I.
Y PHÁP KHÔNG Y NGƯỜI
PHÁP,
là chỉ chung cho những gì ta học hỏi được từ kinh luận,
cũng chỉ luôn cho những phương tiện tu hành mà ta đang thực
hành, và cuối cùng là chỉ cho Pháp tánh. Pháp tánh là chỉ
cho TÁNH KHÔNG của vạn pháp, là PHẬT TÁNH của chúng hữu
tình.
Phần
thâm sâu nhất của PHÁP là pháp tánh.
Y
THEO PHÁP tức là sống trở lại được với Phật tánh
của chính mình. Vì thế, KHÔNG Y THEO NGƯỜI nói đây là không
y theo các bậc Thiện tri thức không thuộc Ðại thừa. Kinh
Ðại Bát Niết Bàn nói “Y nơi pháp tức là pháp tánh.
Không y nơi người tức là Thanh Văn”. Thanh Văn là chỉ
cho những vị lấy cái định Diệt Thọ Tưởng làm cứu cánh
mà không lấy Ðại Niết Bàn Pháp Thân làm cứu cánh. Quả
vị của các vị chỉ mới là hóa thành chưa phải bảo sở,
nên các vị không thể dạy chúng ta trở về nhập lại Phật
tánh của chính mình. Vì lý do đó, kinh khuyên “Không y
chỉ nơi các vị Thanh Văn”.
Ðây
là cái chuẩn “Y theo pháp, không y theo người”
thứ nhất. Nó là nền tảng cho những thứ Y THEO và KHÔNG
Y THEO nói sau.
Trải
dài sanh tử, ô nhiễm quá nhiều nên muốn sống lại được
với Phật tánh của chính mình, ta phải có một quá trình
tu hành mà kinh gọi là tiệm tu. Ðây là giai đoạn mà chúng
ta cần đến kinh luận, pháp môn và sự giúp đỡ của chư
vị Thiện tri thức rất nhiều. Kinh luận hằng hà sa số bao
nhiêu thì về LÝ, tinh thần chính cũng chỉ tập trung quanh
vấn đề Duyên Khởi, mà mặt triển khai của nó là Nhân Duyên
và Nhân Quả. Về SỰ, kinh hay luận đều dạy ta phá trừ
bản ngã. Nói cách khác là phá trừ tham - sân - si. Phá trừ
tham - sân - si rồi, chúng ta mới có thể trở về ngộ nhập
lại Phật tánh của mình. Ðây là hai cái chuẩn để ta biết
mình nên Y THEO PHÁP thế nào đối với kinh luận. Không có
cái chuẩn này, không phải là kinh luận của Phật Tổ.
Pháp
môn cũng vậy. Về LÝ, pháp môn ấy phải đáp ứng được
cái LÝ đã nói trong kinh luận. Về SỰ, nó có khuynh hướng
giúp ta trừ bỏ tham - sân - si và đưa tâm mình trở về
VÔ NIỆM. Pháp môn nào đáp ứng đủ cả hai mặt LÝ và SỰ
như thế, ta có thể yên tâm y tựa vào đó. Như pháp môn niệm
Phật mà Tổ Ấn Quang đã dạy. [1] Miên miên mật mật với
một câu A Di Ðà trong tất cả thời là lấy cái niệm ấy
thay cho muôn niệm để ngộ nhập được Thực Tướng Niệm
Phật. Hoặc như pháp môn BIẾT VỌNG KHÔNG THEO ta đang áp dụng
đây. Nó có khuynh hướng giúp ta buông dần các niệm tưởng,
đưa tâm về cảnh giới vô niệm. Ðó đều là những pháp
ta có thể y theo nếu đủ cơ duyên.
Với
tiêu chuẩn kinh luận và pháp môn trên, chư vị Thiện tri thức
nào dạy ta tu hành trở về ngộ nhập lại Phật tánh của
mình, dạy ta phá trừ tham - sân - si thì ta nên kề cận tham
học. Song vì sao đây Phật lại dạy “Không y theo người”?
KHÔNG
Y THEO NGƯỜI là để ta có tầm học hỏi và tu hành được
rộng rãi hơn, không phải là không cần đến chư vị Thiện
tri thức.
Do
ta hay có tâm chấp tướng rất nặng nên Phật dạy mình như
thế. CHẤP TƯỚNG là không để ý đến nội dung mà cứ ôm
khư khư những hình thức bên ngoài làm thứ quyết định cho
mọi vấn đề. Ðến với chùa chiền và tu hành theo Phật
thì mình phải nương nhờ vào Tam Bảo là lẽ tất nhiên. Song
nếu mình chỉ lấy HÌNH TƯỚNG Tăng Ni làm chỗ nương tựa
mà quên mất phần NỘI DUNG bên trong thì lại sinh chuyện.
Như một Ni đã dạy “Không được cúng quả quít,
để người chết khỏi quấn quít bên thân nhân”. Vậy
mà có người làm theo ào ào …
Phật
dạy ta nhân thiện thì quả thiện, nhân ác thì quả xấu,
không dính mắc thì được siêu thoát. Phật không dạy ta mê
tín dị đoan. Phật không dạy quả quít quyết định được
vận mệnh của con người. Về LÝ lời dạy của Ni không đáp
ứng đúng với lời Phật dạy trong kinh. Song mình vẫn làm
theo vì mình tin vào hình tướng đầu tròn áo vuông của Ni.
Mình tưởng có được mấy thứ ấy choàng vào người là
lời nói của Ni đương nhiên có giá trị. Giá trị hay không
là do trí tuệ, không phải do áo quần hay do đầu không có
tóc. Mình cứ lấy hình thức quyết định luôn cho nội dung
nên … phơi thây cùng tuế nguyệt. Vì thế Phật dạy “Y
theo pháp, không y theo người”.
Một
loại chấp tướng nữa là chấp vào hình tướng giữa Tăng
Ni và cư sĩ. Thường, thứ gì Tăng Ni làm, mình thấy có giá
trị hơn của cư sĩ. Cầm một cuốn sách lên đọc thấy cũng
hay đó, nhưng khi khám phá ra tác giả là một cư sĩ, bỗng
dưng mình khởi niệm nghi ngờ. Cũng đều là ngôn từ chữ
nghĩa nhưng khi viết đến từ Tăng Ni, mình lại viết hoa mà
không viết thường như từ cư sĩ được. Ðó là do lòng kính
trọng Tam Bảo mà ra. Nhưng vì sự kính trọng ấy mà dính
mắc vào đó rồi sinh chuyện lúc nào không hay thì sự kính
trọng ấy cũng thành bịnh.
