|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TƯƠNG
ƯNG BỘ
Samyutta Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2537 - 1993
TẬP I -
THIÊN CÓ KỆ
[01] Chương
I
Tương
Ưng Chư Thiên
I.
Phẩm Cây Lau
I:
Bộc Lưu (S.I,1)
Như
vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại
vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi
một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng
chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị
Thiên ấy bạch Thế Tôn:
--
Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
--
Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt
khỏi bộc lưu.
--
Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới,
Ngài vượt khỏi bộc lưu?
--
Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này
Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này
Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi
bộc lưu.
(Vị
Thiên):
Từ
lâu, tôi mới thấy
Bà-la-môn
tịch tịnh.
Không
đứng, không bước tới,
Vượt
chấp trước ở đời.
Vị Thiên
ấy nói như vậy và bậc Ðạo Sư chấp nhận. Vị Thiên ấy
biết được: "Thế Tôn đã chấp nhận ta". Vị ấy đảnh
lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất
tại chỗ.
II.
Giải Thoát (Si.2)
...
Ở Sàvatthi. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với
nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế
Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một
bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
--
Thưa Tôn giả, Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly
cho các chúng sanh không?
--
Này Hiền giả, Ta có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho
các chúng sanh.
--
Thưa Tôn giả, như thế nào Ngài biết giải thoát, thoát ly,
viễn ly cho các chúng sanh?
Hỷ,
tái sanh đoạn tận,
Tưởng,
thức được trừ diệt,
Các
thọ diệt, tịch tịnh,
Như
vậy này Hiền giả,
Ta
biết sự giải thoát,
Thoát
ly và viễn ly,
Cho
các loại chúng sanh.
III.
Ðưa Ðến Ðoạn Tận - (Tạp 36.9. Ðại 2,262b. Biệt Tạp
8.7, Ðại 2,427b). (S.i,2)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Mạng
sống bị dắt dẫn,
Tuổi
thọ chẳng là bao,
Bị
dẫn đến già nua,
Không
có nơi dừng bước.
Ai
đem tâm quán tưởng,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
làm các công đức,
Ðưa
đến chơn an lạc.
(Thế
Tôn):
Mạng
sống bị dắt dẫn,
Tuổi
thọ chẳng là bao,
Bị
dẫn đến già nua,
Không
có nơi dừng bước.
Ai
đem tâm quán tưởng,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
bỏ mọi thế lợi,
Tâm
hướng cầu tịch tịnh.
IV.
Thời Gian Trôi Qua (Biệt Tạp 8.8, Ðại 2,427b) (S.i,3)
...
(Nhân duyên ở (Sàvatthi ), đứng một bên, vị Thiên ấy nói
lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thời
gian (lặng) trôi qua,
Ðêm
(ngày luôn) di động,
Tuổi
tác buổi thanh xuân,
Tiếp
tục bỏ chúng ta.
Những
ai chịu quán sát,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
làm các công đức,
Ðưa
đến (chơn) an lạc.
(Thế
Tôn):
(Thời
gian lặng) trôi qua,
Ðêm
(ngày luôn) di động,
Tuổi
tác buổi thanh xuân,
Tiếp
tục bỏ chúng ta.
Những
ai chịu quán sát,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
bỏ mọi thế lợi,
Tâm
hướng cầu tịch tịnh.
V.
Bao Nhiêu Phải Cắt Ðoạn. (S.i,5)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Phải
cắt đoạn bao nhiêu,
Phải
từ bỏ bao nhiêu,
Tu
tập thêm bao nhiêu,
Vượt
qua bao trói buộc,
Ðể
được có danh xưng,
Tỷ-kheo
vượt bộc lưu?
(Thế
Tôn):
Phải
cắt đoạn đến năm,
Phải
từ bỏ đến năm,
Tu
tập thêm năm pháp (lực),
Vượt
qua năm trói buộc,
Ðể
được có danh xưng,
Tỷ-kheo
"vượt bộc lưu".
VI.
Tỉnh Giác (S.i,5)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Có
bao pháp mê ngủ,
Khi
pháp khác tỉnh giác?
Có
bao pháp tỉnh giác,
Khi
pháp khác mê ngủ?
Có
bao nhiêu việc làm
Ðưa
ta đến trần cấu?
Có
bao nhiêu việc làm
Khiến
ta được thanh tịnh?
