|

|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TƯƠNG
ƯNG BỘ
Samyutta Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2537 - 1993
TẬP I -
THIÊN CÓ KỆ
[02] Chương
II
Tương
Ưng Thiên Tử
I.
Phẩm Thứ Nhất (S.i,46)
I.
Kassapa - Ca-diếp (Tạp 49.24 - Ca-diếp, Ðại 2,361c) Biệt
Tạp 15.19, Ðại 2,480c)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại
vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thiên tử Kassapa
(Ca-diếp), sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng
chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên
tử Kassapa bạch Thế Tôn:
--
Thế Tôn đề cao Tỷ-kheo và sự giáo giới vị Tỷ kheo cho
chúng con.
2)
-- Vậy này Kassapa, hãy nói lên ở đây về vấn đề ấy.
3)
(Kassapa):
Hãy
học điều khéo nói,
Trong
hạnh nghiệp Sa-môn,
Vắng
lặng, ngồi một mình,
Với
tâm tư an tịnh.
4) Thiên
tử Kassapa nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Thiên
tử Kassapa, sau khi được biết: "Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận
ta", đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi
biến mất từ chỗ ấy.
II.
Kassapa (S.i,46) (Tạp 49.25 Ca-diếp, Ðại 2,361c) (Biệt Tạp
15.20, Ðại 2,480a)
1)
Tại Sàvatthi.
2)
Ðứng một bên, Thiên tử Kassapa nói lên bài kệ này trước
Thế Tôn:
Với
tâm tư giải thoát,
Vị
Tỷ-kheo tu thiền,
Và
với lòng ước vọng,
Ðạt
được tâm sở nguyện.
Sau
khi biết cuộc đời,
Hưng
thịnh và phế tàn,
Tâm
thuần, không nương tựa,
Hưởng
lợi quả như chơn.
III.
Màgha (S.i,47) (Tạp 49.16 Ma-khứu, Ðại 2,360c) (Biệt Tạp
15.11, Ðại 2,478c)
1)
Tại Sàvatthi.
2)
Rồi Thiên tử Màgha, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc
thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một
bên, Thiên tử Màgha nói với Thế Tôn bài kệ:
3)
Sát
vật gì được lạc?
Sát
vật gì không sầu?
Có
một pháp loại gì,
Ngài
tán đồng sát hại,
Tôn
giả Gotama?
4) (Thế
Tôn)
Sát
phẫn nộ được lạc,
Sát
phẫn nộ không sầu,
Phẫn
nộ với độc căn,
Với
vị ngọt tối thượng.
Pháp
ấy bậc Thánh Hiền,
Tán
đồng sự sát hại.
Sát
pháp ấy không sầu,
Này
Hiền giả Thiên nhân.
IV.
Màgadha
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Màgadha nói lên với Thế Tôn bài
kệ:
Vật
gì chiếu sáng đời,
Do
chúng, đời chói sáng?
Con
đến hỏi Thế Tôn,
Muốn
nghe lời giải đáp.
Bốn
vật chiếu sáng đời,
Thứ
năm đây không có,
Ngày,
mặt trời sáng chói,
Ðêm,
mặt trăng tỏ rạng,
Lửa
cháy đỏ đêm ngày,
Chói
sáng khắp mọi nơi,
Chánh
giác sáng tối thắng,
Sáng
này sáng vô thượng.
V.
Dàmali (Tạp 49.18, Ðàm-ma, Ðại 2,360c) (Biệt Tạp 15.13,
Ðại 2,478c)
1)
Tại Sàvatthi.
2)
Thiên tử Dàmali, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù
thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi
đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một
bên, Thiên tử Dàmali nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
3)
Ở
đây, Bà-la-môn,
Tinh
cần, không biếng nhác,
Ðoạn
trừ các dục vọng,
Nhờ
vậy không tái sanh.
4) Thế
Tôn bèn trả lời:
Ôi
này Dàmali,
Với
vị Bà-la-môn,
Không
còn gì phải làm,
Việc
phải làm đã làm,
Chính
là Bà-la-môn.
Chúng
sanh đủ tay chân,
Không
tìm được chân đứng,
Trôi
giạt và chìm nổi,
Trong
biển rộng, sông dài.
Tìm
được chỗ chân đứng,
Khô
ráo vị ấy đứng,
Ðã
đến bờ bên kia,
Vị
ấy không trôi giạt.
Vậy
này Dàmali,
Ví
dụ ấy là vậy.
Cũng
vậy Bà-la-môn,
Ðoạn
trừ các lậu hoặc,
Sáng
suốt và kín đáo,
Tinh
tấn tu Thiền định.
Vị
ấy đã đạt được,
Tận
cùng đường sanh tử,
Ðã
đến bờ bên kia,
Nên
không còn trôi giạt.
VI.
Kàmada (S.i,48) (Tạp 49.20 Thực trí, Ðại 2, 361a) (Biệt
Tạp 15.15, Ðại 2, 479a)
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Kàmada bạch Thế Tôn:
2)
Khó làm, bạch Thế Tôn,
Thế
Tôn, thật khó làm.