Tại
ngôi chùa nọ, vì bận nên Thầy Trụ Trì mấy đợt liền
không dẫn chúng tụng kinh mà để cho một cư sĩ làm chuyện
ấy. Thế là có nhiều vị bực bội không yên rồi không đi
chùa nữa. Anh chàng ấy dẫn kinh cà xịt cà đụi khiến mọi
thứ rối rắm cả lên mà ở nhà thì không có gì để nói.
Ðằng này anh ta dẫn kinh chẳng khác Thầy Trụ Trì, chỉ vì
anh ta là cư sĩ thành mấy bà cụ không chấp nhận.
Tăng
dẫn chúng hay cư sĩ dẫn chúng thì tụng kinh cũng cốt để
nhiếp tâm của chính mình mà thôi. Việc nhiếp tâm ấy không
dính gì đến hình tướng của Thầy Trụ Trì hay anh cư sĩ.
Chỉ vì một chút chấp tướng mà sinh bực bội rồi bỏ đi
chùa hết mấy kỳ. Cái chấp tướng ấy làm mọi thứ trở
nên đình trệ và hạn chế. Vì thế Phật dạy “Y theo pháp,
không y theo người”.
Mình
tu thiền, vấn đề này lại càng phải cẩn trọng. Lục Tổ
khi được truyền y bát vẫn còn là hình tướng của một
cư sĩ. Tuệ Trung Thượng Sĩ hay Thiền Tổ phái Trúc Lâm đều
là những vị sáng đạo dưới hình thức cư sĩ. Nếu mình
để cho kiểu chấp tướng trên chi phối cả nhận thức lẫn
hành động của mình, thì tuy là con cháu nhà thiền nhưng chỉ
có danh xuông còn thực chất thì không có. Nó nói lên niềm
tin của mình đối với Phật tánh hay pháp thân chưa rõ ràng.
“Phật tánh không có nam bắc”, vì sao lại so đo hình tướng
Tăng Ni hay cư sĩ để mọi việc trở nên đình trệ? Chỉ
một chuyện tụng kinh nhỏ nhặt thôi, mình còn chịu không
được thì niềm tin thấy tánh sống đạo dưới thân tướng
của một cư sĩ mình càng khó chấp nhận hơn. Ðó là do niềm
tin đối với Phật Tổ và bản thân không đủ, nên mình không
đủ niềm tin đối với người. Không có niềm tin vững chắc
đối với bản thân thì việc tu hành sẽ lừng chừng giữa
đường.
Nói
vậy là để mình đừng chấp vào hình tướng bên ngoài khiến
vấn đề tu hành của mình bị đình trệ, không phải là để
sinh cái tâm hơn người. Nội lực không có, trí tuệ trần
trụi, nhân quả sống chưa xong … mà lúc nào cũng như Tổ
Phật ngày xưa là đang rơi vào hình thức chấp tướng ngược
lại. Thay vì chấp vào hình tướng Tăng Ni, bây giờ lại rơi
vào hình tướng cư sĩ. Ðây là rủ nhau vào địa ngục cho
đông thêm vui.
Cái
chấp tướng thứ ba là chấp vào tướng giữa Tăng Ni với
Tăng Ni. Ðến chùa là phải tìm cho được vị nào lớn nhất
trong chùa mới qui y làm đệ tử. Hoặc cạo đầu vô chùa
thì phải đợi cho được Hòa thượng ra mới chịu cạo đầu.
Qui y hay cạo đầu cũng chỉ là những hình tướng bên ngoài.
Cốt yếu là ở phần giữ giới của mình đây. Qui y, cạo
đầu rồi mà không giữ giới đàng hoàng thì dù được Phật
qui y chăng nữa, cũng không thể lấy cái đó mà khoe với quỉ
thần, đừng nói là qui y với Hòa thượng.
Kế
là tu học thì phải tu học với ông Thầy chứ ông Trò thì
chê. Cũng đúng thôi! Bởi ông Thầy thì phải hơn ông Trò.
Nhưng thế gian này là thế giới duyên khởi. Thứ gì cũng
có nhân có duyên của nó. Không nhân không duyên muốn cũng
không được. Xưa đức Phật không độ được bà già mà
đó là nhân duyên của vị đệ tử nhỏ nhất trong Tăng đoàn.
Có nhân duyên rồi thì một cái nhíu mày hay một giọt nước
mắt của chư vị cũng là thứ để mình ngộ đạo tu hành.
Còn nhân duyên ít quá, đeo cho lắm lợi ích cũng thành hạn
chế.
Hồi
mới đến thiền viện đây, tôi chỉ nghe một mình Hòa thượng
Trúc Lâm giảng thôi. Không đến nỗi rơi vào tình trạng chấp
tướng trên, nhưng cũng là một loại chấp khá kinh khủng.
Lúc ấy, không phải vì Hòa thượng là người đạo cao đức
trọng, là Thầy của tất cả Tăng Ni mà tôi làm vậy. Chẳng
qua vì sách của Hòa thượng giúp tôi thoát được những bế
tắc lúc bấy giờ. Cũng chính vì những trang sách ấy mà tôi
tìm đến thiền viện. Vì vậy trong mắt tôi chỉ có mình
Hòa thượng. Tôi chỉ đến thiền viện vào dịp cuối tháng
và chỉ nghe mình Hòa thượng giảng, còn những vị khác cho
ra rìa. Phải chi nghe qua các vị giảng một lần rồi chê thì
không nói. Ðằng này chỉ mới nghe “Nam mô ...” mà không
phải giọng của Hòa thượng là tôi nhỏm đít bịt tai nhất
quyết không nghe. Giọng gì mà kỳ cục!
Ðã
chấp rồi thì chấp theo kiểu nào cũng thành bệnh hết. Việc
nghe pháp trở thành hạn chế. Việc tu hành cũng ảnh hưởng
theo.