(Thế
Tôn):
Có
năm pháp mê ngủ,
Khi
pháp khác tỉnh giác,
Có
năm pháp tỉnh giác,
Khi
pháp khác mê ngủ.
Chính
có năm việc làm
Ðưa
ta đến trần cấu,
Chính
có năm việc làm
Khiến
ta được thanh tịnh.
VII.
Không Liễu Tri (S.i,4)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Những
ai với các pháp,
Không
liễu tri thấu suốt,
Bị
hướng dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo.
Họ
mê ngủ triền miên,
Họ
không có tỉnh giác,
Nay
thật đã đến thời,
Họ
cần phải thức tỉnh.
(Thế
Tôn):
Những
ai với các pháp,
Khéo
liễu tri sáng suốt,
Không
bị dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo,
Họ
chứng Chánh đẳng giác.
Họ
liễu tri viên mãn,
Trên
đường không thăng bằng,
Họ
bước thật thăng bằng.
VIII.
Mê Loạn (Tạp 22.5, Ðại 2,154b. Biệt Tạp 9.5, Ðại 2,435c)
(S.i,4)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Những
ai đối các pháp,
Quá
đắm say mê loạn,
Bị
hướng dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo,
Họ
mê ngủ triền miên,
Họ
không có tỉnh giác,
Nay
thật đã đến thời,
Họ
cần phải thức tỉnh.
(Thế
Tôn):
Những
ai đối các pháp,
Không
đắm say mê loạn,
Không
bị dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo,
Họ
chứng Chánh đẳng giác.
Họ
liễu tri viên mãn,
Trên
đường không thăng bằng,
Họ
bước thật thăng bằng.
IX.
Mong Muốn Kiêu Mạn (Tạp 36.4, Ðại 2,261a. Biệt Tạp 8.2,
Ðại 2,426a) (S.i,4)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Ðối
vị ưa kiêu mạn,
Ở
đây không điều phục,
Không
trí tuệ sáng suốt,
Không
định tĩnh nhiếp tâm,
Ðộc
thân trú rừng núi,
Sống
với tâm phóng dật,
Vị
ấy không vượt khỏi,
Sự
chi phối ma lực.
(Thế
Tôn):
Từ
bỏ mọi kiêu mạn,
Tâm
tư khéo nhiếp định,
Với
tâm khéo tư sát,
Giải
thoát mọi phiền trược,
Ðộc
thân trú rừng núi (giới),
Với
tâm không phóng dật,
Vị
ấy vượt thoát khỏi,
Sự
chi phối ma lực.
X.
Rừng Núi (Tạp 36.3, Ðại 2,260c. Biệt Tạp 8.1, Ðại 2,426a)
(S.i,5)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Thường
sống trong rừng núi,
Bậc
Thánh sống Phạm hạnh,
Một
ngày ăn một buổi,
Sao
sắc họ thù diệu?
(Thế
Tôn):
Không
than việc đã qua,
Không
mong việc sắp tới,
Sống
ngay với hiện tại,
Do
vậy, sắc thù diệu.
Do
mong việc sắp tới,
Do
than việc đã qua,
Nên
kẻ ngu héo mòn,
Như
lau xanh rời cành.
II.
Phẩm Vườn Hoan Hỷ
I.
Vườn Hoan Hỷ (Tạp 22.1, Ðại 2,153c) (S.i,5) (Tăng 31.9.
Tứ Lạc, Ðại 2,672b) (Biệt Tạp 9.1, Ðại 2,435a)
Như
vậy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm),
tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Tại đấy, Thế
Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" -- "Thưa vâng, bạch
Thế Tôn".
Các
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
--
Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị Thiên thuộc cõi trời Ba
mươi ba, với chúng Thiên nữ vây quanh, du hí ở vườn Hoan
Hỷ, thọ hưởng năm thiên dục công đức. Bây giờ, vị Thiên
ấy nói lên bài kệ này:
Chúng
không biết đến lạc,
Nếu
không thấy Hoan Hỷ,
Chỗ
trú cả Trời, Người,
Cõi
ba mươi lừng danh.
Ðược
nghe nói vậy, này các Tỷ-kheo, một vị Thiên khác đáp vị
Thiên ấy với bài kệ:
Kẻ
ngu, sao không biết,
Vị
Ứng cúng đã nói:
"Mọi
hành là vô thường,
Tự
tánh phải sanh diệt,
Sau
khi sanh, chúng diệt,
Nhiếp
chúng là an lạc."