Tuy
vậy, Kàmada,
Họ
làm việc khó làm,
Chính
các vị hữu học,
Kiên
trì tu giới định,
Ðã
chọn đời xuất gia,
Biết
đủ, đem an lạc.
3)
Biết
đủ, bạch Thế Tôn,
Biết
đủ, thật khó được.
Tuy
vậy, Kàmada,
Họ
được điều khó được.
Những
vị lòng ưa thích,
Tâm
tư được điều tịnh,
Cả
ngày và cả đêm,
Ý
an lạc tu tập.
4)
Khó
tịnh, bạch Thế Tôn,
Tâm
ấy, thật khó tịnh.
Tuy
vậy, Kàmada,
Họ
tịnh tâm khó tịnh.
Những
vị lòng ưa thích,
Các
căn được tịch tịnh,
Cắt
đứt lưỡi tử thần,
Bậc
Hiền Thánh đi tới.
5)
Khó
đi, bạch Thế Tôn,
Con
đường thật lồi lõm.
Tuy
vậy, Kàmada,
Bậc
Hiền Thánh vẫn đi.
Trên
con đường khó đi,
Và
có nhiều lồi lõm,
Kẻ
phàm phu vấp ngã,
Trên
đường mất thăng bằng.
Con
đường đối bậc Thánh,
Là
con đường thăng bằng,
Bậc
Thánh bước thăng bằng,
Trên
đường mất thăng bằng.
VII.
Pancàlacanda (S.i, 48)( Tạp 49.12 Ban-xà-la, Ðại 2,358b) (Biệt
Tạp 15.7, Ðại 2, 477a)
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Pancàlacanda nói lên bài kệ này
trước Thế Tôn:
Dầu
giữa những chướng ngại,
Bậc
Ðại trí Chánh giác,
Vẫn
tìm được lối thoát,
Vượt
qua mọi chướng ngại.
Bậc
trí hiểu Thiền định,
Biết
từ bỏ, tối thắng,
Bậc
Mâu-ni, ẩn sĩ
2) Thế
Tôn lên tiếng:
Pancàlacanda,
Dầu
giữa những chướng ngại,
Họ
tìm được lối thoát,
Họ
tìm được Chánh pháp
Ðưa
đến quả Niết-bàn.
Những
vị đạt chánh niệm,
Kiên
trì không dao động,
Họ
là bậc chơn chánh,
Tâm
điều phục, định tĩnh.
VIII.
Tàyana (S.i,49) (Dhammapada 313, 314, 311, 312 Thera G 277)
1)
Rồi Thiên tử Tàyana, trước kia thuộc ngoại đạo sư, sau
khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn
vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế
Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tàyana
nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
2)
Ôi
này Bà-la-môn,
Tinh
tấn, cắt dòng nước,
Ðoạn
trừ và tiêu diệt,
Mọi
tham đắm dục vọng.
Ẩn
sĩ không đoạn dục,
Không
chứng được nhứt tâm.
Nếu
làm việc phải làm,
Cần
kiên trì, tinh tấn.
Xuất
gia, nếu biếng nhác,
Càng
tung vãi bụi trần.
Không
làm, hơn làm dở,
Làm
dở sau khổ đau.
Ðã
làm nên làm tốt,
Làm
tốt không khổ đau.
Như
nắm vụng lá cỏ,
Có
thể bị đứt tay.
Sa-môn
hạnh vụng tu,
Kéo
đến cõi địa ngục.
Mọi
sở hành biếng nhác,
Mọi
hạnh tu ô nhiễm,
Ác
hạnh trong Phạm hạnh,
Không
đưa đến quả lớn.
3) Thiên
tử Tàyana nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn,
thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.
4)
Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, liền gọi các Tỷ-kheo.
5)
-- Này các Tỷ-kheo, đêm nay Thiên tử Tàyana, trước kia thuộc
ngoại đạo sư, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù
thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta, sau khi đến,
đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử
Tàyana nói lên bài kệ này trước mặt Ta:
6)
"Ôi
này Bà-la-môn
Tinh
tấn cắt dòng nước,
Ðoạn
trừ và tiêu diệt,
Mọi
tham đắm dục vọng.
Ẩn
sĩ không đoạn dục,
Không
chứng được nhứt tâm.
Nếu
làm việc khó làm,
Cần
kiên trì tinh tấn,
Xuất
gia nếu biếng nhác,
Càng
tung vãi bụi trần.
Không
làm, hơn làm dở,
Làm
dở sau khổ đau.
Ðã
làm nên làm tốt,
Làm
tốt không khổ đau.
Như
nắm vụng lá cỏ,
Có
thể bị đứt tay,
Sa-môn
hạnh vụng tu,
Kéo
đến cõi địa ngục.
Mọi
sở hành biếng nhác,
Mọi
hạnh tu ô nhiễm,
Ác
hạnh trong Phạm hạnh,
Không
đưa đến quả lớn."
7) Này
các Tỷ-kheo, Thiên tử Tàyana nói như vậy. Nói vậy xong, đảnh
lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta và biến mất tại chỗ.