May
là cái duyên của tôi còn lớn. Hồi mới ngồi thiền, đâu
được mươi ngày thì cảnh giới lạ xuất hiện. Thấy thì
bỏ qua rồi. Nhưng mấy tháng sau, vô tình đọc được cuốn
Vô Niệm Niệm Phật, thấy tác giả cuốn sách diễn tả cảnh
giới mà ngài gọi là Phật tánh, y hệt trạng thái tôi đã
trải qua. Nghe đến hai chữ Phật tánh thì không bỏ qua được
nữa, nóng lòng muốn hỏi cho ra lẽ. Nhưng không cách gì gặp
được Hòa thượng. Chờ thì Hòa thượng không có. Khi Hòa
thượng có thì chui vô không lọt. Ðành phải chui vào cái
thất bên cạnh. Chui vào thất bên cạnh rồi, mới biết là
không phải chỉ có Hòa thượng mới giải quyết được sự
bế tắc của mình. Sư Ông là ngọn đuốc khơi sáng niềm
tin và soi rõ con đường mình đi. Nhưng trên đường đi mình
cần có người gần gũi, dìu dắt, dẫn đường như những
bạn đồng hành. Song qua đến Hòa thượng Thường Chiếu rồi
cũng cứ chứng nào tật nấy. Tuy có mở tâm một chút, nhưng
chỉ hai chứ không có vị thứ ba. Thầy biết cái bệnh cố
thủ của tôi, khuyên tôi nên đi nghe giảng thường xuyên,
không phải chỉ ở Thầy mà ở cả những vị khác. Từ đó
việc nghe pháp của tôi có mở rộng. Quả tình, tôi tìm được
rất nhiều thứ trong các buổi giảng pháp mà không phải chỉ
ở Hòa thượng Trúc Lâm mới có.
Không
phải tới chùa, mình mới được dạy “Y theo pháp, không
y theo người”. Ngay cả ngoài đời đây đã có những
câu ngụ ngôn dạy mình tương tự như thế. Kẻ không trí
có lúc cũng phát biểu một câu nghe rất có lý. Ðứa bé con
phát biểu một câu có khi già cả đời, mình nghĩ cũng không
ra. Như thằng út của chị bạn tôi, 5 tuổi. Một lần chị
mua về cho con bé đầu lòng đôi sandale thì con bé mang chật,
đi đổi thì làm biếng mà bỏ thì tiếc, chị tính kế dụ
thằng bé mang đi học. Lúc đầu thằng bé cự, nhưng uốn
ba tất lưỡi, chị dụ được thằng bé xỏ chân. Xỏ chân
rồi chị lần đến mục đích cuối cùng “Con thấy đẹp
chưa. Mẹ có con mắt mà! Con mang đi học người ta khen đẹp
cho coi”. Thằng bé trả lời “Nhưng mẹ già rồi, mắt cũng
phải mờ đi chớ!”. Cho rằng một đứa trẻ chỉ biết chơi
và ăn thì mình sẽ chẳng nhận được gì trong câu nói ấy.
Một câu nói thâm thúy chứa đầy Phật pháp!
Hãy
lắng nghe rồi từ chối còn kịp, hơn là từ chối trước
khi chưa nghe gì hết.
“Y
theo pháp, không y theo người” còn mang ý nghĩa phản quang
tự kỷ mà nhà thiền đã nói. Nghĩa là, không nên quan tâm
đến những biểu hiện của vị Thiện tri thức mà hãy quan
tâm là mình đã nhận được gì từ vị Thiện tri thức ấy.
Ðiều này cũng chí lý thôi. Vì mình đến chùa là để tu
học không phải là để phê phán hay đánh giá người khác.
So sánh đánh giá hoài, chỉ làm tăng thức phân biệt của
mình, là điều tối kỵ trong nhà thiền. Hướng ra phân biệt
hoài thì biết bao giờ mình mới ngộ đạo và sống được
với đạo? Ðã không chủ tâm phát huy thức phân biệt thì
đâu cần phải mất thì giờ với những biểu hiện bên ngoài
của mọi người.
Quan
trọng là mình học được gì ở chư vị. Học pháp với vị
ấy mà tham sân mình mỗi ngày mỗi bớt, mình ít dính mắc
với ngoại cảnh hơn là được rồi. Còn vị ấy thế nào
không ảnh hưởng gì đến mình. Vị ấy nói nhiều mà trị
được cái tật nói nhiều của mình thì cái nói nhiều ấy
chính là pháp trị bịnh cho mình. Vị ấy hét mà cái hét ấy
khiến mình nề nếp hơn thì cái hét ấy là pháp cho mình.
Vị ấy hiền hòa mà cái hiền hòa ấy khiến mình sửa đi
những tật xấu của mình thì cái hiền hòa ấy là pháp cho
mình. Vị ấy cộc lốc vô tình mà khiến mình tự tại được
với những yêu ghét của thế gian thì cái cộc lốc ấy là
pháp cho mình. Phản quan tự kỷ theo kiểu như vậy thì hành
tướng nào cũng là hóa thân của chư vị Bồ tát giúp mình
tu hành. Thực hành như vậy thì không còn thì giờ đâu để
hướng ra ngoài so đo phân biệt thế này với thế kia. Quan
trọng là mình tha thiết với việc tu hành thì hình tướng
nào cũng thành đạo đối với mình hết.
Trước
tôi có một chị bạn. Kêu chị chứ cũng hơn 60 rồi. Chị
theo học pháp với một Thầy thuộc hệ phái Tiểu thừa ở
tận Vĩnh Long hay Long Xuyên gì đó. Tuy là Tiểu thừa, nhưng
Thầy nói về Phật tánh như bên Ðại thừa. Nhìn cách chị
kể, tôi thấy Thầy dạy chị những phương cách rất gần
với nhà Thiền. Tôi hỏi chị vì sao lại đi xa vậy chỉ để
học những thứ mà ở Long Thành này cũng có. Chị nói vì
Thầy “dữ dằn”. Cái dữ của Thầy mới trị được cái
bệnh cứng đầu cố chấp và mớ bòng bong trong người chị.
Khi nào chịu không được thì chị lặng. Nhưng khi nguôi ngoi,
chị hiểu con ngựa chứng như chị nếu không có cái cứng
rắn và phương thức thẳng thắn của Thầy, đến chết chị
cũng không thay đổi được gì. Không bỏ được, kiếp sau
trồi đầu lên chị lại phải điêu đứng vì những cái không
đâu như kiếp này. Thành xa xôi bao nhiêu, bực bội thế nào,
tỉnh hồn rồi chị cũng lết về với Thầy.