II.
Vui Thích (Tạp 36.12,Ðại 2,263a) (S.i,6) (Biệt Tạp 8,11,
Ðại 2,428a)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Cha
đối con vui thích ,
Chủ
với bò vui thích,
Người
sanh y, vui thích ,
Không
sanh y, không vui.
(Thế
Tôn):
Cha
đối con sầu muộn ,
Chủ
với bò sầu muộn,
Người
sanh y, sầu muộn,
Không
sanh y, không sầu.
III.
Không Ai Bằng Con (Tạp 36.14, Ðại 2,263b) (S.1,6) (Biệt Tạp
12.19, Ðại 2,458c)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Thương
ai bằng thương con,
Của
nào bằng bò nhà,
Sáng
nào bằng mặt trời,
Nước
nào hơn biển cả.
(Thế
Tôn):
Thương
ai bằng thương mình,
Của
nào bằng lúa gạo,
Sáng
nào bằng trí tuệ,
Nước
nào hơn mưa rào.
IV.
Giai Cấp Sát Ðế Lỵ (Tạp 36.15 Sát-lỵ, Ðại 2,263b) (S.i,6)
Giữa
các hàng hai chân,
Sát-lỵ
là tối thắng,
Giữa
các loài bốn chân,
Bò
đực là tối thắng,
Trong
các hàng thê thiếp,
Quý
nữ là tối thắng.
Trong
các hàng con trai,
Trưởng
nam là tối thắng.
(Thế
Tôn):
Giữa
các loài hai chân,
Chánh
giác là tối thắng.
Giữa
các loài bốn chân,
Thuần
chủng là tối thắng.
Trong
các hàng thê thiếp,
Nhu
thuận là tối thắng.
Trong
các hàng con trai,
Trung
thành là tối thắng.
V.
Tiếng Ðộng Rừng Sâu (hay Thân tịch tịnh) (S.i,7) (Tạp
50.II, An trú, Ðại 2,360b) (Biệt Tạp 16.26, Ðại 2,490b)
Nay
là thời giữa trưa,
Loài
chim nghỉ yên lặng,
Vang
động tiếng rừng sâu,
Ta
run, ta khiếp sợ.
(Thế
Tôn):
Nay
là thời giữa trưa,
Loài
chim nghỉ yên lặng,
Vang
động tiếng rừng sâu,
Ta
vui, Ta thích thú.
VI.
Ngủ Gục, Biếng Nhác (Tạp 22.23, Ðại 2,160a) (S.i,7) (Biệt
Tạp 9.15, Ðại 2,437c)
Ngủ
gục, nhác, ngáp dài,
Không
vui, ăn quá độ,
Ở
đây, đối chúng sanh,
Thánh
đạo không hiển lộ.
Ngủ
gục, nhác, ngáp dài,
Không
vui, ăn quá độ,
Với
tinh tấn, đoạn chúng,
Thánh
đạo được thanh tịnh.
VII.
Khó Làm (hay Con rùa) (Tạp 22.25, Ðại 2,169b) (S.i,7) (Biệt
Tạp 9,14, Ðại 2,437b)
Khó
làm, khó kham nhẫn,
Thiếu
trí, hành Sa-môn,
Chỗ
kẻ ngu thối đọa,
Chỗ
ấy đầy chướng ngại.
Bao
ngày hành Sa-môn
Nếu
tâm không chế ngự,
Mỗi
bước, phải sa đọa,
Nô
lệ cho suy tư,
Như
rùa rút chân cẳng,
Trong
mai rùa của mình.
Vị
Tỷ-kheo cũng vậy,
Thâu
nhiếp mọi suy tư,
Không
tham dính vật gì,
Không
làm hại người nào,
Hoàn
toàn thật tịch tịnh,
Không
chỉ trích một ai.
VIII.
Tàm Quý (S.i,7)
Người
được tàm chế ngự,
Tìm
được ai ở đời?
Ai
biết ngăn chỉ trích,
Như
ngựa hiền bóng roi.
Người
được tàm chế ngự,
Sống
thường thường chánh niệm,
Vị
ấy đạt kết quả,
Khổ
đau được đoạn tận,
Bước
những bước thăng bằng,
Trên
đường không thăng bằng.
IX.
Am Tranh (S.i.8)
Ngài
không có am tranh,
Ngài
không có tổ ấm,
Ngài
không có dây giăng,
Ngài
thoát khỏi hệ phược.
