|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TƯƠNG
ƯNG BỘ
Samyutta Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2537 - 1993
TẬP I -
THIÊN CÓ KỆ
[10] Chương X
Tương Ưng
Dạ Xoa
I.
Indaka (S.i,206)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), núi Indakuuta,
tại trú xứ của Dạ-xoa Indaka.
2)
Rồi Dạ-xoa Indaka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những
bài kệ với Thế Tôn:
Chư
Phật, Ngài dạy rằng,
Sắc
không phải sinh mạng,
Vậy
sao sinh mạng này,
Lại
có trong thân này?
Từ
đâu xương thịt đến,
Trong
thân thể hiện tại?
Làm
sao sinh mạng này,
Gá
dính trong thai tạng?
3) (Thế
Tôn):
Trước
tiên, Kalala,
Rồi
từ Kalala,
Abbuda
có mặt.
Rồi
từ Abbuda,
Pesì
(thịt mềm) được sanh ra.
Pesì
sinh Ghana (thịt cứng),
Rồi
đến Pasàkha (chi tiết),
Tóc,
lông và các móng,
Tiếp
tục được sanh ra.
Những
gì người mẹ ăn,
Ðồ
ăn, đồ uống nào,
Con
người trong bụng mẹ,
Ở
đấy, lấy nuôi dưỡng.
II.
Sakka (S.i,206)
1)
Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) trên núi Gijjhakuuta
(Linh Thứu).
2)
Rồi Dạ-xoa tên Sakka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên
những bài kệ với Thế Tôn:
Thật
không tốt lành gì,
Một
Sa-môn như Ngài,
Ðã
đoạn mọi triền phược,
Ðã
sống chơn giải thoát,
Lại
tiếp tục giảng dạy,
Những
kẻ khác (tu học).
3) (Thế
Tôn):
Này
Dạ-xoa Sakka,
Dầu
vì lý do gì,
Loài
Người sống chung nhau,
Không
một lý do nào,
Xứng
đáng bậc trí tuệ,
Với
lòng từ lân mẫn,
Nếu
với tâm tín thành,
Giảng
dạy những người khác,
Do
vậy không hệ lụy,
Vì
lòng từ lân mẫn.
III.
Suciloma (S.i,207)
1)
Một thời Thế Tôn ở Gayà, trên hòn đá Tankita tại trú xứ
của Dạ-xoa Suciloma.
2)
Lúc bấy giờ, Dạ-xoa Khara và Dạ-xoa Suciloma đi ngang qua, không
xa Thế Tôn bao nhiêu.
3)
Rồi Dạ-xoa Khara nói với Dạ-xoa Suciloma:
--
Ðây là một Sa-môn.
4)
-- Ðây không phải Sa-môn. Ðây là Sa-môn giả. Hay ít nhất
cho đến khi ta biết được Sa-môn hay Sa-môn giả.
5)
Rồi Dạ-xoa Suciloma đi đến Thế Tôn, sau khi đến liền nghiêng
thân về phía Thế Tôn.
6)
Thế Tôn liền tránh né thân của mình.
7)
Dạ-xoa Suciloma nói với Thế Tôn: -- Có phải Sa-môn sợ ta?
8)
-- Này Hiền giả, Ta không sợ Ông. Nhưng xúc chạm với Ông
là điều đáng ghét (pàpaka).
9)
-- Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ông một câu. Nếu Ông không trả
lời ta được, ta sẽ làm tâm Ông điên loạn, hay ta làm Ông
bể tim, hay nắm lấy chân, ta sẽ quăng Ông qua bờ bên kia
sông Hằng.
10)
-- Này Hiền giả, ở thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm
thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và
loài Người, Ta không thấy một ai có thể làm tâm Ta điên
loạn, hay làm bể tim Ta, hay nắm lấy chân Ta, quăng Ta qua bờ
bên kia. Tuy vậy, này Hiền giả, hãy hỏi đi như Ông muốn.
11)
(Dạ-xoa):
Tham
dục và sân hận,
Do
nhân gì sanh khởi?
Bất
mãn và thỏa mãn,
Sợ
hãi từ đâu sanh?
Từ
đâu được khởi lên,
Các
tư tưởng, tư duy,
Như
quạ được bầy trẻ,
Thả
bay rồi kéo lại?
12) (Thế
Tôn):
Tham
dục và sân hận,
Do
nhân này sanh khởi,
Bất
mãn và thỏa mãn,
Sợ
hãi từ đây sanh.
Từ
đây được khởi lên,
Các
tư tưởng, tư duy,
Như
quạ được bầy trẻ,
Thả
bay rồi kéo lại.
