phật (như Bát nhã ở đây),
và thường được dịch : không bậc nào (vô đẳng) sánh bằng
(đẳng) ; hoặc sánh bằng (đẳng) với bậc không thể sánh
bằng (vô đẳng), nói cách khác là đồng bậc với tuyệt
bậc. Nhưng nói gì đi nữa, vô đẳng đẳng mà cắt nghĩa
như vậy thì chỉ là nghĩa tối thượng, không có gì đặc
thù cả. Bồ tát Thế thân, trong Thập địa kinh luận, cắt
nghĩa như sau : Vô đẳng là Phật sánh với chúng sinh thì chúng
sinh không đồng đẳng với Phật, còn đẳng là Phật với
chúng sinh thì pháp thân đồng đẳng ? Là vì biểu thị đồng
đẳng chánh giác (pháp thân) (Chính 26/132). Như vậy Bát nhã
cũng vừa là tuyệt bậc vì tuệ giác khác không thể sánh
bằng, vừa là đồng bậc vì ai cũng có và có thể thực hiện.
Bài chú Bát nhã cũng vậy ; bài chú ấy vừa tuyệt bậc vì
bài chú khác không thể sánh bằng, vừa là đồng bậc vì
bài chú ấy ai cũng có thể tu học.
17. Yết
đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề,
tát bà ha. Câu mật ngữ này, căn cứ sự giải thích của
ngài Pháp tạng (Chính 33/555), có thể dịch như sau : vượt
qua, vượt qua, vượt qua bên kia, vượt qua bên kia hoàn toàn
: vượt qua tuệ giác vô thượng. Mau chóng thành tựu như vậy
!
Câu mật
ngữ ở đây, với hiển ngữ ở trên phối hợp với nhau làm
cho Tâm kinh thành 1 bài chú Bát nhã, và rõ ràng Tâm kinh cốt
nói Bát nhã là một bài chú tâm.
WP: HN |