(Thế
Tôn):
Ta
không có am tranh,
Ta
không có tổ ấm,
Ta
không có dây giăng,
Ta
thoát khỏi hệ phược.
(Vị
Thiên):
Con
nói am là gì?
Nói
tổ ấm là gì?
Nói
dây giăng là gì?
Nói
hệ phược là gì?
(Thế
Tôn):
Ông
nói am là mẹ,
Nói
tổ ấm là vợ,
Nói
dây giăng là con,
Nói
hệ phược là ái.
(Vị
Thiên):
Lành
thay, Ngài không am!
Lành
thay, không tổ ấm!
Lành
thay, không dây giăng!
Lành
thay, Ngài thoát phược!
X.
Samiddhi (Tạp 38.17, Ðại 2,281c) (S.i,8) (Biệt Tạp I.17) Ðại
2,379a)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Vương Xá tại Tapodàràma (Tịnh xá Suối
nước nóng).
2)
Tôn giả Samiddhi, khi đêm đã gần tàn, thức dậy và đi đến
suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay
chân, ra khỏi suối nước nóng, Tôn giả đứng, đắp một
tấm y để phơi tay chân cho khô.
3)
Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù
thắng, chói sáng toàn vùng suối nước nóng, đi đến Tôn
giả Samiddhi, sau khi đến, đứng giữa hư không, nói lên bài
kệ với Tôn giả Samiddhi:
Không
hưởng, Ông khất thực,
Nay
khất thực, không hưởng,
Hãy
hưởng rồi khất thực,
Chớ
uổng phí thời gian.
(Samiddhi):
Thời
Ông, ta không biết.
Thời
ta, ẩn không hiện.
Không
hưởng, ta khất thực,
Không
uổng thời gian ta.
4) Rồi
vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với Tôn giả Samiddhi:
--
Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu,
tóc còn đen nhánh trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ
của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các ái dục. Này Tỷ-kheo,
hãy thọ hưởng các ái dục của người đời. Chớ có bỏ
hiện tại mà chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
5)
-- Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại và chạy theo những
gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ
những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại.
Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói, các dục bị thời gian chi
phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não (Upàyàsà); nguy hiểm
ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại,
không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả
năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.
6)
-- Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục
bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não,
nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về
hiện tại là pháp này, không bị thời gian chi phối, đến
để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí
mới tự mình giác hiểu?
7)
-- Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến
đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho
Ông pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá) tại tịnh xá Tapoda (Suối
nước nóng) hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế
Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
8)
-- Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp
bậc Thế Tôn ấy, một bậc được chư Thiên khác, có đại
uy lực đoanh vây. Này Tỷ-Kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế
Tôn ấy và hỏi ý nghĩa này, chúng tôi có thể đến để
nghe pháp.
9)
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn
giả Samiddhi vâng đáp vị Thiên ấy, đi đến Thế Tôn, sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi
xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
10)
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi đêm đã gần tàn, con thức
dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân.
Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, con đứng
đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Bạch Thế Tôn,
rồi một vị Thiên, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù
thắng, chói sáng toàn vùng nước nóng, đi đến con, sau khi
đến, đứng giữa hư không và nói lên bài kệ này:
"Không
hưởng, Ông khất thực,
Nay
khất thực, không hưởng,
Hãy
hưởng rồi khất thực,
Chớ
uổng phí thời gian."
11) Khi
nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời với vị Thiên ấy
bằng bài kệ:
"Thời
Ông, ta không biết,
Thời
ta, ẩn không hiện,
Không
hưởng, ta khất thực,
Không
uổng thời gian ta."
12) Bạch
Thế Tôn, rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với
con:
"--
Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu,
tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của
tuổi đời, Ông không thọ hưởng các dục. Này Tỷ-kheo, hãy
thọ hưởng các dục lạc của người đời. Chớ có bỏ hiện
tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối."
13)
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên
ấy:
"--
Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại để chạy theo những
gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ
những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại.
Những gì thuộc thời gian, này Hiền giả, là các dục, được
nói đến là nhiều khổ đau, nhiều phiền não (upàyàsa), nguy
hiểm ở đấy lại nhiều hơn. Còn pháp này thuộc hiện tại,
không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả
năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu."
14)
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với
con:
"--
Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục
bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não,
nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về
hiện tại là pháp này không bị thời gian chi phối, đến
để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí
mới tự mình giác hiểu?"