Chính
do tham ái sanh,
Chính
do tự ngã sanh.
Như
cây nigroda (cây bàng),
Do
từ thân cây sanh.
Phàm
phu bám ác dục,
Như
cây leo khắp rừng.
Những
ai hiểu biết được,
Do
nhân ấy sanh khởi,
Họ
diệt trừ nhân ấy.
Hãy
nghe, này Dạ-xoa,
Họ
vượt bộc lưu này,
Bộc
lưu thật khó vượt,
Từ
trước chưa vượt qua,
Không
còn phải tái sanh.
IV.
Manibhadda (S.i,208)
1)
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Magadha, tại điện
thờ Manimàlaka, tại một trú xứ của Dạ-xoa Manibhadda.
2)
Rồi Dạ-xoa Manibhadda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên
bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Lành
thay, thường chánh niệm,
Nhờ
niệm, lạc tăng trưởng.
Có
niệm, mai đẹp hơn,
Hận
thù được giải thoát.
3) (Thế
Tôn):
Lành
thay, thường chánh niệm,
Nhờ
niệm, lạc tăng trưởng,
Có
niệm, mai đẹp hơn,
Hận
thù chưa giải thoát.
Với
ai trọn ngày đêm,
Tâm
ý lạc, bất hại,
Từ
tâm mọi hữu tình,
Vị
ấy không thù hận.
V.
Sanu (S.i,209)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông
Anàthapindika.
2)
Lúc bấy giờ, Sànu, con một nữ cư sĩ bị Dạ-xoa ám ảnh.
3)
Nữ cư sĩ ấy than khóc, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
Con
ta là La-hán,
Ðối
với ta là vậy,
Và
chính ta được nghe,
Vị
La-hán nói vậy.
Nay
ta thấy Sànu,
Bị
Dạ-xoa ám ảnh.
Ngày
mười bốn, mười lăm,
Và
ngày tám nửa tháng,
Cả
ngày lễ đặc biệt,
Khéo
tu tám trai giới,
Tuân
trì lễ Bố-tát.
Và
chính ta được nghe,
Vị
La-hán nói vậy,
Nay
ta thấy Sànu,
Bị
Dạ-xoa ám ảnh.
Ngày
mười bốn, mười lăm,
Và
ngày tám nửa tháng,
Cả
ngày lễ đặc biệt,
Khéo
tu tám trai giới,
Tuân
trì lễ Bố-tát.
Những
ai sống Phạm hạnh,
Dạ-xoa
không ám ảnh,
Và
chính ta được nghe,
Vị
La-hán nói vậy.
Người
nói với Sànu,
Có
trí và sáng suốt,
Ðây
là lời Dạ-xoa,
Chớ
có làm điều ác,
Công
khai hay bí mật.
Nếu
người làm điều ác,
Sẽ
làm hay đang làm,
Ông
không thoát khổ đau,
Dầu
có đứng lên chạy,
Chạy
một mạch, chạy dài.
4) (Sànu
được khỏi ám ảnh):
Này
mẹ, người ta khóc,
Là
khóc cho người chết,
Hay
khóc cho người sống,
Nhưng
không được thấy mặt?
Này
mẹ, chúng thấy con,
Hiện
có mặt đang sống.
Vậy
sao mẹ khóc con,
Này
người mẹ (thân yêu)?
5) (Bà
mẹ):
Người
ta khóc cho con,
Là
khóc cho con chết,
Hay
khóc cho con sống,
Nhưng
không được thấy mặt.
Ai
đã bỏ dục vọng,
Lại
trở lui đời này,
Này
con, người ta khóc,
Là
khóc cho người ấy,
Vì
người ấy được xem,
Còn
sống cũng như chết.
Nay
con được kéo ra,
Khỏi
than hừng đỏ rực,
Con
còn muốn rơi vào,
Ðống
than hồng ấy chăng?
Nay
con được thoát ra,
Khỏi
địa ngục (đau khổ),
Con
còn muốn rơi vào,
Cõi
địa ngục ấy chăng?
Hãy
dong ruỗi đời con,
Ta
chúc con hạnh phúc,
Hãy
sống như thế nào,
Không
làm ai bực phiền.
Ðồ
vật thoát lửa cháy,
Con
muốn đốt lại chăng?
VI.
Piyankara (S.i,209)
1)
Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn
ông Anàthapindika.
2)
Lúc bấy giờ Tôn giả Anuruddha thức dậy khi đêm vừa mới
sáng, đang tụng đọc pháp cú.