Này các Tỷ-kheo, hãy đọc bài kệ của Tàyana. Này các Tỷ-kheo,
hãy học thuộc lòng bài kệ của Tàyana. Này các Tỷ-kheo,
bài kệ của Tàyana có đầy đủ nghĩa lợi và chính là căn
bản của Phạm hạnh.
IX.
Candima (S.i,50) (Nguyệt Thiên tử, Tạp 22.8 Nguyệt Thiên
tử, Ðại 2, 155a) (Biệt Tạp 9.7, Ðại 2, 436a)
1)
Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ).
Lúc
bấy giờ, Thiên tử Candima bị Ràhu, vua A-tu-la bắt. Rồi Thiên
tử Candima, tưởng niệm đến Thế Tôn, trong lúc ấy nói lên
bài kệ này:
2)
Ðảnh
lễ đấng Giác Ngộ,
Bậc
Anh Hùng muôn thuở,
Ngài
là bậc Giải Thoát,
Thoát
ly thật viên mãn,
Còn
con bị trói buộc,
Hãy
cho con quy ngưỡng.
3) Rồi
Thế Tôn, vì Thiên tử Candima, nói lên bài lệ này cho Ràhu,
vua A-tu-la:
Canda
đã quy y,
Như
Lai, bậc La-hán,
Ràhu,
hãy thả nó,
Vì
chư Phật thương đời.
4) Rồi
Ràhu, vua A-tu-la, giải thoát cho Thiên tử Candima. Như bị hốt
hoảng, Ràhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la, run sợ, lông tóc
dựng ngược và đứng một bên. Và Vepacitti, vua A-tu-la, nói
lên bài kệ cho Ràhu, vua A-tu-la, đang đứng một bên:
5)
Vì
sao, như hốt hoảng,
Ràhu
thả Canda,
Ông
đến, lòng run sợ,
Ông
đứng, tâm kinh hoàng?
6)
--
Ðầu con bể thành bảy,
Ðời
con không hạnh phúc,
Với
lời kệ đức Phật,
Nếu
không thả Canda.
X.
Suriya: (S.i,51) Nhật Thiên tử
1)
Lúc bấy giờ, Thiên tử Suriya bị Ràhu, vua A-tu-la bắt. Rồi
Thiên tử Suriya tưởng niệm đến Thế Tôn, trong lúc ấy nói
lên bài kệ này:
2)
Ðảnh
lễ đấng Giác Ngộ,
Bậc
Anh Hùng muôn thuở,
Ngài
là bậc Giải Thoát,
Thoát
ly thật viên mãn,
Còn
con bị trói buộc,
Hãy
cho con quy ngưỡng.
3) Rồi
Thế Tôn, vì Thiên tử Suriya, nói lên bài kệ này cho Ràhu,
vua A-tu-la:
Suriya
đã quy y,
Như
Lai bậc La-hán,
Ràhu,
hãy thả nó,
Vì
chư Phật thương đời.
Ông
đi giữa hư không,
Chớ
nuốt Suriya,
Trong
thế giới tối tăm,
Ðã
đem lại ánh sáng,
Là
mặt trời sáng chói,
Là
dĩa tròn hực đỏ,
Là
lò lửa cháy nóng,
Là
bà con của Ta.
Này
Ràhu, (Ta nói):
Hãy
thả Suriya.
4) Rồi
Ràhu, vua A-tu-la, giải thoát cho Thiên tử Suriya. Như bị hốt
hoảng, Ràhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la run sợ, lông tóc dựng
ngược và đứng một bên. Và Vepacitti, vua A-tu-la, nói lên
bài kệ cho Ràhu, vua A-tu-la, đang đứng một bên:
5)
Vì
sao, như hốt hoảng,
Ràhu,
thả Suriya,
Ông
đến, lòng run sợ,
Ông
đứng, tâm kinh hoàng?
6)
--
Ðầu con bể thành bảy,
Ðời
con không hạnh phúc,
Với
lời kệ đức Phật,
Nếu
không thả Suriya.
II
Phẩm Cấp Cô Ðộc (S.i,51)
I.
Candimasa
Tại
Sàvatthi.
1)
Rồi Thiên tử Candimasa, sau khi đêm đã gần mãn,với dung sắc
thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một
bên, Thiên tử Candimasa nói lên bài kệ này trước mặt Thế
Tôn:
2)
Họ
sẽ đi an toàn,
Như
thú, vùng không muỗi,
Sau
khi chứng Thiền định,
Nhứt
tâm, niệm tỉnh giác,
Họ
sẽ đi bờ kia,
Như
cá, phá rách lưới,
Sau
khi chứng Thiền định,
Tự
chế, vượt lỗi lầm.
II.
Vendu (S.i,52)
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Vendu nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
2)
Hạnh
phúc thay những người,
Sau
khi hầu Thiện Thệ,
Tuân
phụng lời Ngài dạy,
Tu
học không phóng dật!
3) Thế
Tôn nói:
Vendu!
Những
ai Thiền tu học.