15)
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên
ấy:
"--
Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây
không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông về
pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá), tại tịnh xá Tapoda (Suối
nước nóng). Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế
Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì."
16)
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với
con:
" --
Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc
Thế Tôn ấy, một bậc được các chư Thiên khác có đại
uy lực đoanh vây. Này Tỷ-kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế
Tôn và hỏi ý nghĩa ấy, chúng tôi cũng sẽ đến và nghe pháp."
--
Bạch Thế Tôn, nếu vị Thiên ấy nói sự thật, thời vị
ấy ở đây, không xa bao nhiêu.
17)
Khi được nói vậy, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Samiddhi
như sau:
--
Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Tôi đã đến
rồi.
18)
Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ với vị Thiên ấy:
Chúng
sanh được hiểu biết,
Những
điều được nói lên,
Và
chấp trước thái độ,
Trên
những điều được nói.
Nếu
họ không liễu tri
Những
điều được nói lên,
Họ
đi đến trói buộc.
Do
thần chết chi phối,
Nếu
họ liễu tri được
Những
điều được nói lên,
Họ
không có tưởng tri,
Những
điều được nói ra.
Ðối
với vị như vậy,
Lỗi
lầm nhất định không.
Nếu
các Ông có biết,
Hãy
nói lên Dạ-xoa.
19) --
Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay,
nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách
rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
(Thế
Tôn):
20)
Bằng,
thắng hay thua Ta,
Nghĩ
vậy đấu tranh khởi;
Cả
ba không dao động,
Bằng,
thắng không khởi lên.
Nếu
như Ông có biết,
Hãy
nói lên, Dạ-xoa.
21) --
Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay,
nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách
rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
22)
(Thế Tôn):
Hãy
từ bỏ tính toán,
Không
chạy theo hư tưởng,
Từ
bỏ mọi tham ái,
Ðối
danh sắc ở đời,
Vị
ấy đoạn triền phược,
Không
lo âu, không ái.
Chư
Thiên và loài Người,
Ðời
này hay đời sau,
Ở
cảnh giới chư Thiên,
Hay
tại mọi trú xứ,
Tìm
cầu nhưng không gặp,
Vết
tích của vị ấy.
Nếu
Ông biết người ấy
Hãy
nói lên, Dạ-xoa.
23) --
Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt của Thế Tôn, con hiểu
ý nghĩa rộng rãi như sau:
Khắp
thế giới chớ làm,
Ðiều
ác thân, miệng, ý,
Từ
bỏ mọi ái dục,
Chánh
niệm, tâm tỉnh giác,
Không
khổ hạnh ép xác,
Vô
bổ, không lợi ích.
III.
Phẩm Kiếm (S.I,13)
...
(Nhân duyên ở Sàvatthi). Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói
lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
I.
Kiếm:
Như
kiếm đã chạm da,
Như
lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo
hãy chánh niệm,
Xuất
gia bỏ ái dục.
(Thế
Tôn):
Như
kiếm đã chạm da,
Như
lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo
hãy chánh niệm,
Xuất
gia bỏ thân kiến.
II.
Xúc Chạm
Không
xúc, không có chạm,
Có
xúc, thời có chạm,
Nên
hại người không hại,
Tức
có xúc, có chạm,
Ai
hại người không hại,
Người
tịnh, không ô nhiễm,
Kẻ
ngu hái quả ác,
Như
ngược gió tung bụi.
III.
Triền Phược
Nội
triền và ngoại triền,
Chúng
sanh bị triền phược,
Con
hỏi Gotama,
Ai
thoát khỏi triền này?
(Thế
Tôn):
Người
trú giới có trí,
Tu
tập tâm và tuệ,
Nhiệt
tâm và thận trọng,
Tỷ-kheo
ấy thoát triền.
Với
ai, đã từ bỏ
Tham,
sân và vô minh,
Bậc
Lậu tận, ứng cúng,
Vị
ấy thoát triền phược.
Chỗ
nào danh và sắc,
Ðược
đoạn tận, vô dư,
Ðoạn
chướng ngại, sắc tưởng,
Chỗ
ấy triền phược đoạn.
IV.
Chế Ngự Tâm (S.i,14)
Chỗ
nào ý chế ngự,
Chỗ
ấy đau khổ tận.
Ý
chế ngự hoàn toàn,
Thoát
đau khổ hoàn toàn.