Mới
thấy không phải chỉ có nụ cười hiền hòa, phong thái tự
do tự tại mới là chân Thiện tri thức của người tu. Tự
tại mà không lợi ích cho ai, chỉ khiến người thêm bê tha
không giới luật thì trong vấn đề giáo hóa, cái tự tại
ấy thành vô ích. Vì thế, đức từ bi không chỉ có trong
phong thái dịu dàng của Bồ tát Quán Thế Âm mà cả ở hình
tướng dữ dằn của ngài Tiêu Diệm. Ngài Duy Ma nói “Chúng
sanh ở cõi này cang cường khó giáo hóa nên Phật dùng những
lời cang cường để điều phục họ … Vì những người
khó giáo hóa, lòng như khỉ vượn nên dùng bao nhiêu pháp để
chế ngự lòng họ. Như voi ngựa ngang trái không điều phục
được, cần phải đánh đập dữ tợn cho đến thấu xương
mới điều phục được. Chúng sanh can cường khó giáo hóa
cũng như thế. Phải dùng tất cả những lời khổ thiết mới
có thể đưa họ vào khuôn khổ”. Sử dụng đúng lúc
đúng nơi thì 2 hình tướng tuy trái nhau nhưng cùng chung một
mục đích là lợi ích cho chúng sanh. Không y pháp mà chỉ y
người thì đi đâu mình cũng thấy trở ngại, đụng đâu
mình cũng thấy rào chắn. Việc học hỏi của mình sẽ đình
trệ không tiến tiển được. Vì thế Phật dạy “Y pháp
bất y nhân”.
II.
Y NGHĨA, KHÔNG Y NGỮ
Chữ
nghĩa ngôn từ là thứ giúp con người chuyển tải ý nghĩ
của mình cho người khác. Trong đạo, chúng là thứ Phật
Tổ và các vị Thiện tri thức dùng chuyển tải giáo pháp
cho chúng sanh. Các thứ ấy gọi là NGỮ. Ý nghĩa mà chư Phật
Tổ muốn nói qua những câu đó, gọi là NGHĨA.
Có
những lời khi nói lên người khác khó lầm được ý nghĩa
của nó. Ðó là những câu nói đơn giản như “Tôi uống
nước”. Hoặc “Người Phật tử tại gia phải giữ
5 giới”. Nghĩa của nó hiển khá rõ qua câu nói, nên ít người
lầm lẫn. Nhưng có những câu, nếu chỉ hiểu theo ngôn từ
bề ngoài mà không thấu được ý nghĩa thực của nó thì
vấn đề muốn nói sẽ thành sai lệch. Như câu “Quên mất
tâm bồ đề mà tu hành các thiện pháp gọi là hành động
của ma” chẳng hạn.
Nghĩa
của nó là “Các thiện pháp chỉ có ý nghĩa khi nó được
thực hành bởi một một người đã phát tâm bồ đề”.
Nói cách khác “Mọi thiện pháp đều hồi hướng cho con
đường Phật đạo mới không phải là hành động của ma”.
Nếu ta hiểu câu nói đó theo từng chữ của nó, thì rõ ràng
ngoài người phát tâm bồ đề ra, làm thiện đều là ma hết.
Song trong kinh, Phật dạy chỉ cần thực hành thiện pháp -
như thập thiện chẳng hạn - là sinh được ở cõi trời,
đâu phải là ma. Vậy thì có gì sai lệch trong câu phát biểu
trên? Sự sai lệch nếu có, là do mình y theo ngữ mà không
y theo nghĩa, không phải bản thân câu nói ấy sai.
Từ
MA mà kinh nói đây là đối với PHẬT đạo và BỒ TÁT đạo
mà nói, không phải đối với Nhân Thiên thừa. Pháp thế gian
là pháp nhân duyên, nên dù chỉ một lời nói, cũng không thoát
được cái lý ấy. Pháp nhân duyên thì nó chỉ có ý nghĩa
trong cái duyên nó đang hiện hình, ngoài những duyên đó ra
nó không còn mang ý nghĩa gì nữa. Như câu “Bị tình cảm
chi phối thì mọi thứ đều có khuynh hướng vị ngã và chấp
thủ : Thứ gì là tôi và của tôi, thứ ấy là chân lý”.
Câu “Thứ gì là tôi và của tôi, thứ ấy là chân lý”
chỉ có giá trị khi đi kèm với câu kế trên. Nếu ta tách
lìa câu đó khỏi câu trên thì ý nghĩa mà tác giả muốn nói
trở thành sai lệch. Do pháp hiển tướng không thể lìa duyên
của nó như thế, nên muốn hiểu chính xác NGHĨA của nó,
mình không nên bỏ qua cái duyên mà câu nói đó xuất hiện.
Ðầu các bộ kinh, thường có phần duyên khởi là vậy. Là
muốn nói do đâu có những lời nói trong bộ kinh ấy. Thấy
được nguyên nhân ra đời của bộ kinh cũng chính là thấy
được bộ kinh viết cho tầng lớp (căn cơ) nào. Pháp là thuốc
để trị bệnh. Bệnh nào dùng thuốc đó. Nhiều việc đáng
tiếc xảy ra hiện nay, chỉ vì mình dụng pháp không đúng
duyên. Mình dùng pháp mà bỏ qua cái duyên dùng cho căn cơ nào.
Câu
“Quên mất tâm bồ đề … “ được lập ra cho những
vị đang hướng về Phật đạo. Vì vậy, nó chỉ có ý nghĩa
trong cái duyên thành Phật mà thôi. Tính chuyện thành Phật
mà không chịu phát tâm Bồ đề, chỉ một mực làm phước
thiện rồi nghĩ tương lai đương nhiên thành Phật là việc
không thể có. Ðây là gieo nhân cỏ mà tính chuyện gặt lúa
thơm. Lộn nhân lộn duyên như thế, nên kinh gọi việc làm
ấy là ma. Hiểu như vậy, mình sẽ thấy kinh luận không mâu
thuẫn nhau.
Một
chuyện nhỏ xảy ra trong gia đình khiến tôi thấm thía lời
dạy “Y nghĩa, không y ngữ” này rất nhiều.
Lau
nhà, thường thì tôi giặt khăn còn thằng bé nhà tôi lau.
Nó có bổn phận lau bàn Phật và phòng của nó. Thói quen như
thế rồi nên giặt khăn xong tôi chỉ nói “Lau phòng con”
hay “Lau bàn Phật” thì thằng bé hiểu là cần lau cái gì.
Ðương nhiên khăn lau nhà thì không thể đem lau bàn Phật dù
nói “Lau bàn Phật”.