3)
Một nữ Dạ-xoa, mẹ của Piyankara dỗ cho con nín như sau:
Này
Piyankara,
Chớ
có sanh tiếng động,
Vị
Tỷ-kheo đang tụng,
Những
lời về pháp cú.
Nếu
chúng ta biết được,
Học
được pháp cú này,
Rồi
như pháp hành trì,
Chúng
ta được lợi ích.
Không
sát hại sanh vật,
Không
cố ý nói láo,
Tự
học tập giới luật,
Chúng
ta thoát ngạ quỷ.
VII.
Punabbasu (S.i,209)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông
Anàthapindika.
2)
Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo
về vấn đề liên hệ đến Niết-bàn, tuyên thuyết, khích
lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy
chú tâm, chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp.
3)
Rồi một nữ Dạ-xoa, mẹ Punabbasu dỗ con nín như sau:
Hãy
gìn giữ im lặng,
Này
Uttarika!
Hãy
gìn giữ im lặng,
Này
Punabbasu!
Ðể
mẹ được nghe pháp.
Ðạo
Sư, tối thượng Phật,
Thế
Tôn giảng Niết-bàn,
Thoát
ly mọi triền phược,
Mẹ
đối với pháp ấy,
Thật
cực kỳ ái lạc.
Ðời
ái lạc con mình,
Ðời
ái lạc chồng mình,
Nhưng
đối với đạo pháp,
Mẹ
ái lạc nhiều hơn.
Con
hay chồng dầu thân,
Không
cứu ta thoát khổ,
Không
như nghe diệu pháp,
Chúng
sanh được thoát khổ.
Trong
đau khổ đời sau,
Dính
liền già và chết,
Chánh
pháp Ngài giác ngộ,
Giải
thoát khỏi già chết.
Mẹ
muốn nghe pháp ấy
Hãy
nín đi con ơi!
Này
Punabbasu.
4) (Punabbasu):
Thưa
mẹ, con không nói,
Uttarà
nín lặng.
Mẹ
hãy lắng nghe pháp,
Nghe
pháp được an lạc.
Vì
không biết diệu pháp,
Chúng
ta trôi sanh tử.
Giữa
Nhân, Thiên mù quáng,
Ngài
đem cho ánh sáng,
Giác
ngộ, thân tối hậu,
Bậc
Pháp nhãn thuyết pháp.
5) (Bà
mẹ):
Hữu
trí thay, con ta!
Con
ta sanh ẵm ngực.
Nay
con ta ái lạc,
Tịnh
pháp Vô thượng Phật.
Này
Punabbasu!
Hãy
sống chơn an lạc,
Nay
ta được sống lại,
Thấy
được chơn Thánh đế,
Này
con Uttara!
Hãy
nghe theo lời ta.
VIII.
Sudatta. (S.i,210)
1)
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại rừng Sìta.
2)
Lúc bấy giờ cư sĩ Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) đã đến
Ràjagaha để làm một vài công việc.
3)
Cư sĩ Anàthapindika được nghe đức Phật đã ra đời và muốn
đến yết kiến Thế Tôn.
4)
Rồi cư sĩ Anàthapindika suy nghĩ: "Nay không phải thời để
yết kiến Thế Tôn. Ngày mai mới phải thời ta đến yết
kiến Thế Tôn". Như vậy với ý nghĩ đi yết kiến đức Phật,
ông Anàthapindika nằm ngủ. Trong đêm, ông ấy thức dậy ba
lần, tưởng rằng trời đã sáng.
5)
Rồi cư sĩ Anàthapindika đi đến cửa Sìvatthika (nghĩa địa),
và có những phi nhân mở cửa.
6)
Và khi ông ra khỏi thành phố, ánh sáng biến mất và bóng
tối hiện ra. Ông sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược
và muốn đi trở về.
7)
Rồi Dạ-xoa Sìvaka ẩn hình, lên tiếng như sau:
Trăm
voi và trăm ngựa,
Trăm
xe do ngựa kéo,
Cả
trăm ngàn thiếu nữ,
Ðược
trang sức bông tai,
Không
bằng phần mười sáu,
Một
bước đi tới này.
Cư
sĩ, hãy tiến tới!
Cư
sĩ, hãy tiến tới!
Tiến
tới, tốt đẹp hơn,
Chớ
có lui, thối bước!
8) Rồi
với Anàthapindika, tối tăm biến mất, ánh sáng hiện ra. Và
sợ hãi, hốt hoảng, lông tóc dựng ngược đã khởi lên được
dịu hẳn xuống.
9)
Lần thứ hai... (như trên)...