(Thế
Tôn):
Không
nên chế ngự ý,
Hoàn
toàn về mọi mặt,
Chớ
có chế ngự ý,
Nếu
tự chủ đạt được.
Chỗ
nào ác pháp khởi,
Chỗ
ấy chế ngự ý.
V.
Vị A-La-Hán (Tạp 22.6 - 7, La-hán, Ðại 2,154b (S.i,14) ( Biệt
Tạp 9.6, Ðại 2,435c)
Vị
Tỷ-kheo La-hán,
Ðã
làm điều phải làm,
Các
lậu được đoạn tận,
Thân
này, thân tối hậu.
Vị
ấy có thể nói:
"Chính
tôi vừa nói lên"
Vị
ấy có thể nói:
"Họ
nói là của tôi".
(Thế
Tôn):
Vị
Tỷ-kheo La-hán,
Ðã
làm điều phải làm,
Các
lậu được đoạn tận,
Thân
này, thân tối hậu.
Vị
ấy có thể nói:
"Chính
tôi vừa nói lên",
Vị
ấy có thể nói:
"Họ
nói là của tôi".
Vị
ấy khéo biết rõ,
Danh
xưng ở thế gian,
Vì
chỉ là danh xưng,
Vị
ấy cũng danh xưng.
(Vị
Thiên):
Vị
Tỷ-kheo La-hán,
Ðã
làm điều phải làm,
Các
lậu được đoạn tận,
Thân
này, thân tối hậu.
Có
phải Tỷ-kheo ấy,
Ði
gần đến kiêu mạn,
Khi
vị ấy có nói:
"Chính
tôi vừa nói lên".
Khi
vị ấy có nói:
"Họ
nói là của tôi"?
(Thế
Tôn):
Ai
đoạn tận kiêu mạn,
Không
còn những buộc ràng,
Mọi
hệ phược kiêu mạn,
Ðược
hoàn toàn đoạn tận.
Vị
có trí sáng suốt,
Vượt
khỏi mọi hư tưởng,
Vị
ấy có thể nói:
"Chính
tôi vừa nói lên",
Vị
ấy có thể nói:
"Họ
nói là của tôi".
Vị
ấy khéo biết rõ,
Danh
xưng ở thế gian,
Vì
chỉ là danh xưng,
Vị
ấy cũng danh xưng.
VI.
Ánh Sáng (Tạp, Ðại 2,360b) (S.i,15) (Biệt Tạp 15.12, Ðại
2,478c)
Vật
gì chiếu sáng đời,
Do
chúng, đời chói sáng?
Con
đến hỏi Thế Tôn,
Muốn
biết lời giải đáp.
(Thế
Tôn):
Bốn
vật chiếu sáng đời,
Thứ
năm, đây không có.
Ngày,
mặt trời sáng chói,
Ðêm,
mặt trăng tỏ rạng,
Lửa
cháy đỏ đêm ngày,
Chói
sáng khắp mọi nơi.
Chánh
giác sáng tối thắng,
Sáng
này, sáng vô thượng.
VII.
Nước Chảy (S.i,15)
Chỗ
nào nước chảy ngược?
Chỗ
nào nước xoáy dừng?
Chỗ
nào danh và sắc,
Ðược
đoạn diệt, không dư?
Chỗ
nào nước và đất,
Lửa,
gió không vững trú,
Do
vậy nước chảy ngược,
Chỗ
ấy nước xoáy dừng,
Chỗ
ấy danh và sắc,
Ðược
đoạn diệt, không dư.
VIII.
Giàu Lớn (S.i,15)
Sát-đế-lỵ
giàu lớn,
Tài
sản, quốc độ lớn,
Luôn
luôn ganh tị nhau,
Hưởng
dục không biết ngán,
Giữa
người sống dao động,
Trôi
theo dòng tái sanh.
Ai
bỏ tật và ái,
Không
dao động giữa đời.
(Thế
Tôn):
Vị
xuất gia bỏ nhà,
Bỏ
con, gia súc, thân,
Bỏ
tham và bỏ sân,
Và
từ bỏ vô minh,
Bậc
Lậu tận, La-hán,
Không
dao động giữa đời.
IX.
Bốn Bánh Xe (S.i,16)
Bốn
bánh xe, chín cửa,
Ðầy
uế, hệ lụy tham,
Chìm
đắm trong bùn nhơ,
Ôi,
thưa bậc Ðại Hùng,
Sanh
thú người như vậy,
Tương
lai sẽ thế nào?