Giỗ,
có người quen xưa đến thăm. Bà thấy thằng bé là con trai
mà lau nhà thì tội quá, dành làm cho bằng được. Người
ta nhiệt tình mà mình từ chối thì không đành, nên tôi cũng
để bà làm cho vui. Có điều, tôi quên bẵng từ lâu bà không
còn là người thân đối với sinh hoạt của gia đình, nên
cứ bổn cũ soạn lại. Tôi giặt khăn, bà lau nhà. Lần này
cái khăn lau nhà lau sạch ba đức Phật và đi hết một vòng
bàn thờ. Không nhiếp tâm phân biệt, khó mà yên lòng với
việc tất trắc của mình.
Giáo
pháp của đức Phật có thứ hiển rõ ràng được như nhân
quả, nhân duyên. Song có thứ không thể lấy ngôn từ mà hiển
được ý nghĩa của nó như THỰC TƯỚNG của nhân quả và
nhân duyên. Cái không thể hiển bằng tri thức mà phải dùng
tri thức để hiển, thành phải mượn chuyện trên trời dưới
đất mà nói, cốt để chỉ cái không trên trời cũng không
dưới đất. Như những công án hoặc những lời nói qua lại
của các vị thiền sư chẳng hạn. Lật cuốn Tự Ðiển Thiền
Tông ra, mình sẽ hiểu cái kiểu mượn lời diễn ý, treo đầu
dê bán thịt chó này. Những lời nói thô ở thế gian có khi
còn lầm lẫn, huống là những chỗ tu hành thực chứng của
chư vị. Không phải là những kẻ quen việc trong nhà như thằng
bé con thì khó mà hiểu hết ý nghĩa của những lời nói đó.
Quen
việc rồi, nên dù nói “Lau phòng bàn Phật” hay “Lau bàn
Phật” hay chỉ nói “Bàn Phật” thì thằng bé cũng hiểu
là nói đến việc gì. Nó không thấy có cái gì khác nhau trong
3 câu nói ấy, dù 3 câu ấy hoàn toàn khác nhau. Nếu là người
không quen việc mà có chút trí để hiểu “Ðang trong cái
duyên là lau nhà, khăn lau nhà không thể đem lau bàn Phật”
thì hoặc là mình tìm hiểu xem câu nói ấy có ẩn ý gì, hoặc
mình suy luận “Vẫn lau nhà mà phần nhà có dính đến hai
chữ bàn Phật”. Song vừa không quen việc, vừa không có trí
nên lời sao mình cứ theo vậy mà làm. Phật không muốn mình
hiểu giáo pháp tối thượng của ngài theo kiểu người không
trí như thế, nên dặn “Y nghĩa, không y nghĩa” nghe con.
Suy
luận thì còn nói đến trúng trật, chứ quen việc rồi thì
không thể nhầm lẫn, nên “Y nghĩa, không y ngữ” còn mang
một ý nghĩa nữa : Trực nhận cho được chỗ mà ngôn từ
muốn nói đó.
“Giác
là tâm thể ly niệm”. Chữ LY NIỆM này có thể là vẫn CÓ
NIỆM mà không dính gì đến “mình”. Cũng có thể là KHÔNG
NIỆM. Vậy LY NIỆM đây thuộc trường hợp trước hay trường
hợp sau? Hay, có niệm và không niệm là hai, LY NIỆM là phải
thoát bờ mé nhị biên đó? Rất nhiều thứ để mình thắc
mắc, nếu mình không giải quyết nó bằng chính công phu của
mình. Vì thế không phải chỉ hiểu trên ngôn từ rằng “Giác
là tâm thể ly niệm” mà phải sống thực với cái tâm
thể ấy. Phải nhận cho được cái ly niệm ấy là thế nào.
Như nói đường ngọt thì phải biết đường ngọt là thế
nào bằng chính cái lưỡi của mình, không phải nghe người
ta diễn tả hay tự mình suy luận. Ðó gọi là NGHĨA.
Trong
kinh Lăng Già Tâm Ấn, Phật có nói về phần NGỮ và NGHĨA
này. Ngài Hàm Thị bàn “Ngữ là ngôn giáo Tam thừa và
Nhất thừa mà Như Lai nói ra. Nghĩa, là đệ nhất nghĩa
thánh lạc hành xứ”. Ðệ nhất nghĩa là tên khác
của Phật tánh hay pháp thân. Ðệ nhất nghĩa thì lìa tất
cả vọng tưởng ngôn thuyết. Nghĩa là, đức Phật dùng NGỮ
để chúng sanh tu hành mà nhập được NGHĨA. Nhờ NGỮ mà
vào NGHĨA, chứ NGỮ không phải là NGHĨA. NGHĨA nói đây vừa
mang ý nghĩa chỉ cho Ðệ nhất nghĩa đế, vừa chỉ cho thứ
mà phải trực nhận nó ta mới biết được. Ðó là vì Ðệ
nhất nghĩa đế lìa ngôn thuyết vọng tưởng. Nếu cứ y vào
ngôn thuyết vọng tưởng mà hiểu Ðệ nhất nghĩa thì nó
không còn là Ðệ nhất nghĩa nữa. Không còn là Ðệ nhất
nghĩa thì không phải là Y THEO NGHĨA.
Cho
nên, bất cứ những kiến giải nào còn mang hình tướng ngôn
từ, dù là những kiến giải do mình tự ngộ, nó vẫn chưa
dính gì đến Ðệ nhất nghĩa đế.
III.
Y TRÍ, KHÔNG Y THỨC
Kinh
nói “Sanh diệt là thức”. Có thể coi đó là một
trong các định nghĩa về THỨC. Còn định nghĩa nó rõ ràng,
hình dáng nó ra sao, nó nằm ở đâu thì chịu. Chỉ có thể
hiểu đại khái là, nói đến THỨC là nói đến sự liễu
biệt hay phân biệt, nó có mối liên quan đến đối tượng
và chủ thể. Trong sinh hoạt đời thường đây, những suy
nghĩ và hành động nào mang khuynh hướng tình cảm thường
tình của người đời, là mình đang bị THỨC chi phối. Vì
thế, THỨC này thường đi chung với chữ TÌNH và gọi chung
là THỨC TÌNH. Bị tình cảm chi phối thì mọi thứ đều có
khuynh hướng vị ngã và chấp thủ : Thứ gì là tôi và của
tôi, thứ ấy là chân lý.