Trong
pháp cú Ta dạy,
Tinh
cần, không phóng dật,
Ðúng
thời họ sẽ đi,
Thoát
khỏi tay tử thần.
III.
Diighalatthi (S.i,52)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Trúc Lâm, tại chỗ
nuôi dưỡng các con sóc.
2)
Rồi Thiên tử Diighalatthi, sau khi đêm đã gần mãn, với dung
sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn,
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng
một bên, Thiên tử Diighalatthi nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Với
tâm tư giải thoát,
Vị
Tỷ-kheo tu Thiền,
Và
với lòng ước vọng,
Ðạt
được tâm sở nguyện,
Sau
khi biết cuộc đời,
Sanh
khởi rồi đoạn diệt,
Tâm
thuần không chấp trước,
Hưởng
lợi quả như chơn.
IV.
Nandana (S.i,52)
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Nandana nói bài kệ với Thế Tôn:
Con
hỏi Gotama,
Bậc
Ðại Giác toàn trí,
Con
hỏi đấng Thế Tôn,
Với
tri kiến vạn năng.
Người
nào gọi trì giới?
Người
nào gọi trí tuệ?
Người
nào vượt sầu khổ?
Người
nào chư Thiên lạy?
2) (Thế
Tôn):
Ai
hộ trì giới luật,
Trí
tuệ, tâm tu trì,
Chú
tâm, vui Thiền định,
Tâm
tư trú chánh niệm,
Tất
cả mọi sầu khổ,
Ðược
trừ diệt, đoạn tận,
Các
lậu hoặc tận trừ,
Sống
với thân tối hậu,
Vị
ấy gọi trì giới,
Vị
ấy gọi trí tuệ,
Vị
ấy vượt sầu khổ,
Vị
ấy chư Thiên lạy.
V.
Candana: Chiên Ðàn (S.i,53)
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Candana nói lên bài kệ với Thế
Tôn:
Làm
sao vượt bộc lưu,
Ngày
đêm vững, kiên trì,
Không
trú, không bám víu,
Ai
không chìm vực sâu?
2) (Thế
Tôn):
Vị
luôn luôn trì giới,
Trí
tuệ, khéo định tĩnh,
Chí
siêng năng dõng mãnh,
Vượt
bộc lưu khó vượt.
Vị
đoạn, ly dục tưởng,
Vượt
khỏi sắc triền phược,
Ðoạn
tận hỷ, hữu ái,
Không
chìm xuống vực sâu.
VI.
Sudatta (Tu-đạt-đa)
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Sudatta nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Như
kiếm đã chạm da,
Như
lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo
hãy chánh niệm,
Xuất
gia, bỏ ái dục.
2) (Thế
Tôn):
Như
kiếm đã chạm da,
Như
lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo
hãy chánh niệm,
Xuất
gia, bỏ thân kiến.
VII.
Subrahmà (S.i,53)
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Subrahmà nói lên bài kệ với Thế
Tôn:
Tâm
này thường sợ hãi,
Ý
này thường dao động,
Ðiều
mong ước không khởi,
Ðiều
không mong lại khởi,
Nếu
có, không sợ hãi,
Hãy
nói điều con hỏi.
2) (Thế
Tôn):
Không
ngoài hạnh giác chi,
Không
ngoài hộ trì căn,
Không
ngoài bỏ tất cả,
Ta
thấy các pháp ấy,
Ðưa
đến sự an toàn,
Cho
tất cả chúng sanh.
3) Rồi
Thiên tử biến mất tại chỗ ấy.
VIII.
Kakudha (S.i,54)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàketa, rừng Anjana, tại vườn Nai. Rồi
Thiên tử Kokudha, sau khi đêm đã gần mãn, với nhan sắc thù
thắng chói sáng toàn khu rừng Anjana, đi đến Thế Tôn, sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
2)
Ðứng một bên, Thiên tử Kakudha bạch Thế Tôn:
--
Thưa Sa-môn, Ngài có hoan hỷ không?
--
Ta được cái gì, này Hiền giả, mà Ta hoan hỷ?
--
Nếu vậy, thưa Sa-môn, có phải Ngài sầu muộn?
--
Ta mòn mỏi cái gì, này Hiền giả, mà Ta sầu muộn?
--
Vậy thời thưa Sa-môn, Ngài không hoan hỷ và không sầu muộn?
--
Thật như vậy, này Hiền giả.
3)
Làm
sao, này Tỷ-kheo,
Ngài
không có sầu muộn,
Tuy
vậy, Ngài cũng không
Có
được sự hoan hỷ?
Làm
sao nay Ngài lại,
Ngồi
cô độc một mình,
Không
có được hoan hỷ,
Cũng
không bị dao động?
4)
Thật
sự, này Dạ-xoa,
Ta
không có sầu muộn,
Tuy
vậy ở nơi Ta,
Hoan
hỷ không khởi lên,
Dầu
nay Ta có ngồi,
Riêng
một mình cô độc,
Ta
không có hoan hỷ,
Cũng
không bị dao động.