10)
Lần thứ ba, với Anàthapindika, ánh sáng biến mất, bóng tối
hiện ra. Và sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược khởi
lên. Và Anàthapindika muốn trở lui. Lần thứ ba, Dạ-xoa Sìvaka
ẩn hình lên tiếng như sau :
Trăm
voi và trăm ngựa,
Trăm
xe do ngựa kéo,
Cả
trăm ngàn thiếu nữ,
Ðược
trang sức bông tai,
Không
bằng phần mười sáu,
Một
bước đi tới này.
Cư
sĩ, hãy tiến tới!
Cư
sĩ, hãy tiến tới!
Tiến
tới, tốt đẹp hơn,
Chớ
có lui, thối bước!
11) Rồi
với Anàthapindika, bóng tối biến mất, ánh sáng hiện ra và
sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược đã khởi lên được
dịu bớt.
12)
Rồi Anàthapindika đi đến rừng Sìta, đi đến Thế Tôn.
13)
Lúc bấy giờ Thế Tôn thức dậy vào lúc đêm vừa mãn và
đang đi kinh hành ngoài trời.
14)
Thế Tôn thấy Anàthapindika từ xa đi đến, khi thấy vậy,
từ chỗ kinh hành đi xuống, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với cư sĩ Anàthapindika:
--
Hãy đến đây, Sudatta!
15)
Rồi cư sĩ Anàthapindika nghĩ: "Thế Tôn kêu tên ta", rồi cúi
đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ngủ có an lạc chăng?
(Thế
Tôn):
Bà-la-môn
tịch tịnh,
Luôn
luôn sống an lạc,
Không
đèo bồng dục vọng,
Thanh
lương, không sanh y,
Mọi
ái trước đoạn diệt,
Tâm
khổ não điều phục,
Tịch
tịnh, sống an lạc,
Tâm
tư đạt hòa bình.
IX.
Sukkà (S.i,212)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana
(Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2)
Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo-ni Sukkà, có đại chúng đoanh vây, đang
thuyết pháp.
3)
Rồi một Dạ-xoa có lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Sukkà,
đi từ đường xe này đến đường xe khác, đi từ ngã tư
này đến ngã tư khác ở Ràjagaha, và ngay lúc ấy, nói lên
những bài kệ này:
Này
người Vương Xá thành,
Các
Người đã làm gì,
Mà
nay lại nằm dài,
Như
say vì rượu ngọt.
Không
hầu hạ Sukkà,
Ðang
thuyết pháp bất tử?
Pháp
ấy không trở lui,
Cam
lồ không lưng vơi.
Ta
nghĩ người trí tuệ
Uống
nước (cam lồ) ấy,
Chẳng
khác một đám mưa,
Ðối
với kẻ lữ hành.
X.
Sukkà (S.i,212)
1)
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng
các con sóc.
2)
Lúc bấy giờ, một người cư sĩ đang cúng dường đồ ăn
cho Tỷ-kheo-ni Sukkà.
3)
Rồi một Dạ-xoa, khởi lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni
Sukkà, liền đi từ đường xe này đến đường xe khác, đi
từ ngã ba này ba khác ở Ràjagaha, ngay lúc ấy nói lên bài
kệ này:
Cư
sĩ có trí này,
Chắc
hưởng nhiều công đức,
Ðã
cúng dường món ăn,
Dâng
cúng lên Sukkà,
Một
vị đã giải thoát,
Tất
cả mọi triền phược.
XI.
Cirà hay Virà (S.i,215)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Ràagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc
Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2)
Lúc bấy giờ, một cư sĩ dâng y cúng dường Tỷ-kheo-ni Cirà.
3)
Rồi một Dạ-xoa, khởi lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni
Cirà, liền đi từ đường xe này đến đường xe khác, từ
ngã ba này đến ngã ba khác tại thành Vương Xá, ngay lúc ấy
nói lên bài kệ này:
Cư
sĩ có trí này,
Chắc
hưởng nhiều công đức,
Ðã
cúng dường tấm y,
Dâng
cúng lên Cirà,
Một
vị đã giải thoát,
Tất
cả mọi khổ ách.
XII.
Alava (S.i,218)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở €lavi, tại trú xứ của Dạ-xoa
Alavakka.
2)
Rồi Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:
--
Này Sa-môn, hãy đi ra!
--
Lành thay, Hiền giả.
Thế
Tôn nói và đi ra.
--
Này Sa-môn, hãy đi vào.
--
Lành thay, Hiền giả.
Thế
Tôn nói và đi vào.
3)
Lần thứ hai, Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:
--
Này Sa-môn, hãy đi ra.