TRÍ
thì không phải THỨC. Vì thế nó mang khuynh hướng vị tha
nhiều hơn. Sự việc gì được giải quyết theo TRÍ thì thường
là công bằng hơn là giải quyết theo THỨC. Con mình với con
người ta đánh nhau. Người bị THỨC chi phối mạnh thì không
cần biết lỗi thuộc về ai. Ðứa nào đụng đến con mình
là mình xơi tái nó trước. Người có trí thì tìm hiểu nguyên
nhân, xem lỗi nằm về phía nào rồi mới giải quyết. Người
biết Phật pháp thì việc phân thắng bại giữa lũ trẻ không
cần thiết. Lép một chút mà giải quyết mọi chuyện êm xuôi
là được. Không để việc nhỏ trở thành cái nhân sinh việc
lớn sau này giữa hai gia đình.
TRÍ
không phải THỨC nhưng lại không khác THỨC, vì chúng cùng
một thể mà ra. Như nước và sóng. Nước thì yên lắng, sóng
thì dữ dội, nhưng chúng không hề tách lìa nhau, đều cùng
một thể ướt. Chỉ là sự chuyển biến từ dạng này sang
dạng khác. Do duyên gió mà nước biến thành sóng to. BÁT PHONG
thổi mà lòng mình không động thì THỨC chính là TRÍ. Bát
phong thổi mà mình động thì TRÍ liền thành THỨC. Thấy người
ta để vàng trong tủ mà tâm chộn rộn muốn lấy, đó là
THỨC. Thấy thì thấy mà không quan tâm, đó là TRÍ. Nhờ cái
không khác này mà chúng sanh tu mới thành Phật. Như con ngài
hóa thành bướm bướm. Nếu khác như bò với bướm thì làm
cách gì cũng không thể biến bò thành bướm được.
TRÍ
và THỨC đều từ một tâm, chỉ khác nhau ở chỗ động hay
không động như thế, nên kinh nói “Sanh diệt là thức, không
sanh diệt là trí”. Ðộng mới có sanh diệt. Không động
thì không có sanh diệt. Lấy thẳng tâm ra để kiểm nghiệm
thì sẽ hiểu vấn đề sanh diệt này : Ðối cảnh mà dính
với nó rồi, thế nào tâm cũng hoặc là ưa, hoặc là ghét,
hoặc là thích thú, hoặc là vừa lòng, hoặc khởi nghĩ lung
tung. Từ chỗ đang bình thường, bỗng thành những cảm giác
như vui, buồn, thích thú hay khởi nghĩ lung tung gọi là SANH.
Không ai vui hay buồn hoài cũng có lúc bình thường trở lại.
Khi cái vui cái buồn ấy hết gọi là DIỆT. Còn đối cảnh
mà trước sau cũng như nhau thì không có sanh cũng không có
diệt. Nói sơ để mình tạm hiểu về hai từ sanh diệt. Cái
sanh diệt này có thô và tế. Người tu phải hành thâm mới
thấy được cái sanh diệt vi tế của tâm mình.
Kinh
Lăng Già phân TRÍ thành 3 loại :
1.
Trí thế gian : Như loại trí giải quyết vấn đề
trên. Thứ gì được dựa trên LÝ để giải quyết hợp tình
thì thuộc về trí này. Nó mang tính cách đời thường nhiều,
chưa dính gì đến việc tu tập xuất thế, nên gọi là trí
thế gian. Trí của ngoại đạo, kinh cũng xếp vào loại trí
này.
2.
Trí xuất thế gian : Chỉ cho trí của Thanh văn
và Duyên giác. Trí này đã mang màu sắc thoát tục nên gọi
là trí xuất thế. Thấy đời khổ, không, vô thường,
vô ngã là cái thấy bắt nguồn từ loại trí này. Hoặc thấy
các pháp đều do duyên sanh nên vô ngã, cũng là cái thấy bắt
nguồn từ trí này. Song trí này, kinh Niết Bàn vẫn gọi nó
là THỨC chứ không phải TRÍ. Vì sao? Vì nó còn sự phân biệt.
Phân biệt nói đây không phải là phân biệt đi kiền với
yêu ghét của thế nhân, mà là sự phân biệt giữa thế gian
với niết bàn. Ðó là vì trí này chưa nhận ra được thực
tướng của thế gian và niết bàn, nên thấy sanh tử khác
niết bàn. Vì thế kinh gọi nó là THỨC nhưng không phải là
THỨC TÌNH.
3.
Trí xuất thế gian thượng thượng : Chỉ cho trí
của các vị Bồ tát đăng địa có từng phần và toàn phần
ở Phật. Trí này chính là VÔ SƯ TRÍ trong mỗi người chúng
ta. Kinh Niết bàn nói “Trí tức là Như Lai. Nếu có hàng Thanh
văn chẳng khéo rõ biết công đức của Như Lai, đó là thức,
không nên y theo. Nếu rõ biết Như Lai chính là pháp thân, đó
là chân trí, nên phải y theo”.
Căn
cứ theo đây thì thấy, nhìn hình tướng Phật mà cho đó là
Phật, rồi hướng ra ngoài cầu tìm là mình đang bị THỨC
điều khiển chứ không phải là cái nhìn của người có trí
tuệ. Người có trí tuệ cần phải phản quan tìm lại ông
Phật trong chính mình.
Tóm
lại, người để tình cảm chi phối nhiều, cách xử sự thường
nông nỗi hơn là người có lý trí. Nhìn những việc xảy
ra trong xã hội ngày nay thì rõ. Chẳng qua vì những cái của
tôi và không phải của tôi mà tranh dành, cướp bóc, thù hận
… xảy ra. Thế giới không khi nào an bình khi người của
thế giới đó sống với THỨC TÌNH nhiều hơn với TRÍ.
Trong
đạo, nếu y theo THỨC thì việc tu hành của mình không tới
đâu. Tu là để hết khổ, để tâm cảnh không đến với
nhau, mà mình cứ để THỨC làm chủ hoài thì không thể hết
khổ, không biết bao giờ tâm với cảnh mới không đến nhau.
Tâm không lặng thì khó mà nhận ra được thực tướng rốt
ráo của tâm và cảnh. Vì thế Phật dạy “Y trí, không y
thức”.
IV.