(Thế
Tôn):
Cắt
hỷ và buộc ràng,
Dục
tham và tà ác,
Ái
căn được đoạn tận,
Sanh
thú sẽ như vậy.
X.
Con Sơn Dương (S.i,16)
Chân
như chân sơn dương,
Vừa
thon lại vừa mạnh,
Ăn
uống có chừng mực,
Không
tham lam, say đắm,
Như
sư tử, voi rừng,
Ðộc
hành, không dục vọng.
Sau
khi đến, con hỏi,
Làm
sao thoát khổ đau?
(Thế
Tôn):
Có
năm dục ở đời,
Ý
căn là thứ sáu,
Ở
đây, từ ước muốn,
Như
vậy thoát khổ đau.
IV.
Phẩm Quần Tiên
I.
Với Người Thiện (S.i 16)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại
vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2)
Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn,
với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một
bên.
3)
Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Ðược
tốt hơn, không xấu.
4) Rồi
một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế
Tôn:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Ðược
tuệ, không gì khác.
5) Rồi
một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế
Tôn:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Không
sầu, giữa sầu muộn.
6) Rồi
một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế
Tôn:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Chúng
sanh sanh thiện thú.
8) Rồi
một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế
Tôn:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Chúng
sanh thường hưởng lạc.
9) Rồi
một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, ai đã nói lên một
cách tốt đẹp?
--
Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách
tốt đẹp. Tuy vậy, hãy nghe lời Ta nói:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Giải
thoát mọi khổ đau.
Thế
Tôn thuyết giảng như vậy. Quần Tiên ấy hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy.
II.
Xan Tham (Tạp, Ðại 2,354c) (Biệt Tạp, Ðại 2,473b) (S.i,18)
1)
Một thời Thế Tôn trú ơ ủ Sà vatthi, Jetavana, tại vườn
ông Anàthapindika.
2)
Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn,
với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một
bên.
3)
Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Vì
xan tham, phóng dật,
Như
vậy không bố thí,
Ai
ước mong công đức,
Có
trí nên bố thí.
4) Rồi
một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðiều
kẻ xan tham sợ,
Nên
không dám bố thí,
Sợ
ấy đến với họ,
Chính
vì không bố thí.
Ðiều
kẻ xan tham sợ,
Chính
là đói và khát,
Kẻ
ngu phải cảm thọ,
Ðời
này và đời sau.
Vậy
hãy chế xan tham,
Bố
thí, nhiếp cấu uế,
Chúng
sanh vững an trú,
Công
đức trong đời sau.
5) Rồi
một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Không
chết giữa người chết,
Như
thiện hữu trên đường,
San
sẻ lương thực hiếm,
Thường
pháp là như vậy.
Kẻ
ít, vui san sẻ,
Kẻ
nhiều khó, đem cho,
Bố
thí từ kẻ khó,
Ðong
được ngàn đồng vàng.
6) Rồi
một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Khó
thay sự đem cho,
Khó
thay làm hạnh ấy.
Kẻ
ác khó tùy thuận,
Khó
thay pháp bậc lành.
Do
vậy kẻ hiền, ác,
Sanh
thú phải sai khác,
Kẻ
ác sanh địa ngục,
Người
lành lên cõi trời.
7) Rồi
một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, vị nào đã nói một
cách tốt đẹp?
--
Về vấn đề này, tất cả các Ông đã nói một cách tốt
đẹp. Tuy vậy hãy nghe Ta:
Sở
hành vẫn chơn chánh,
Dầu
phải sống vụn vặt,
Dầu
phải nuôi vợ con,
Với
đồ ăn lượm lặt,
Nhưng
vẫn bố thí được,
Từ
vật chứa ít ỏi,
Từ
ngàn người bố thí,
Từ
trăm ngàn vật cho,
Trị
giá không ngang bằng,
Kẻ
bố thí như vậy.
8) Rồi
một vị Thiên khác nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Vì
sao họ bố thí,
Rộng
lớn nhiều như vậy,
Trị
giá không ngang bằng,
Kẻ
nghèo, chơn bố thí?
Sao
ngàn người bố thí,
Từ
trăm ngàn vật cho,
Trị
giá không ngang bằng,
Kẻ
bố thí như vậy?