--
Lành thay, Hiền giả.
Thế
Tôn nói và đi ra.
--
Này Sa-môn, hãy đi vào.
--
Lành thay, Hiền giả.
Thế
Tôn nói và đi vào.
4)
Lần thứ ba, Dạ-xoa Alavika nói với Thế Tôn:
--
Này Sa-môn, hãy đi ra.
--
Lành thay, Hiền giả.
Thế
Tôn nói và đi ra.
--
Này Sa-môn, hãy đi vào.
--
Lành thay, Hiền giả.
Thế
Tôn nói và đi vào.
5)
Lần thứ tư, Dạ-xoa Alavika nói với Thế Tôn:
--
Này Sa-môn, hãy đi ra.
6)
-- Này Hiền giả, Ta không đi ra. Hãy làm gì Ông nghĩ là phải
làm.
7)
-- Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ông một câu hỏi. Nếu Ông không
trả lời ta được, ta sẽ làm tâm Ông điên loạn, hay ta làm
Ông bể tim, hay nắm lấy chân, ta sẽ quăng Ông qua bờ bên
kia sông Hằng.
8)
-- Này Hiền giả, Ta không thấy một ai, ở thế giới chư
Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn,
với chư Thiên và loài Người có thể làm tâm Ta điên loạn,
hay làm bể tim Ta hay nắm lấy chân, quăng Ta qua bờ bên kia
sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, hãy hỏi đi như Ông muốn.
9)
(Dạ-xoa):
Cái
gì đối người đời,
Là
tài sản tối thượng?
Cái
gì khéo hành trì,
Ðem
lại chơn an lạc?
Cái
gì giữa các vị,
Là
vị ngọt tối thượng?
Phải
sống như thế nào,
Ðược
gọi sống tối thượng?
10) (Thế
Tôn):
Lòng
tin đối người đời,
Là
tài sản tối thượng.
Chánh
pháp khéo hành trì,
Ðem
lại chơn an lạc.
Chân
lý giữa các vị,
Là
vị ngọt tối thượng.
Phải
sống với trí tuệ,
Ðược
gọi sống tối thượng.
11) (Dạ-xoa):
Làm
sao vượt bộc lưu?
Làm
sao vượt biển lớn?
Làm
sao siêu khổ não?
Làm
sao được thanh tịnh?
12) (Thế
Tôn):
Với
tín, vượt bộc lưu.
Không
phóng dật, vượt biển.
Tinh
tấn, siêu khổ não.
Với
Trí, được thanh tịnh.
13) (Dạ-xoa):
Làm
sao được trí tuệ?
Làm
sao được tài sản?
Làm
sao đạt danh xưng?
Làm
sao kết bạn hữu?
Ðời
này qua đời khác,
Làm
sao không sầu khổ?
14) (Thế
Tôn):
Ai
tin tưởng Chánh pháp
Của
bậc A-la-hán,
Pháp
ấy khiến đạt được,
Niết-bàn
(chơn an lạc),
Khéo
học, không phóng dật,
Minh
nhãn khéo phân biệt,
Nhờ
hành trì như vậy,
Vị
ấy được trí tuệ.
Làm
gì khéo thích hợp,
Gánh
vác các trách nhiệm,
Phấn
chấn, thích hoạt động,
Như
vậy được tài sản,
Chơn
thật đạt danh xưng,
Bố
thí kết bạn hữu,
Ðời
này qua đời khác,
Như
vậy không sầu khổ.
Tín
nam gia chủ nào,
Tìm
cầu bốn pháp này,
Chơn
thực và chế ngự,
Kiên
trì và xả thí,
Vị
ấy sau khi chết,
Không
còn phải sầu khổ.
Ðời
này qua đời khác,
Sau
chết, không sầu khổ.
Ta
muốn Ông đến hỏi,
Sa-môn,
Bà-la-môn,
Có
những pháp nào khác,
Tốt
hơn bốn pháp này:
Chơn
thực và chế ngự,
Xả
thí và kham nhẫn.
15) (Dạ-xoa):
Làm
sao nay ta hỏi,
Sa-môn,
Bà-la-môn,
Khi
nay ta được biết,
Nguyên
nhân của đời sau.
Phật
đến Alavi,
Thật
lợi ích cho ta.
Nay
ta được biết rõ,
Cho
gì được quả lớn.
Nên
ta sẽ bộ hành,
Làng
này qua làng khác,
Thành
này qua thành khác,
Ðảnh
lễ Phật Chánh Giác,
Cùng
đảnh lễ Chánh pháp,
Các
vị chứng Pháp tánh.

|