Y KINH LIỄU NGHĨA,
KHÔNG
Y KINH BẤT LIỄU NGHĨA
Kinh
BẤT LIỄU NGHĨA, Tự Ðiển Phật Học giải thích là “Kinh
không trọn nghĩa”. Kinh không trọn nghĩa là loại kinh mới
nói nửa chừng, chưa nói đến chỗ rốt ráo. Suy ra, kinh LIỄU
NGHĨA là kinh đã nói trọn nghĩa, là nói đến tận cùng. Song
nói nửa chừng là nói cái gì và nói rốt ráo là nói ra sao?
Cả
ngọn núi mà mới diễn tả một nửa hay hai phần ba ngọn
núi thì gọi là nói nửa chừng, còn diễn tả luôn cả ngọn
núi thì gọi là nói rốt ráo. Thức không chỉ có 6 mà còn
có thức Alaida và Matna. Nhưng nếu kinh ấy chỉ nói đến 6
thức rồi ngừng, cho việc diệt được 6 thức là niết bàn
của người tu … thì biết kinh đó chưa trọn nghĩa. Chưa
trọn vì chưa nói đến phần thâm sâu là Alaida. Nói đến
niết bàn nhưng chưa phải là niết bàn tự tánh rốt ráo,
nên gọi là KINH BẤT LIỄU NGHĨA.
Trọng
tâm mà kinh luận thường nói đến đều loanh quanh trong mấy
vấn đề Duyên Khởi, Nhân Duyên và Nhân Quả. Ba thứ này
không có gì khác nhau. Chỉ tùy trường hợp và mức độ thô
tế mà lúc thì nói Nhân Duyên, lúc thì nói Duyên Khởi v.v…
Tùy duyên thì có 3 tên, chỗ rốt ráo thì không. Kinh luận
nào chỉ nói đến mặt hiện tượng tùy duyên của chúng,
mà không đề cập đến phần thâm sâu của chúng, gọi là
kinh bất liễu nghĩa. Kinh luận nào nói đến phần thâm
sâu của chúng, gọi là kinh liễu nghĩa. Phần thâm sâu ấy,
kinh luận gọi là tánh không, chân như, niết bàn
tự tánh, Như Lai Tạng, không - bất không, Phật tánh, pháp
thân, Tri kiến Phật v.v…
Ðó
là ý nghĩa và phân loại của kinh liễu nghĩa và bất liễu
nghĩa.
Lên
được tận đỉnh rồi thì trời cũng thấy đủ mà đất
cũng thấy đủ. Còn ở lưng chừng thì vẫn còn nhiều hạn
chế. Muốn lên đến đỉnh thì phải y theo bản đồ có trọn
ngọn núi. Vì thế Phật dạy “Y theo kinh liễu nghĩa,
không y theo kinh bất liễu nghĩa”.
Kinh
Niết Bàn nói “Liễu nghĩa gọi là tri túc, trọn không
dối hiện oai nghi thanh bạch, không kiêu mạn, tự cao, tham
cầu danh lợi, trong giáo pháp của Như Lai tùy nghi phương tiện
không sanh lòng chấp trước. Nếu vị nào an trụ được trong
những điều ấy, phải biết người này đã trụ được trong
Ðệ nhất nghĩa đế. Ðây gọi là y theo kinh liễu nghĩa”.
Kinh liễu nghĩa mà Phật nói đây là loại kinh sống mà mọi
người chúng ta vốn đầy đủ. Nó là loại kinh vô tự ngài
Tam Tạng thỉnh ở Tây Thiên. Loại kinh sống này chỉ tự
mình trực nhận lấy. Những tướng như tri túc, không dối
hiện oai nghi v.v… là những hình tướng giúp mình biết khi
nào mình sống được với vốn kinh sẵn có ấy. Ðây là kinh
liễu nghĩa mà Phật muốn người tu phải y theo.
TRI
TÚC là biết đủ. Biết đủ là có một không cầu hai, không
đứng núi này trông núi nọ. Nó biểu hiện cho việc làm chủ
của người tu. Tri túc thì không có tâm mong cầu. Ngài Hoàng
Bá nói “Ðừng nghĩ và quên mong muốn thì Phật hiện ra trước
mắt”. Phật hiện, là chỉ cho Ðệ nhất nghĩa đế nói đây,
là kinh liễu nghĩa của chính mình.
OAI
NGHI là chỉ cho những hình tướng biểu hiện bên ngoài của
mình, từ cách ăn nói, đi đứng, cho đến cách sống … THANH
BẠCH là chỉ cho những gì trong sáng tự nhiên, giản dị,
nề nếp, đoan chính, nghiêm chỉnh nhưng không cứng ngắt màu
mè. Luận Tối Thượng Thừa ghi “ … Khi đi, đứng, nằm,
ngồi, đối với ngũ dục và bát phong không để mất tâm
ấy, người đó hạnh thanh bạch đã lập …”. Nghĩa là,
trong cuộc sống đây, nếu mình bình thản được với những
nghịch thuận của thế gian là mình có oai nghi thanh bạch.
Ðây là nghĩa rốt ráo của thanh bạch. Còn con người mình
thế nào mình sống y theo thế ấy, không giả dối che đậy
những cái dở hoặc cố khoe bày những cái hay, gọi là KHÔNG
DỐI HIỆN.
Danh
lợi, kiêu mạn, tự cao là những biểu hiện của ngã tướng.
Nó là những tướng đi ngược lại với việc tu hành. Vô
ngã thì ai tham cầu và ai tự cao? Có khi người tu bỏ được
lợi mà danh thì vướng. Vì nó vi tế hơn lợi. Bố thí cúng
dường tài vật mà thấy mình tốt hơn người là một dạng
bỏ lợi vướng danh nói đây.
KIÊU
MẠN, TỰ CAO là coi mình ngon hơn thiên hạ. Ðây là cái bịnh
khó trị nhất của chúng sanh. Người mà không có gì trong
người hết thì không biết dựa vào đâu để thể hiện kiêu
ngạo chứ không hẳn đã không kiêu mạn. Còn thường, người
sở đắc về thứ gì thì hay kiêu mạn về thứ đó. Người
làm ra tiền nhiều thì hay tự cao về tiền bạc, người giảng
pháp được nhiều người thích thì hay tự cao về tài giảng
pháp v.v… Chỉ người có được ÐỊNH HUỆ BÌNH ÐẲNG thì
không vướng vào bịnh này. Vì thế, không kiêu mạn tự cao
là một phần trong những thứ để mình biết mình sống được
với kinh liễu nghĩa của mình chưa.