5)
Làm
sao, này Tỷ-kheo,
Ngài
không có sầu muộn,
Làm
sao ở nơi Ngài,
Hoan
hỷ không khởi lên?
Làm
sao nay Ngài lại,
Ngồi
cô độc một mình,
Không
có được hoan hỷ,
Cũng
không bị dao động?
6)
Hoan
hỷ chỉ có đến,
Với
người tâm sầu muộn,
Sầu
muộn chỉ có đến,
Với
người tâm hoan hỷ.
Do
vậy, vị Tỷ-kheo,
Không
hoan hỷ, sầu muộn.
Vậy
nên, này Hiền giả,
Ông
phải biết như vậy.
7)
Ðã
lâu, con mới thấy,
Bà-la-môn
tịch tịnh,
Vị
Tỷ-kheo không sầu,
Cũng
không có hoan hỷ,
Ðã
an toàn vượt khỏi,
Chỗ
người đời đắm say.
IX.
Uttara (S.i,54)
1)
Nhân duyên tại thành Vương Xá.
Ðứng
một bên, Thiên tử Uttara nói lên bài kệ này trước mặt
Thế Tôn:
2)
Mạng
sống bị dắt dẫn,
Tuổi
thọ chẳng là bao,
Bị
dẫn đến già nua,
Không
có nơi dừng bước.
Ai
đem tâm quán tưởng,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
làm các công đức,
Ðưa
đến chơn an lạc.
3)
Mạng
sống bị dắt dẫn,
Tuổi
thọ chẳng là bao,
Bị
dẫn đến già nua,
Không
có nơi dừng bước.
Ai
đem tâm quán tưởng,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
bỏ mọi thế lợi,
Tâm
hướng cầu tịch tịnh.
X.
Anàthapindika: Cấp Cô Ðộc (S.i,55)
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói lên bài kệ này
trước mặt Thế Tôn:
Ðây
là rừng Kỳ Viên,
Chỗ
trú xứ Thánh chúng,
Chỗ
ở đấng Pháp Vương,
Khiến
tâm con hoan hỷ.
Nghiệp,
minh và tâm pháp,
Giới
và tối thắng mạng,
Chính
những diệu pháp ấy,
Khiến
chúng sanh thanh tịnh,
Không
phải vì dòng họ,
Không
phải vì tài sản.
Do
vậy bậc Hiền giả,
Thấy
lợi ích chính mình,
Chánh
giác sát tâm pháp,
Như
vậy được thanh tịnh.
Như
ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ,
giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo
đến bờ giác,
Ở
đây là tối thượng.
2) Thiên
tử Anàthapindika nói như vậy, nói vậy xong, đảnh lễ Thế
Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ
ấy.
3)
Rồi Thế Tôn sau khi đêm ấy đã qua, liền gọi các Tỷ-kheo
và nói:
4)
-- Này các Tỷ-kheo, đêm nay có Thiên tử, sau khi đêm đã gần
mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana,
đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên.
Ðứng một bên, này các Tỷ-kheo, vị Thiên tử ấy nói lên
bài lệ này trước mặt Ta:
5)
"Ðây
là rừng Kỳ Viên,
Chỗ
trú xứ Thánh chúng,
Chỗ
ở đấng Pháp Vương,
Khiến
tâm con hoan hỷ.
Nghiệp,
minh và tâm pháp,
Giới
và tối thắng mạng,
Chính
những diệu pháp ấy,
Khiến
chúng sanh thanh tịnh,
Không
phải vì dòng họ,
Không
phải vì tài sản.
Do
vậy bậc Hiền giả,
Thấy
lợi ích chính mình,
Chánh
giác sát tâm pháp,
Như
vậy được thanh tịnh.
Như
ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ,
giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo
đến bờ giác,
Ở
đây là tối thượng."
6) Này
các Tỷ-kheo, Thiên tử ấy nói như vậy, nói vậy xong, đảnh
lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
7)
Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, có phải vị Thiên tử ấy là Anàthapindika?
Gia chủ Anàthapindika hết dạ tín thành đối với Tôn giả
Sàriputta?
8)
-- Lành thay! Lành thay! Này Ananda, cho đến những gì có thể
đạt được nhờ suy diễn, này Ananda, Ông đã đạt được.
Này Ananda, Anàthapindika là vị Thiên tử ấy.
III.
Phẩm Các Ngoại Ðạo (S.i,56)
I.
Siva
1)
Như vậy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm),
tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thiên tử
Siva, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói
sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử
Siva nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2)
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Chỉ
tốt hơn, không xấu.
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Ðược
tuệ, không gì khác.
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Không
sầu giữa sầu muộn.
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Chói
sáng giữa quyến thuộc.
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Chúng
sanh sanh thiện thú.
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền
Chúng
sanh thường hưởng lạc.
3) Rồi
Thế Tôn đáp lại Thiên tử Siva với bài kệ:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Giải
thoát mọi khổ đau.
II.
Khema (S.i,57)
Ðứng
một bên, Thiên tử Khema nói lên bài kệ này trước mặt Thế
Tôn:
Kẻ
ngu không trí tuệ,
Lấy
ngã làm kẻ thù,
Tự
làm các ác nghiệp,
Ðưa
đến quả đắng cay.