9) Rồi
Thế Tôn nói lên bài kệ này với vị Thiên ấy:
Có
những người bố thí,
Một
cách bất bình thường,
Sau
khi chém và giết,
Mới
làm vơi nỗi sầu.
Sự
bố thí như vậy,
Ðầy
nước mắt đánh đập,
Trị
giá không ngang bằng,
Kẻ
nghèo, chơn bố thí.
Từ
ngàn người bố thí,
Từ
trăm ngàn vật cho,
Trị
giá không ngang bằng,
Kẻ
bố thí như vậy.
III.
Lành Thay (S.i,20)
1)
Ở Sàvatthi.
2)
Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, khi đêm đã gần mãn,
với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một
bên.
3)
Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên lời cảm hứng này
trước mặt Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí!
Kính
thưa bậc Tôn giả.
Vì
xan tham, phóng dật,
Như
vậy không bố thí,
Ai
ước mong công đức,
Có
trí nên bố thí.
4) Rồi
một vị Thiên khác nói lên lời cảm ứng này trước mặt
Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí,
Kính
thưa bậc Tôn giả!
Nhưng
thật tốt lành thay,
Bố
thí trong thiếu thốn!
Kẻ
ít, vui san sẻ,
Kẻ
nhiều khó, đem cho,
Bố
thí từ kẻ khó,
Ðong
được ngàn đồng vàng.
5) Rồi
một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt
Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí,
Kính
thưa bậc Tôn giả!
Nhưng
thật tốt lành thay,
Bố
thí trong thiếu thốn!
Lành
thay sự bố thí,
Phát
xuất từ lòng tin.
Bố
thí và đánh nhau,
Ðược
nói là bằng nhau,
Một
số ít kẻ lành,
Thắng
xa số đông người.
Ví
dầu cho có ít,
Nhưng
cho với lòng tin,
Do
vậy được an lạc,
Vì
lợi ích cho người.
6) Rồi
một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt
Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí,
Kính
thưa bậc Tôn giả!
Nhưng
thật tốt lành thay,
Bố
thí trong thiếu thốn!
Lành
thay sự bố thí,
Phát
xuất từ lòng tin!
Lành
thay sự bố thí,
Với
tài sản hợp pháp!
Ai
là người bố thí,
Với
tàn sản hợp pháp,
Do
nỗ lực tinh tấn,
Nhờ
vậy thâu hoạch được;
Vị
ấy vượt dòng suối,
Thần
chết Dạ-ma giới,
Sau
khi chết được sanh,
Chỗ
trú xứ chư Thiên.
7) Rồi
một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt
Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí,
Kính
thưa bậc Tôn giả!
Nhưng
thật tốt lành thay,
Bố
thí trong thiếu thốn!
Lành
thay sự bố thí,
Phát
xuất từ lòng tin!
Lành
thay sự bố thí,
Với
tài sản hợp pháp!
Lành
thay sự bố thí,
Có
suy tư sáng suốt!
Bố
thí có suy tư,
Bậc
Thiện Thệ tán thán.
Bố
thí cho những vị,
Ðáng
kính trọng ở đời,
Bố
thí những vị ấy,
Ðược
hưởng quả phước lớn,
Như
hạt giống tốt đẹp,
Gieo
vào ruộng tốt lành.
8) Rồi
một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt
Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí,
Kính
thưa bậc Tôn giả!
Nhưng
thật tốt lành thay,
Bố
thí trong thiếu thốn!
Lành
thay sự bố thí,
Phát
xuất từ lòng tin!
Lành
thay sự bố thí,
Với
tài sản hợp pháp!
Lành
thay sự bố thí,
Có
suy tư sáng suốt!
Lành
thay sự tự chế,
Ðối
với các chúng sanh!
Giữa
chúng sanh hữu tình,
Ai
sống không làm hại,
Sợ
người khác chỉ trích,
Không
làm ác, bất thiện,
Họ
khen kẻ nhút nhát,
Nhưng
chỉ trích người hùng,
Chính
sợ bị chỉ trích,
Người
lành không làm ác.
9) Rồi
một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, giữa chúng con, lời nói ai được tốt lành?
--
Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách
tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe lời của Ta:
Bố
thí với lòng tin,
Ðược
tán thán nhiều mặt,
Có
pháp hơn bố thí,
Pháp
ấy là Pháp cú.
Từ
xưa, từ xa xưa,
Người
lành, người chơn thiện,
Với
trí tuệ sáng suốt,
|