Mình
vướng vào những thứ này vì trí tuệ của mình thuộc loại
nửa chừng. Nửa chừng là loại trí do học hỏi trên sách
vở hoặc lượm lặt từ người khác mà được. Còn không
thì có trí tuệ mà chưa đạt được sự thường hằng. Ngài
A nan gọi cái bịnh không thường hằng này là “sốt rét
cách ngày”. Những lúc sốt rét ấy, mình dễ vướng vào
cái kiêu mạn tự cao nói đây. Cái kiêu mạn tự cao này gốc
của nó rất sâu. Ngài Hoàng Bá gọi nó là bịnh trong niết
bàn. [2] Không giác được nó khi nó mới chớm, cũng không
có Thiện tri thức bên cạnh thì buông nó không phải dễ.
Hồi
mới đến thiền viện đây, một chữ a tôi cũng không biết.
Chỉ biết cặm cụi làm theo những bài giảng của Thầy. Thầy
nói đi hai chân thì tôi đi hai chân, Thầy nói đi bốn chân
thì tôi đi bốn chân, ngoài ra không biết gì hết ... Tu 4 năm,
đức ông của tôi giải Trung Luận, việc ấy đối với tôi
cũng không khó. Nhưng lúc ấy không biết kiêu mạn, chỉ thấy
thích thú và càng tin tưởng vào các bậc Thầy cũng như việc
tu hành của chính mình. Ðến khi biết bộ luận ấy là thứ
khó gặm và thuộc loại cao siêu của Phật pháp thì tự nhiên
mọi thứ đổi khác. Cái cổ bỗng nhiên cứng nên cái mặt
không cúi xuống được. Miệng không mở thì thôi, mở ra thì
bản thân mình nghe còn chướng, nói là người đối diện.
Biết những tướng đó xấu nhưng càng cố sửa thì mọi thứ
càng ngọng nghịu, khó chịu. Làm sao sửa được tướng bên
ngoài khi gốc kiêu mạn bên trong đã đầy ắp? Biết hết,
nhưng vì lỡ để nó bùng phát, không giác được nó ngay từ
gốc, thành cớ sự mới ra như vậy. Phải đợi Sư Phụ dếnh
một đòn chí tử, nó mới chịu nhả mình ra. Thành ai có được
sở đắc gì trong việc tu hành thường muốn xa rời vị Thiện
tri thức của mình để làm vương một cõi, nhưng thật ra
càng có sở đắc nhiều, càng cần Thiện tri thức nhiều mới
phải. Biết đó mà buông còn không được, huống là không
biết mà cứ để nó phát triển. Tai họa không phải ít. Có
lẽ đây là lý do vì sao thời nay nhiều người tu mình thấy
có vẽ xuất chúng, lại là người gãy đổ sớm hơn những
người chậm lụt. Do không ý thức được cái kiêu mạn tự
cao này đây.
“Ðối
với giáo pháp của Như Lai TÙY NGHI PHƯƠNG TIỆN không sanh
lòng chấp trước” là học đạo thì phải y cứ trên
tình thần đức Phật muốn nói chứ đừng nên dính chặt
vào những hình thức bên ngoài cũng như từ ngữ. Giáo pháp
của Như Lai chỉ là phương tiện, tùy theo điều kiện lịch
sử và căn cơ của chúng sanh từng thời mà lập, không mang
tính cố định. Cho nên, giữ là giữ tinh thần, không phải
giữ hình tướng. Người xưa nói “Bất biến mà tùy duyên”.
Giữ hình tướng mà đánh mất tinh thần là mình đã chấp
trước vào phương tiện của Như Lai. Như giới không sát sanh,
Không sát sanh là hình tướng, còn tinh thần của việc không
sát sanh là để mở rộng lòng từ, để lợi ích cho chúng
sanh. Ðây là lý do vì sao đức Phật giết tên ăn cướp cứu
500 mạng người, Tổ Trúc Lâm cầm quân chống xâm lược.
Chư vị không giữ lấy hình tướng ấy vì hình tướng ấy
trong những điều kiện ấy không còn mang tinh thần đức Phật
muốn nói nữa. Vì giữ tinh thần từ bi, nên chư vị có những
hình tướng mình thấy trái lại với tướng không sát sanh.
Ðây là một ví dụ để mình hiểu về thứ “Tùy nghi
phương tiện không sanh lòng chấp trước”. Ðây cũng là
một loại “Y theo nghĩa không y theo lời” đối với kinh
điển của chư Phật.
TỔNG
KẾT
Ðưa
ra TỨ Y trên, Phật muốn giúp người tu chúng ta không lạc
bước cũng như không bỏ qua những cơ duyên tốt đẹp trên
con đường trở về cội nguồn chân thật của mình. Biển
Phật pháp mênh mông mà nghiệp tập của chúng ta thì vô vàn.
Hạnh nguyện của chư vị Bồ tát nếu không sâu dày, nếu
các vị không dùng nhiều phương tiện, nhiều hình, nhiều
dạng … thì ta khó thoát được nghiệp tập của chính mình.
Luận Ðại Thừa Khởi Tín nói “Người ấy, trong khoảng
thời gian từ khi mới phát tâm cầu đạo đến khi thành Phật,
đều nương nơi chư Phật và các vị Bồ tát : Hoặc thấy,
hoặc niệm về các vị. Hoặc được các vị hóa thân làm
quyến thuộc, cha mẹ, người thân, người giúp việc, bạn
hữu, kẻ oan gia v.v... Như vậy với tất cả mọi việc làm
với vô lượng duyên hạnh”. Ðể giúp người tu, hóa
thân của chư vị không những chỉ có thuận mà còn nghịch
... Nếu đã nhất quyết với việc tu hành thì thuận hay nghịch,
xấu hay tốt đều là nước cam lồ của người tu. Hòa thượng
Thường Chiếu nói “Khi việc gì xảy ra với con, đừng
hướng theo đó mà hãy quay lại xem xét chính mình”. Việc
chính của người tu thiền là vậy. PHẢN QUAN TỰ KỶ BỔN
PHẬN SỰ
[1]
Ðã nói rõ trong Ðại Thừa Khởi Tín Luận - Dịch và giải
Chân Hiền Tâm.
[2]
Luận Tối Thượng Thừa ghi “Là có chút tâm cho ta hơn người,
tự nghĩ ta hay như thế. Tâm ngã sở ấy là bịnh trong niết
bàn”.
06-14-2008
09:23:55