Nghiệp
nào không khéo làm,
Làm
xong bị nung nấu,
Với
mặt đầy nước mắt,
Khóc
lóc chịu quả báo.
Và
nghiệp nào khéo làm,
Làm
xong, không nung nấu,
Tâm
vui, ý thoải mái,
Vị
ấy hưởng quả báo.
Biết
điều lợi cho mình,
Làm
trước điều phải làm,
Không
tâm trạng đánh xe,
Kẻ
trí lòng tinh tấn.
Như
người chủ đánh xe,
Rời
đại đạo thăng bằng,
Leo
lên đường lồi lõm,
Ưu
tư nạn gãy trục.
Cũng
vậy bỏ Chánh pháp,
Người
ngu theo phi pháp,
Rơi
vào miệng tử thần,
Ưu
tư như gãy trục.
III.
Serì (S.i,57)
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Serii nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Cả
hai loại Trời, Người,
Ðều
ưa thích ăn uống,
Có
Dạ-xoa tên nào,
Lại
không thích ăn uống!
(Thế
Tôn)
Ai
cho với lòng tin,
Với
tâm tư thanh tịnh,
Ðược
phần món ăn ấy,
Ðời
này và đời sau.
Vậy
hãy ngăn xan tham,
Bố
thí, nhiếp cấu uế,
Chúng
sanh vẫn hưởng thọ,
Công
đức trong đời sau.
2) --
Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch
Thế Tôn! Thế Tôn đã nói điều khéo nói như vậy:
"Ai
cho với lòng tin,
Với
tâm tư thanh tịnh,
Ðược
phần món ăn ấy,
Ðời
này và đời sau.
Vậy
hãy ngăn xan tham,
Bố
thí, nhiếp cấu uế,
Chúng
sanh vẫn hưởng thọ,
Công
đức trong đời sau."
3) Bạch
Thế Tôn, thuở xưa con là vị vua tên Serì ưa bố thí, là
bậc thí chủ tán thán bố thí. Bạch Thế Tôn, tại bốn cửa
thành, bố thí được phân phát nhân danh con, cho những ai đến
xin, cho các vị Bà-la-môn và Sa-môn, cho các người nghèo đói
và tàn phế, cho các nhà lữ hành và hành khất.
4)
Bạch Thế Tôn, khi con đến các cung phi của con, họ thưa với
con: "Ðại vương thường hay bố thí, còn chúng con chưa bố
thí. Lành thay nếu chúng con được nương tựa Ðại vương
để bố thí và làm các công đức."
5)
Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Ta là người ưa bố thí,
là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế
nào khi họ đến và thưa: 'Chúng ta hãy bố thí'?". Bạch Thế
Tôn, con cho các cung phi cửa thành thứ nhất. Ở đây các cung
phi được bố thí, và bố thí của con trở lui lại cho con.
6)
Rồi bạch Thế Tôn, các Sát-đế-lỵ (Khattiya) chư hầu của
con đến con và thưa: "Ðại vương đã bố thí. Các cung phi
đã bố thí. Chúng con chưa bố thí. Lành thay nếu chúng con
được nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các công
đức".
Bạch
Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Ta là người ưa bố thí, là
thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào
khi họ đến và thưa: "Chúng ta hãy bố thí"?". Bạch Thế Tôn,
con cho các chư hầu Khattiya cửa thành thứ hai. Ở đây các
chư hầu Khattiya được bố thí, và bố thí của con được
trở lui lại cho con.
7)
Rồi bạch Thế Tôn, quân đội đến con và thưa: "Ðại vương
đã bố thí. Các cung phi đã bố thí. Các chư hầu Khattiya
đã bố thí. Chúng con chưa bố thí. Tốt lành thay nếu chúng
con được nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các
công đức".
Bạch
Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Ta là người ưa bố thí, là
thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào
khi họ đến và thưa: "Chúng ta hãy bố thí"?". Bạch Thế Tôn,
con cho quân đội cửa thành thứ ba. Ở đây quân đội được
bố thí và bố thí của con được trở lui lại cho con.
8)
Rồi bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn gia chủ đến con và thưa:
"Ðại vương đã bố thí. Các cung phi đã bố thí. Các chư
hầu Khattiya đã bố thí. Quân đội đã bố thí. Chúng con
chưa bố thí. Tốt lành thay nếu chúng con được nương tựa
Ðại vương để bố thí và làm các công đức!".
Bạch
Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Ta là người ưa bố thí, là
thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào
khi họ đến và thưa: "Chúng ta hãy bố thí"?". Bạch Thế Tôn,
con cho các Bà-la-môn gia chủ cửa thành thứ tư. Ở đây các
Bà-la-môn gia chủ được bố thí và bố thí của con được
trở lui lại cho con.
9)
Rồi bạch Thế Tôn, các người của con đến con và thưa:
"Nay Ðại vương không còn bố thí nào để cho nữa".
Khi
được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các người ấy
như sau: "Này các Ông, các thuế má thâu hoạch được từ
các nước ngoài vào, một nửa hãy gửi vào trong nội thành,
một nửa ngay tại chỗ ấy đem bố thí cho các vị Sa-môn,
Bà-la-môn, các người nghèo và tàn tật, các nhà lữ hành
và hành khất".
10)
Như vậy, bạch Thế Tôn, con không chấm dứt trong một thời
gian dài các việc làm công đức, trong một thời gian dài các
việc làm thiện, những việc làm được con xem như là công
đức, hay như là công đức quả hay như là những điều kiện
được sanh thiên giới.
11)
Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch
Thế Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy:
"Ai
cho với lòng tin,
Với
tâm tư thanh tịnh,
Ðược
phần món ăn ấy,
Ðời
này và đời sau.
Vậy
hãy ngăn xan tham,
Bố
thí, nhiếp cấu uế,
Chúng
sanh vẫn hưởng thọ,
Công
đức trong đời sau."
IV.
Ghatìkara (S.i,60)
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Ghatìkara nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Ðược
sanh Vô phiền thiên,
Bảy
Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn
tận tham và sân,
Siêu
thoát đời ái trược.
2)
Vượt
bùn, họ là ai?
Khó
vượt lệnh thần chết,
Sau
khi bỏ thân người,
Họ
thoát ách chư Thiên.
3)
Họ
là Upaka,
Và
Phalaganda,
Với
Pukkusàti,
Hợp
thành là ba vị.
Lại
thêm Bhaddiya,
Với
Khandadeva,
Và
Bàhuraggi,
Cùng
với Pingiya,
Sau
khi bỏ thân người,
Họ
thoát ách chư Thiên.
4) (Thế
Tôn):
Ông
nói điều tốt lành,
Về
bảy Tỷ-kheo ấy,
Họ
thoát ly, đoạn trừ,
Các
cạm bẫy Ma vương.
Pháp
họ biết, của ai
Ðoạn
được hữu kiết sử?
5) (Ghatìkara):
Không
ai ngoài Thế Tôn,
Chính
thật giáo lý Ngài,
Họ
biết pháp của Ngài,
Ðoạn
được hữu kiết sử.
Chỗ
nào danh và sắc,
Ðược
đoạn diệt không dư,
Họ
học được pháp ấy,
Ở
đây từ nơi Ngài.
Nhờ
vậy họ đoạn trừ,
Hữu
kiết sử trói buộc.
6) (Thế
Tôn):
Lời
Ông nói thâm sâu,
Khó
biết, khó chứng ngộ,
Pháp
Ông biết của ai,
Sao
Ông không nói được?
7) (Ghatìkara):
Thuở
xưa, con thợ gốm,
Tại
Vehalinga,
Và
con được tên gọi,
Là
Ghatìkara.
Chính
con lo nuôi dưỡng
Cả
mẹ lẫn cả cha,
Ðối
với Phật Ca-diếp,
Con
đệ tử tại gia.
Con
viễn ly dâm dục,
Phạm
hạnh, không thế vật,
Thuở
xưa, con đồng hương,
Cũng
là bạn của họ
Do
vậy con biết họ,
Bảy
Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn
tận tham và sân,
Vượt
qua đời phiền trược.
8) (Thế
Tôn):
Vậy
này Bhaggava,
Chính
như Ông vừa nói,
Thuở
xưa, Ông thợ gốm,
Tại
Vehalinga,
Và
Ông được tên gọi,
Là
Ghatìkara,
Chính
Ông lo nuôi dưỡng
Cả
mẹ lẫn cả cha,
Ðối
với Phật Ca-diếp,
Ông
đệ tử tại gia,
Ông
viễn ly dâm dục,
Phạm
hạnh, không thế vật.
9)
Thuở
xưa, Ông đồng hương,
Cũng
là bạn của Ta.
Như
vậy là hội ngộ,
Giữa
những bạn thuở xưa,
Cả
hai khéo tu tập,
Mang
thân này tối hậu.
V.
Jantu ( S.i,61)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời một số đông Tỷ-kheo trú ở Kosala (Câu-tát-la), trên
sườn núi Himavanta (Tuyết sơn), tại một cốc nhỏ trong rừng.
Họ tự cao, tự mãn, dao động, lắm mồm lắm miệng, ăn nói
huyên thuyên, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh,
tâm tư tán loạn, các căn không chế ngự.
2)
Rồi Thiên tử Jantu, vào đêm Bố-tát, ngày rằm, đi đến
các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến nói lên bài kệ với các Tỷ-kheo
ấy:
Các
Tỷ-kheo thuở xưa,
Sống
thật chơn an lạc,
Họ
thật là đệ tử,
Bậc
Ðại Giác Cù-đàm.
Không
ham tìm món ăn,
Không
ham tìm chỗ trú,
Biết
đời là vô thường,
Họ
chấm dứt khổ đau.
Nay
tự làm ác hạnh,
Như
thôn trưởng trong làng.
Họ
ăn, ăn ngả gục,
Thèm
khát vật nhà người.
Con
vái chào chúng Tăng,
Ðảnh
lễ một vài vị
Kẻ
khác, sống vất vưởng,
Không
chỉ đạo, hướng dẫn.
Họ
giống như thân thể
Kẻ
chết bị quăng bỏ.
Những
ai sống phóng dật,
Vì
họ con nói lên,
Những
ai không phóng dật,
Chân
thành, con đảnh lễ.
VI.
Rohita (S.i,61)
1)
Tại Sàvatthi (Xá-vệ).
2)
Ðứng một bên, Thiên tử Rohitassa bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, tại chỗ nào không có sanh, không có già, không
có chết, không có diệt, không có khởi, làm sao, bạch Thế
Tôn, với bộ hành, có thể biết được, hay thấy được,
hay đạt được sự tận cùng của thế giới?
3)
-- Này Hiền giả, tại chỗ nào không có sanh, không có già,
không có chết, không có diệt, không có khởi, Ta nói rằng
(tại chỗ ấy), không có thể với bộ hành, biết được,
hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới.
4)
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch
Thế Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy: "Này
Hiền giả, tại chỗ nào không sanh, không già, không chết,
không diệt, không khởi, Ta nói rằng tại chỗ ấy, không có
thể với bộ hành biết được, hay thấy được, hay đạt
được sự tận cùng của thế giới".
5)
Bạch Thế Tôn, thuở trước, con tên là Rohita con của Bhoja,
có thần thông, có thể đi giữa hư không. Bạch Thế Tôn,
tốc lực con mau lẹ cho đến con có thể bay, như người thợ
bắn cung lão luyện, khéo tập, khéo luyện, thuần thục, thiện
xảo, với
một cây cung chắc mạnh không gì khó khăn, có thể
bắn một mũi tên nhẹ bay vượt qua bóng tối của cây tala.
6)
Và bạch Thế Tôn, bước đi của con dài cho đến con có thể
bước từ biển phía Ðông qua biển phía Tây. Và ở nơi con,
bạch Thế Tôn, khởi lên sự ước muốn như sau: "Với bộ
hành, ta có thể đạt đến được sự tận cùng của thế
giới".
7)
Và bạch Thế Tôn, dầu cho tốc lực của con mau đến như
vậy, và dầu cho con có bước dài đến như vậy, và dầu
cho con không có dừng để ăn, hay uống, hay nhai, hay nếm, dầu
cho con không có đại tiện, tiểu tiện, dầu cho con không ngủ,
không bị mệt nhọc, không trừ cấu uế, dầu cho trăm năm
là tuổi thọ thường tình, dầu cho trăm năm là mạng sống
thường tình, tuy con đi hơn trăm năm và bị mệnh chung, con
cũng không thể đạt đến sự tận cùng của thế giới.
8)
Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế
Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy: "Này Hiền
giả, tại chỗ nào không sanh, không già, không chết, không
diệt, không khởi. Ta nói rằng tại chỗ ấy, không có thể
bộ hành, biết được hay thấy được sự tận cùng của
thế giới. Ta nói như vậy".
9)
-- Này Hiền giả, nhưng Ta cũng không nói rằng không đạt
được sự tận cùng của thế giới thời chấm dứt cuộc
khổ đau. Này Hiền giả, chính trong cái thân thể dài một
tầm có tưởng, có ý này, Ta tuyên bố thế giới, nguyên nhân
của thế giới, sự đoạn diệt thế giới và con đường
đưa đến sự đoạn diệt của thế giới.
10)
Bộ
hành không bao giờ
Ðạt
được thế giới tận,
Không
đạt thế giới tận,
Không
thể thoát khỏi khổ.
Do
vậy, bậc Hiền thiện,
Thế
gian giải, Thiện tuệ,
Ðạt
đến thế giới tận,
Phạm
hạnh được viên thành.
Với
tâm tư định tĩnh,
Biết
được thế giới tận,
Không
ước vọng đời này,
Không
ước vọng đời sau.
VI.
Nanda: (S.i,62) (Xem trước I, 1*4).
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Nanda nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Thời
gian lặng trôi qua,
Ðêm
ngày luôn di động,
Tuổi
tác buổi thanh xuân,
Tiếp
tục bỏ chúng ta.
Những
ai chịu quán sát,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
làm các công đức,
Ðược
hưởng cảnh an lạc.
2) (Thế
Tôn):
Thời
gian lặng trôi qua,
Ðêm
ngày luôn di động,
Tuổi
tác buổi thanh xuân,
Tiếp
tục bỏ chúng ta.
Những
ai chịu quán sát,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
bỏ mọi thế lợi,
Ðược
hưởng chơn tịch tịnh.
VII.
Nandivisàla: (S.i,63)
1)
Ðứng một bên, Thiên tử Nandivisàla nói lên bài kệ với
Thế Tôn:
Bốn
bánh xe chín cửa,
Ðầy
uế, hệ lụy tham,
Chìm
đắm trong bùn nhơ,
Ôi!
Thưa bậc Ðại Hùng,
Sanh
thú Ngài như vậy,
Tương
lai sẽ thế nào?
2) (Thế
Tôn): |